Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, đánh dấu tuần thứ ba liên tiếp hút ròng với tổng quy mô hơn 110.592 tỷ đồng khi áp lực thanh khoản tạm lắng, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 2,8%, trong khi tỷ giá USD hạ nhiệt ở kênh chính thức.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/1: Hút ròng mạnh 30.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng "hạ sốt" Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản

Lãi suất liên ngân hàng "tạm lắng", áp lực trở lại khi tín dụng tăng tốc

Trong tuần qua từ ngày 19/1 đến ngày 23/1, diễn biến thị trường mở (OMO) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng linh hoạt, ưu tiên hút ròng thanh khoản, song có những phiên bơm hỗ trợ ngắn hạn để làm dịu áp lực cục bộ trong hệ thống.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Ở chiều bơm tiền qua kênh OMO, ngày 23/1, khối lượng phát hành tăng vọt lên 11.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với các phiên trước đó, dao động quanh 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Đồng thời, chỉ duy nhất ngày 23/1 ghi nhận bơm ròng 5.000 tỷ đồng, cho thấy động thái hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn vào cuối tuần, khi nhu cầu cân đối vốn của các ngân hàng thương mại thường tăng lên. Ngược lại, 4 phiên còn lại trong tuần đều hút ròng mạnh.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp tuần thứ 3 hút ròng tổng cộng 110.592,12 tỷ đồng, cho thấy định hướng điều hành nghiêng mạnh về thu hẹp thanh khoản ngắn hạn, thay vì duy trì trạng thái nới lỏng.

Tính chung tuần qua, có 17.591 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7 ngày và 56 ngày, lãi suất 4,5%.

Ở chiều ngược lại, có tới 58.116 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm sâu lượng vốn OMO lưu hành xuống còn 274.522,94 tỷ đồng, giảm đáng kể so với mức 410 nghìn tỷ đồng ghi nhận ngày 31/12/2025.

Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã bơm thanh khoản thận trọng vào hệ thống ngân hàng thông qua kênh hoạt động thị trường mở; đồng thời nâng lãi suất OMO (một trong ba mức lãi suất điều hành chủ chốt của Việt Nam) thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5%. Ngân hàng Nhà nước cũng sử dụng các công cụ điều hành linh hoạt như hợp đồng kỳ hạn có thể hủy ngang và hợp đồng hoán đổi kỳ hạn 14 ngày nhằm ổn định tâm lý thị trường.

Việc hút ròng quy mô lớn diễn ra song song với bối cảnh lãi suất liên ngân hàng có xu hướng hạ nhiệt và tỷ giá USD/VND chịu áp lực nhất định, cho thấy mục tiêu điều hành vẫn ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát kỳ vọng thị trường.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1:

Trong tuần 19 - 23/1, lãi suất liên ngân hàng biến động phân hóa theo kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn ngắn, lãi suất giảm khá mạnh khi lãi suất qua đêm (ON) giảm 0,98 điểm phần trăm so với tuần trước, xuống quanh 2,8%. Tuy nhiên, doanh số cho vay qua đêm có dấu hiệu tăng trở lại quanh 800 nghìn tỷ đồng/phiên, sau khi giảm mạnh xuống còn 500 nghìn tỷ đồng khoảng đầu tháng 1/2026.

Cùng với đó, kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng lần lượt giảm 0,33 và 0,10 điểm phần trăm, xuống còn 3,92% và 4,81%, phản ánh thanh khoản trong hệ thống được cải thiện.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn chịu áp lực tăng. Lãi suất 1 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 6,78%, trong khi 3 tháng nhích thêm 0,14 điểm phần trăm, lên quanh 7,4%.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, sau công bố định hướng điều hành tín dụng 2026 từ Ngân hàng Nhà nước, nhìn chung lãi suất huy động trên thị trường 1 cũng trở nên ổn định hơn. Mặc dù vẫn có một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong tuần vừa rồi, cũng có một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động, qua đó lãi suất huy động bình quân tăng không đáng kể, khoảng 1,8 điểm cơ bản so với tuần trước đó.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang với biên độ dao động hẹp, khi tín dụng đầu năm chưa tăng tốc và Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì điều hành thận trọng. Áp lực tăng lãi suất có thể quay trở lại nếu tín dụng tăng nhanh hơn dự kiến hoặc mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 xuất hiện điều chỉnh mới" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt, EUR và GBP bật tăng

Ngày 23/1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.125 VND/USD, giữ nguyên so với phiên liền trước, các ngân hàng giao dịch tỷ giá USD trong khoảng 23.868,75 - 26.382.25 (tỷ giá sàn - tỷ giá trần). Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được niêm yết trong biên độ 23.919 - 26.331 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tính chung cả tuần, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 6 đồng, cho thấy nhà điều hành tiếp tục giữ quan điểm ổn định, không tạo tín hiệu nới hay siết mạnh. Trong khi đó, thị trường tự do có biến động mạnh hơn nhưng theo chiều hạ nhiệt rõ rệt. Ngược lại, giá USD tự do tăng tới 400 đồng so với tuần trước, lên 26.650 - 26.700 VND/USD.

Biến động tỷ giá tại Vietcombank và BIDV cho thấy, với USD, áp lực lên USD trong nước đã hạ nhiệt, phù hợp với xu hướng suy yếu nhẹ của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

Tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.031 - 26.381 VND/USD, lần lượt giảm 26 đồng ở chiều mua và giảm 6 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, khi tỷ giá USD ở mức 26.081 - 26.381 đồng/USD, giảm 6 đồng ở cả hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt trải qua một tuần giảm điểm còn 98,34 điểm.

Thị trường tài chính vừa trải qua một đợt rung lắc mạnh sau những tuyên bố gây tranh cãi của Tổng thống Donald Trump về việc kiểm soát Greenland. Ban đầu, lời đe dọa áp thuế lên các quốc gia đồng minh phản đối tham vọng này đã kích hoạt làn sóng bán tháo tài sản Mỹ, khiến đồng USD sụt giảm. Tuy nhiên, tình hình đã hạ nhiệt sau khi ông Trump rút lại các đe dọa về thuế quan và phương án quân sự. Sự xoay chuyển này giúp các đồng tiền nhạy cảm với rủi ro như Euro và Bảng Anh ổn định trở lại, chấm dứt đợt phục hồi ngắn hạn của đồng bạc xanh.

Với các ngoại tệ khác như EUR, cả hai ngân hàng đều điều chỉnh tăng khá mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR đạt 30.022 - 31.605 VND/EUR, tăng khoảng 319 đồng chiều mua và 336 đồng chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV ghi nhận mức tăng tương đương, với tỷ giá 30.377 - 31.657 VND/EUR, tăng 314 đồng chiều mua và 335 đồng chiều bán.

Với GBP, xu hướng tăng cũng khá rõ rệt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP lên 34.502 - 35.967 VND/GBP, tăng lần lượt 278 đồng và 290 đồng so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, đưa tỷ giá GBP lên 34.969 - 35.989 VND/GBP./.

Theo dự báo của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, trong ngắn hạn, tỷ giá được dự báo tiếp tục giảm nhẹ, dao động quanh mức 26.200 - 26.300 VND/USD, chủ yếu nhờ hai yếu tố hỗ trợ.

Một là, chênh lệch lãi suất liên ngân hàng tiền VNĐ và USD được duy trì ở mức hợp lý sẽ giúp không gây áp lực lên tỷ giá. Hai là, yếu tố mùa vụ khi dòng tiền ngoại hối có xu hướng chảy mạnh hơn vào Việt Nam thời điểm cận Tết Nguyên đán.

"Chúng tôi giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND bình quân năm 2026 sẽ bớt chịu áp lực hơn, với kỳ vọng Việt Nam có thể thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài sau khi chính thức được nâng hạng thị trường" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80