Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, đánh dấu tuần thứ ba liên tiếp hút ròng với tổng quy mô hơn 110.592 tỷ đồng khi áp lực thanh khoản tạm lắng, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 2,8%, trong khi tỷ giá USD hạ nhiệt ở kênh chính thức.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/1: Hút ròng mạnh 30.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng "hạ sốt" Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản

Lãi suất liên ngân hàng "tạm lắng", áp lực trở lại khi tín dụng tăng tốc

Trong tuần qua từ ngày 19/1 đến ngày 23/1, diễn biến thị trường mở (OMO) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng linh hoạt, ưu tiên hút ròng thanh khoản, song có những phiên bơm hỗ trợ ngắn hạn để làm dịu áp lực cục bộ trong hệ thống.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Ở chiều bơm tiền qua kênh OMO, ngày 23/1, khối lượng phát hành tăng vọt lên 11.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với các phiên trước đó, dao động quanh 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Đồng thời, chỉ duy nhất ngày 23/1 ghi nhận bơm ròng 5.000 tỷ đồng, cho thấy động thái hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn vào cuối tuần, khi nhu cầu cân đối vốn của các ngân hàng thương mại thường tăng lên. Ngược lại, 4 phiên còn lại trong tuần đều hút ròng mạnh.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp tuần thứ 3 hút ròng tổng cộng 110.592,12 tỷ đồng, cho thấy định hướng điều hành nghiêng mạnh về thu hẹp thanh khoản ngắn hạn, thay vì duy trì trạng thái nới lỏng.

Tính chung tuần qua, có 17.591 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7 ngày và 56 ngày, lãi suất 4,5%.

Ở chiều ngược lại, có tới 58.116 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm sâu lượng vốn OMO lưu hành xuống còn 274.522,94 tỷ đồng, giảm đáng kể so với mức 410 nghìn tỷ đồng ghi nhận ngày 31/12/2025.

Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã bơm thanh khoản thận trọng vào hệ thống ngân hàng thông qua kênh hoạt động thị trường mở; đồng thời nâng lãi suất OMO (một trong ba mức lãi suất điều hành chủ chốt của Việt Nam) thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5%. Ngân hàng Nhà nước cũng sử dụng các công cụ điều hành linh hoạt như hợp đồng kỳ hạn có thể hủy ngang và hợp đồng hoán đổi kỳ hạn 14 ngày nhằm ổn định tâm lý thị trường.

Việc hút ròng quy mô lớn diễn ra song song với bối cảnh lãi suất liên ngân hàng có xu hướng hạ nhiệt và tỷ giá USD/VND chịu áp lực nhất định, cho thấy mục tiêu điều hành vẫn ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát kỳ vọng thị trường.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1:

Trong tuần 19 - 23/1, lãi suất liên ngân hàng biến động phân hóa theo kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn ngắn, lãi suất giảm khá mạnh khi lãi suất qua đêm (ON) giảm 0,98 điểm phần trăm so với tuần trước, xuống quanh 2,8%. Tuy nhiên, doanh số cho vay qua đêm có dấu hiệu tăng trở lại quanh 800 nghìn tỷ đồng/phiên, sau khi giảm mạnh xuống còn 500 nghìn tỷ đồng khoảng đầu tháng 1/2026.

Cùng với đó, kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng lần lượt giảm 0,33 và 0,10 điểm phần trăm, xuống còn 3,92% và 4,81%, phản ánh thanh khoản trong hệ thống được cải thiện.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn chịu áp lực tăng. Lãi suất 1 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 6,78%, trong khi 3 tháng nhích thêm 0,14 điểm phần trăm, lên quanh 7,4%.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, sau công bố định hướng điều hành tín dụng 2026 từ Ngân hàng Nhà nước, nhìn chung lãi suất huy động trên thị trường 1 cũng trở nên ổn định hơn. Mặc dù vẫn có một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong tuần vừa rồi, cũng có một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động, qua đó lãi suất huy động bình quân tăng không đáng kể, khoảng 1,8 điểm cơ bản so với tuần trước đó.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang với biên độ dao động hẹp, khi tín dụng đầu năm chưa tăng tốc và Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì điều hành thận trọng. Áp lực tăng lãi suất có thể quay trở lại nếu tín dụng tăng nhanh hơn dự kiến hoặc mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 xuất hiện điều chỉnh mới" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt, EUR và GBP bật tăng

Ngày 23/1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.125 VND/USD, giữ nguyên so với phiên liền trước, các ngân hàng giao dịch tỷ giá USD trong khoảng 23.868,75 - 26.382.25 (tỷ giá sàn - tỷ giá trần). Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được niêm yết trong biên độ 23.919 - 26.331 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tính chung cả tuần, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 6 đồng, cho thấy nhà điều hành tiếp tục giữ quan điểm ổn định, không tạo tín hiệu nới hay siết mạnh. Trong khi đó, thị trường tự do có biến động mạnh hơn nhưng theo chiều hạ nhiệt rõ rệt. Ngược lại, giá USD tự do tăng tới 400 đồng so với tuần trước, lên 26.650 - 26.700 VND/USD.

Biến động tỷ giá tại Vietcombank và BIDV cho thấy, với USD, áp lực lên USD trong nước đã hạ nhiệt, phù hợp với xu hướng suy yếu nhẹ của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

Tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.031 - 26.381 VND/USD, lần lượt giảm 26 đồng ở chiều mua và giảm 6 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, khi tỷ giá USD ở mức 26.081 - 26.381 đồng/USD, giảm 6 đồng ở cả hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt trải qua một tuần giảm điểm còn 98,34 điểm.

Thị trường tài chính vừa trải qua một đợt rung lắc mạnh sau những tuyên bố gây tranh cãi của Tổng thống Donald Trump về việc kiểm soát Greenland. Ban đầu, lời đe dọa áp thuế lên các quốc gia đồng minh phản đối tham vọng này đã kích hoạt làn sóng bán tháo tài sản Mỹ, khiến đồng USD sụt giảm. Tuy nhiên, tình hình đã hạ nhiệt sau khi ông Trump rút lại các đe dọa về thuế quan và phương án quân sự. Sự xoay chuyển này giúp các đồng tiền nhạy cảm với rủi ro như Euro và Bảng Anh ổn định trở lại, chấm dứt đợt phục hồi ngắn hạn của đồng bạc xanh.

Với các ngoại tệ khác như EUR, cả hai ngân hàng đều điều chỉnh tăng khá mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR đạt 30.022 - 31.605 VND/EUR, tăng khoảng 319 đồng chiều mua và 336 đồng chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV ghi nhận mức tăng tương đương, với tỷ giá 30.377 - 31.657 VND/EUR, tăng 314 đồng chiều mua và 335 đồng chiều bán.

Với GBP, xu hướng tăng cũng khá rõ rệt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP lên 34.502 - 35.967 VND/GBP, tăng lần lượt 278 đồng và 290 đồng so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, đưa tỷ giá GBP lên 34.969 - 35.989 VND/GBP./.

Theo dự báo của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, trong ngắn hạn, tỷ giá được dự báo tiếp tục giảm nhẹ, dao động quanh mức 26.200 - 26.300 VND/USD, chủ yếu nhờ hai yếu tố hỗ trợ.

Một là, chênh lệch lãi suất liên ngân hàng tiền VNĐ và USD được duy trì ở mức hợp lý sẽ giúp không gây áp lực lên tỷ giá. Hai là, yếu tố mùa vụ khi dòng tiền ngoại hối có xu hướng chảy mạnh hơn vào Việt Nam thời điểm cận Tết Nguyên đán.

"Chúng tôi giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND bình quân năm 2026 sẽ bớt chịu áp lực hơn, với kỳ vọng Việt Nam có thể thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài sau khi chính thức được nâng hạng thị trường" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.112 đồng sau kỳ nghỉ lễ, tỷ giá USD tự do lùi 60 đồng. DXY đầu tuần quanh 98,17 điểm, trong bối cảnh USD chịu áp lực trước khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá, tuần này, thị trường tập trung vào đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80