Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khép lại tuần cuối tháng 5, diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (26 - 30/5) cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng lên đỉnh lịch sử 24.978 VND/USD, tỷ giá bán USD của một số ngân hàng cũng ở mức cao chưa từng có. Trong bối cảnh đó, nhà điều hành hút ròng 21.412,14 tỷ đồng tháng qua, thị trường vẫn chịu sức ép khi dự kiến nhu cầu ngoại tệ tăng trong tháng 6.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Ngày 30/5, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm 16 đồng so với phiên trước, lên mức 24.978 VND/USD, đạt đỉnh lịch sử. Với biên độ 5%, tỷ giá trần và sàn áp dụng lần lượt là 26.226 VND/USD và 23.729 VND/USD. Trong khi đó, tại Sở Giao dịch NHNN, tỷ giá tham khảo hiện ở mức 23.780 VND/USD (mua vào) và 26.176 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá USD giữ đỉnh tại ngân hàng, chợ đen hạ nhiệt nhẹ

Tuy nhiên, tại các ngân hàng thương mại, chốt phiên ngày 30/5, tỷ giá ngoại tệ ghi nhận xu hướng ít biến động hơn so với phiên trước. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.810 - 26.200 VND/USD, không đổi so với phiên trước. VietinBank niêm yết ở mức 25.840 - 26.200 VND/USD, giảm 10 đồng cả hai chiều so với phiên trước.

Cùng chung xu hướng, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng USD giao dịch ở mức 26.260 - 26.360 VND/USD, giữ nguyên so với ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng
Biến động tỷ giá USD/VND tháng 5. Ảnh: T.L.

Tỷ giá trung tâm và tại ngân hàng lại lên đỉnh

Trong tuần cuối tháng 5/2025, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố tiếp tục tăng, khép tuần ở mức 24.978 VND/USD, mức cao nhất trong lịch sử, tương ứng tăng 18 đồng so với cuối tuần trước và tăng 22 đồng trong tháng 5. Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra USD giữ ổn định ở mức 26.200 VND/USD hai phiên cuối tuần, nhưng tăng tổng cộng 70 đồng so với cuối tuần trước và ở mức cao nhất từ trước đến nay. Ở chiều ngược lại, tỷ giá tự do bán ra lại có xu hướng giảm nhẹ, kết tuần ở mức 26.360 VND/USD, giảm 20 đồng so với cuối tuần trước.

Về xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ tại các nhà băng, tuần qua, tại Vietcombank, giá bán ra USD tăng tới 70 đồng lên 26.200 VND/USD do các phiên giữa tuần đều duy trì đà tăng. Tại BIDV, tỷ giá bán USD cũng tăng 65 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước.

Về tỷ giá EUR, tại Vietcombank, tỷ giá bán EUR tăng mạnh 154 đồng so với cuối tuần trước lên 30.323,98 VND/EUR (chiều bán) và 28.748,79 VND/EUR (chiều mua), nhưng vẫn thấp hơn so với cuối tháng 4 (28.797,25 - 30.445,31 VND/EUR). Tương tự, tỷ giá bán EUR tại BIDV tăng mạnh hơn 147 đồng, song vẫn thấp hơn cuối tháng 4 là 30.417 VND/EUR.

Về tỷ giá bảng Anh (GBP), tại Vietcombank tỷ giá bán ra GBP giảm 188 VND/GBP, song tăng 23 VND/GBP so với cuối tháng trước. Trái lại, tại BIDV, tỷ giá GBP niêm yết ở mức 34.618 - 35.634 VND/GBP, tăng 181 đồng chiều bán ra so với cuối tuần trước và 221 đồng so với cuối tháng trước.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, từng tăng vượt mốc 100 điểm, nhưng sau khi Tòa án Liên bang Mỹ hủy bỏ kế hoạch áp thuế mà Tổng thống Trump áp dụng trước đó đối với Trung Quốc, Mexico và Canada, chỉ số DXY suy giảm và hiện giao dịch ở mức 99,5 điểm. Giới phân tích dự báo, nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng nhanh hơn vào nửa cuối năm 2025, với tốc độ hàng năm là 2%, tăng từ mức 1,5% mà họ đã dự báo, nếu không có gánh nặng của thuế quan.

Khởi đầu tháng 5, chỉ số DXY ở mức 99,5 điểm và trong suốt 1 tháng, DXY biến động biên độ hẹp từ 98,7 - 102 điểm. Hầu hết các đồng tiền chính đều hưởng lợi từ sự sụt giảm của đồng USD.

Diễn biến lạ khi VND giảm cùng USD, lãi suất qua đêm rơi sâu

Theo nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), mc dù ch s DXY đã gim mnh 9,7% t đnh năm 2025, t giá USD/VND liên ngân hàng vn duy trì ngưng cao. Một phần do trong bi cnh tình hình thương mi đi mt vi nhiu bt n liên quan đến các chính sách thuế quan khó đoán đnh t phía M, nhu cu ngoi t ca các doanh nghip thưng có xu hưng tăng.

Còn theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán Guotai Junan, tháng 6 là tháng cao điểm của nhập khẩu và thanh toán quốc tế để phục vụ nhu cầu sản xuất; đồng thời, tỷ giá thường biến động tăng mạnh (VND mất giá) trong tháng này.

Cùng với đó, hiện tại dự trữ ngoại hối Việt Nam ước vào khoảng 80 - 83 tỷ USD, vào khoảng hơn 11 tuần nhập khẩu vào thấp hơn 1 chút so với khuyến nghị của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Dự trữ ngoại hối đã giữ ở mức này từ 2023 sau khi NHNN can thiệp để ổn định thị trường vào cuối 2022.

"Do đó, sự dịch chuyển của tỷ giá USD/VND cần phải được theo dõi kỹ khi VND suy yếu cùng chiều với USD, trong khi lịch sử khi USD suy yếu thì VND có xu hướng mạnh lên. Chúng tôi vẫn đang giữ nguyên dự báo tỷ giá VND có thể mất giá từ 3-5% trong năm 2025" - nhóm phân tích nhìn nhận.

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 26-30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng kết tháng. Ảnh: T.L.

Tại thị trường mở (OMO), NHNN tích cực điều tiết thanh khoản. Phiên ngày 30/5, có 1.248,24 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày; NHNN không chào thầu tín phiếu; tương ứng NHNN bơm ròng 1.248,24 tỷ đồng cho thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở. Có 49.962,05 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

NHNN hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng tháng 5

Trên thị trường mở tháng qua, ở kênh cầm cố, có 100.964,1 tỷ đồng trúng thầu; có 122.376,24 tỷ đồng đáo hạn tháng qua. NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN. Tính chung nhà điều hành hút ròng 21.412,14 tỷ đồng từ thị trường trong tháng qua bằng kênh thị trường mở trong bối cảnh áp lực tỷ giá chịu nhiều sức ép.

Tính chung tuần qua, NHNN bơm ròng 5.060,55 tỷ đồng thông qua việc cung ứng thanh khoản 19.518,68 tỷ đồng cho thị trường thông qua kênh OMO; trong khi đó, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 14.458,13 tỷ đồng.

Ngày 29/5/2025, lãi suất liên ngân hàng giảm đáng kể tại các kỳ hạn so với phiên trước sau hai phiên tăng giữa tuần. Còn so với cuối tuần trước, lãi suất qua đêm giảm mạnh 27 điểm cơ bản xuống 3,65%, phản ánh thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống dồi dào hơn.

Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giữ nguyên ở mức 4%, trong khi kỳ hạn 2 tuần giảm nhẹ 1 điểm về 4,17%. Ở chiều ngược lại, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng 8 điểm cơ bản lên 4,49%; kỳ hạn 3 tháng tăng mạnh nhất, thêm 35 điểm lên 4,67%. Diễn biến này cho thấy sự phân hóa rõ rệt áp lực vốn ngắn hạn đang hạ nhiệt, nhưng nhu cầu và kỳ vọng chi phí vốn trung dài hạn lại tăng.

Còn so với đầu tháng 5, lãi suất qua đêm giảm 48 điểm cơ bản; kỳ hạn 1 tuần giảm 38 điểm cơ bản; 2 tuần giảm 24 điểm cơ bản; 1 tháng giảm 5 điểm cơ bản. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng 13 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80