Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khép lại tuần cuối tháng 5, diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (26 - 30/5) cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng lên đỉnh lịch sử 24.978 VND/USD, tỷ giá bán USD của một số ngân hàng cũng ở mức cao chưa từng có. Trong bối cảnh đó, nhà điều hành hút ròng 21.412,14 tỷ đồng tháng qua, thị trường vẫn chịu sức ép khi dự kiến nhu cầu ngoại tệ tăng trong tháng 6.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 19-23/5: Tỷ giá USD tự do hạ nhiệt, nhiều đồng tiền bật tăng vì USD mất đà

Thị trường tiền tệ tuần 12-16/5: Tỷ giá giữ nhịp, thị trường thận trọng trước ẩn số

Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều

Ngày 30/5, Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm 16 đồng so với phiên trước, lên mức 24.978 VND/USD, đạt đỉnh lịch sử. Với biên độ 5%, tỷ giá trần và sàn áp dụng lần lượt là 26.226 VND/USD và 23.729 VND/USD. Trong khi đó, tại Sở Giao dịch NHNN, tỷ giá tham khảo hiện ở mức 23.780 VND/USD (mua vào) và 26.176 VND/USD (bán ra).

Tỷ giá USD giữ đỉnh tại ngân hàng, chợ đen hạ nhiệt nhẹ

Tuy nhiên, tại các ngân hàng thương mại, chốt phiên ngày 30/5, tỷ giá ngoại tệ ghi nhận xu hướng ít biến động hơn so với phiên trước. Đơn cử, Vietcombank niêm yết tỷ giá USD ở mức 25.810 - 26.200 VND/USD, không đổi so với phiên trước. VietinBank niêm yết ở mức 25.840 - 26.200 VND/USD, giảm 10 đồng cả hai chiều so với phiên trước.

Cùng chung xu hướng, trên thị trường chợ đen, tỷ giá đồng USD giao dịch ở mức 26.260 - 26.360 VND/USD, giữ nguyên so với ngày hôm qua.

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng
Biến động tỷ giá USD/VND tháng 5. Ảnh: T.L.

Tỷ giá trung tâm và tại ngân hàng lại lên đỉnh

Trong tuần cuối tháng 5/2025, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố tiếp tục tăng, khép tuần ở mức 24.978 VND/USD, mức cao nhất trong lịch sử, tương ứng tăng 18 đồng so với cuối tuần trước và tăng 22 đồng trong tháng 5. Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra USD giữ ổn định ở mức 26.200 VND/USD hai phiên cuối tuần, nhưng tăng tổng cộng 70 đồng so với cuối tuần trước và ở mức cao nhất từ trước đến nay. Ở chiều ngược lại, tỷ giá tự do bán ra lại có xu hướng giảm nhẹ, kết tuần ở mức 26.360 VND/USD, giảm 20 đồng so với cuối tuần trước.

Về xu hướng biến động tỷ giá ngoại tệ tại các nhà băng, tuần qua, tại Vietcombank, giá bán ra USD tăng tới 70 đồng lên 26.200 VND/USD do các phiên giữa tuần đều duy trì đà tăng. Tại BIDV, tỷ giá bán USD cũng tăng 65 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước.

Về tỷ giá EUR, tại Vietcombank, tỷ giá bán EUR tăng mạnh 154 đồng so với cuối tuần trước lên 30.323,98 VND/EUR (chiều bán) và 28.748,79 VND/EUR (chiều mua), nhưng vẫn thấp hơn so với cuối tháng 4 (28.797,25 - 30.445,31 VND/EUR). Tương tự, tỷ giá bán EUR tại BIDV tăng mạnh hơn 147 đồng, song vẫn thấp hơn cuối tháng 4 là 30.417 VND/EUR.

Về tỷ giá bảng Anh (GBP), tại Vietcombank tỷ giá bán ra GBP giảm 188 VND/GBP, song tăng 23 VND/GBP so với cuối tháng trước. Trái lại, tại BIDV, tỷ giá GBP niêm yết ở mức 34.618 - 35.634 VND/GBP, tăng 181 đồng chiều bán ra so với cuối tuần trước và 221 đồng so với cuối tháng trước.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ tiền tệ chủ chốt, từng tăng vượt mốc 100 điểm, nhưng sau khi Tòa án Liên bang Mỹ hủy bỏ kế hoạch áp thuế mà Tổng thống Trump áp dụng trước đó đối với Trung Quốc, Mexico và Canada, chỉ số DXY suy giảm và hiện giao dịch ở mức 99,5 điểm. Giới phân tích dự báo, nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng nhanh hơn vào nửa cuối năm 2025, với tốc độ hàng năm là 2%, tăng từ mức 1,5% mà họ đã dự báo, nếu không có gánh nặng của thuế quan.

Khởi đầu tháng 5, chỉ số DXY ở mức 99,5 điểm và trong suốt 1 tháng, DXY biến động biên độ hẹp từ 98,7 - 102 điểm. Hầu hết các đồng tiền chính đều hưởng lợi từ sự sụt giảm của đồng USD.

Diễn biến lạ khi VND giảm cùng USD, lãi suất qua đêm rơi sâu

Theo nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), mc dù ch s DXY đã gim mnh 9,7% t đnh năm 2025, t giá USD/VND liên ngân hàng vn duy trì ngưng cao. Một phần do trong bi cnh tình hình thương mi đi mt vi nhiu bt n liên quan đến các chính sách thuế quan khó đoán đnh t phía M, nhu cu ngoi t ca các doanh nghip thưng có xu hưng tăng.

Còn theo nhận định của Công ty cổ phần Chứng khoán Guotai Junan, tháng 6 là tháng cao điểm của nhập khẩu và thanh toán quốc tế để phục vụ nhu cầu sản xuất; đồng thời, tỷ giá thường biến động tăng mạnh (VND mất giá) trong tháng này.

Cùng với đó, hiện tại dự trữ ngoại hối Việt Nam ước vào khoảng 80 - 83 tỷ USD, vào khoảng hơn 11 tuần nhập khẩu vào thấp hơn 1 chút so với khuyến nghị của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Dự trữ ngoại hối đã giữ ở mức này từ 2023 sau khi NHNN can thiệp để ổn định thị trường vào cuối 2022.

"Do đó, sự dịch chuyển của tỷ giá USD/VND cần phải được theo dõi kỹ khi VND suy yếu cùng chiều với USD, trong khi lịch sử khi USD suy yếu thì VND có xu hướng mạnh lên. Chúng tôi vẫn đang giữ nguyên dự báo tỷ giá VND có thể mất giá từ 3-5% trong năm 2025" - nhóm phân tích nhìn nhận.

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 26-30/5: Tỷ giá chạm đỉnh, nhà điều hành hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng kết tháng. Ảnh: T.L.

Tại thị trường mở (OMO), NHNN tích cực điều tiết thanh khoản. Phiên ngày 30/5, có 1.248,24 tỷ đồng trúng thầu ở kỳ hạn 7 ngày; NHNN không chào thầu tín phiếu; tương ứng NHNN bơm ròng 1.248,24 tỷ đồng cho thị trường qua nghiệp vụ thị trường mở. Có 49.962,05 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố.

NHNN hút ròng hơn 21.000 tỷ đồng tháng 5

Trên thị trường mở tháng qua, ở kênh cầm cố, có 100.964,1 tỷ đồng trúng thầu; có 122.376,24 tỷ đồng đáo hạn tháng qua. NHNN tiếp tục không chào thầu tín phiếu NHNN. Tính chung nhà điều hành hút ròng 21.412,14 tỷ đồng từ thị trường trong tháng qua bằng kênh thị trường mở trong bối cảnh áp lực tỷ giá chịu nhiều sức ép.

Tính chung tuần qua, NHNN bơm ròng 5.060,55 tỷ đồng thông qua việc cung ứng thanh khoản 19.518,68 tỷ đồng cho thị trường thông qua kênh OMO; trong khi đó, khối lượng các khoản vay cầm cố đáo hạn là 14.458,13 tỷ đồng.

Ngày 29/5/2025, lãi suất liên ngân hàng giảm đáng kể tại các kỳ hạn so với phiên trước sau hai phiên tăng giữa tuần. Còn so với cuối tuần trước, lãi suất qua đêm giảm mạnh 27 điểm cơ bản xuống 3,65%, phản ánh thanh khoản ngắn hạn trong hệ thống dồi dào hơn.

Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giữ nguyên ở mức 4%, trong khi kỳ hạn 2 tuần giảm nhẹ 1 điểm về 4,17%. Ở chiều ngược lại, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng 8 điểm cơ bản lên 4,49%; kỳ hạn 3 tháng tăng mạnh nhất, thêm 35 điểm lên 4,67%. Diễn biến này cho thấy sự phân hóa rõ rệt áp lực vốn ngắn hạn đang hạ nhiệt, nhưng nhu cầu và kỳ vọng chi phí vốn trung dài hạn lại tăng.

Còn so với đầu tháng 5, lãi suất qua đêm giảm 48 điểm cơ bản; kỳ hạn 1 tuần giảm 38 điểm cơ bản; 2 tuần giảm 24 điểm cơ bản; 1 tháng giảm 5 điểm cơ bản. Riêng kỳ hạn 3 tháng tăng 13 điểm cơ bản./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

(TBTCO) - Ngân hàng NCB báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 726,7 tỷ đồng, tăng 57% cùng kỳ, trong đó quý II lập kỷ lục với hơn 510 tỷ đồng. Cùng kết quả kinh doanh khởi sắc, tín dụng tăng 37% đưa dư nợ cho vay khách hàng lên hơn 133.500 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, đưa ngân hàng tiến gần mục tiêu hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Hà Nội - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Miền Tây - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,900 ▲200K 141,800 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,790 ▲20K 14,190 ▲20K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,380 ▲20K 14,080 ▲20K
Trang sức 99.99 13,390 ▲20K 14,090 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,379 ▲2K 14,192 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,379 ▲2K 14,193 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▲2K 1,414 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▲2K 1,415 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,344 ▲2K 1,394 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,102 ▼117720K 13,802 ▼124020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,491 ▲15K 10,471 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,151 ▲136K 94,951 ▲136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,393 ▲67866K 85,193 ▲76686K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,628 ▲116K 81,428 ▲116K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,486 ▲84K 58,286 ▲84K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,379 ▲2K 1,419 ▲2K
Cập nhật: 31/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17956 18230 18806
CAD 18224 18500 19118
CHF 31888 32269 32912
CNY 0 3853 3946
EUR 29622 29844 30923
GBP 34554 34946 35892
HKD 0 3221 3424
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15136 15724
SGD 19953 20236 20804
THB 702 765 819
USD (1,2) 26024 0 0
USD (5,10,20) 26065 0 0
USD (50,100) 26094 26103 26469
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26080 26080 26480
AUD 18125 18225 19150
CAD 18396 18496 19512
CHF 32162 32192 33770
CNY 3835.6 3860.6 3996.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29808 29838 31561
GBP 34844 34894 36655
HKD 0 3355 0
JPY 160.2 160.7 171.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15221 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20103 20233 20958
THB 0 732.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,500
USD20 26,050 26,150 26,554
USD1 26,000 26,150 26,604
AUD 18,149 18,249 19,368
EUR 29,597 29,697 31,366
CAD 18,340 18,440 19,754
SGD 20,161 20,311 20,877
JPY 160.58 162.08 167.68
GBP 34,738 34,888 36,059
XAU 13,768,000 0 14,172,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80