Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, đánh dấu tuần thứ ba liên tiếp hút ròng với tổng quy mô hơn 110.592 tỷ đồng khi áp lực thanh khoản tạm lắng, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 2,8%, trong khi tỷ giá USD hạ nhiệt ở kênh chính thức.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/1: Hút ròng mạnh 30.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng "hạ sốt" Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản

Lãi suất liên ngân hàng "tạm lắng", áp lực trở lại khi tín dụng tăng tốc

Trong tuần qua từ ngày 19/1 đến ngày 23/1, diễn biến thị trường mở (OMO) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng linh hoạt, ưu tiên hút ròng thanh khoản, song có những phiên bơm hỗ trợ ngắn hạn để làm dịu áp lực cục bộ trong hệ thống.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Ở chiều bơm tiền qua kênh OMO, ngày 23/1, khối lượng phát hành tăng vọt lên 11.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với các phiên trước đó, dao động quanh 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Đồng thời, chỉ duy nhất ngày 23/1 ghi nhận bơm ròng 5.000 tỷ đồng, cho thấy động thái hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn vào cuối tuần, khi nhu cầu cân đối vốn của các ngân hàng thương mại thường tăng lên. Ngược lại, 4 phiên còn lại trong tuần đều hút ròng mạnh.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp tuần thứ 3 hút ròng tổng cộng 110.592,12 tỷ đồng, cho thấy định hướng điều hành nghiêng mạnh về thu hẹp thanh khoản ngắn hạn, thay vì duy trì trạng thái nới lỏng.

Tính chung tuần qua, có 17.591 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7 ngày và 56 ngày, lãi suất 4,5%.

Ở chiều ngược lại, có tới 58.116 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm sâu lượng vốn OMO lưu hành xuống còn 274.522,94 tỷ đồng, giảm đáng kể so với mức 410 nghìn tỷ đồng ghi nhận ngày 31/12/2025.

Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã bơm thanh khoản thận trọng vào hệ thống ngân hàng thông qua kênh hoạt động thị trường mở; đồng thời nâng lãi suất OMO (một trong ba mức lãi suất điều hành chủ chốt của Việt Nam) thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5%. Ngân hàng Nhà nước cũng sử dụng các công cụ điều hành linh hoạt như hợp đồng kỳ hạn có thể hủy ngang và hợp đồng hoán đổi kỳ hạn 14 ngày nhằm ổn định tâm lý thị trường.

Việc hút ròng quy mô lớn diễn ra song song với bối cảnh lãi suất liên ngân hàng có xu hướng hạ nhiệt và tỷ giá USD/VND chịu áp lực nhất định, cho thấy mục tiêu điều hành vẫn ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát kỳ vọng thị trường.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1:

Trong tuần 19 - 23/1, lãi suất liên ngân hàng biến động phân hóa theo kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn ngắn, lãi suất giảm khá mạnh khi lãi suất qua đêm (ON) giảm 0,98 điểm phần trăm so với tuần trước, xuống quanh 2,8%. Tuy nhiên, doanh số cho vay qua đêm có dấu hiệu tăng trở lại quanh 800 nghìn tỷ đồng/phiên, sau khi giảm mạnh xuống còn 500 nghìn tỷ đồng khoảng đầu tháng 1/2026.

Cùng với đó, kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng lần lượt giảm 0,33 và 0,10 điểm phần trăm, xuống còn 3,92% và 4,81%, phản ánh thanh khoản trong hệ thống được cải thiện.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn chịu áp lực tăng. Lãi suất 1 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 6,78%, trong khi 3 tháng nhích thêm 0,14 điểm phần trăm, lên quanh 7,4%.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, sau công bố định hướng điều hành tín dụng 2026 từ Ngân hàng Nhà nước, nhìn chung lãi suất huy động trên thị trường 1 cũng trở nên ổn định hơn. Mặc dù vẫn có một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong tuần vừa rồi, cũng có một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động, qua đó lãi suất huy động bình quân tăng không đáng kể, khoảng 1,8 điểm cơ bản so với tuần trước đó.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang với biên độ dao động hẹp, khi tín dụng đầu năm chưa tăng tốc và Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì điều hành thận trọng. Áp lực tăng lãi suất có thể quay trở lại nếu tín dụng tăng nhanh hơn dự kiến hoặc mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 xuất hiện điều chỉnh mới" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt, EUR và GBP bật tăng

Ngày 23/1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.125 VND/USD, giữ nguyên so với phiên liền trước, các ngân hàng giao dịch tỷ giá USD trong khoảng 23.868,75 - 26.382.25 (tỷ giá sàn - tỷ giá trần). Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được niêm yết trong biên độ 23.919 - 26.331 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tính chung cả tuần, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 6 đồng, cho thấy nhà điều hành tiếp tục giữ quan điểm ổn định, không tạo tín hiệu nới hay siết mạnh. Trong khi đó, thị trường tự do có biến động mạnh hơn nhưng theo chiều hạ nhiệt rõ rệt. Ngược lại, giá USD tự do tăng tới 400 đồng so với tuần trước, lên 26.650 - 26.700 VND/USD.

Biến động tỷ giá tại Vietcombank và BIDV cho thấy, với USD, áp lực lên USD trong nước đã hạ nhiệt, phù hợp với xu hướng suy yếu nhẹ của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

Tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.031 - 26.381 VND/USD, lần lượt giảm 26 đồng ở chiều mua và giảm 6 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, khi tỷ giá USD ở mức 26.081 - 26.381 đồng/USD, giảm 6 đồng ở cả hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt trải qua một tuần giảm điểm còn 98,34 điểm.

Thị trường tài chính vừa trải qua một đợt rung lắc mạnh sau những tuyên bố gây tranh cãi của Tổng thống Donald Trump về việc kiểm soát Greenland. Ban đầu, lời đe dọa áp thuế lên các quốc gia đồng minh phản đối tham vọng này đã kích hoạt làn sóng bán tháo tài sản Mỹ, khiến đồng USD sụt giảm. Tuy nhiên, tình hình đã hạ nhiệt sau khi ông Trump rút lại các đe dọa về thuế quan và phương án quân sự. Sự xoay chuyển này giúp các đồng tiền nhạy cảm với rủi ro như Euro và Bảng Anh ổn định trở lại, chấm dứt đợt phục hồi ngắn hạn của đồng bạc xanh.

Với các ngoại tệ khác như EUR, cả hai ngân hàng đều điều chỉnh tăng khá mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR đạt 30.022 - 31.605 VND/EUR, tăng khoảng 319 đồng chiều mua và 336 đồng chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV ghi nhận mức tăng tương đương, với tỷ giá 30.377 - 31.657 VND/EUR, tăng 314 đồng chiều mua và 335 đồng chiều bán.

Với GBP, xu hướng tăng cũng khá rõ rệt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP lên 34.502 - 35.967 VND/GBP, tăng lần lượt 278 đồng và 290 đồng so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, đưa tỷ giá GBP lên 34.969 - 35.989 VND/GBP./.

Theo dự báo của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, trong ngắn hạn, tỷ giá được dự báo tiếp tục giảm nhẹ, dao động quanh mức 26.200 - 26.300 VND/USD, chủ yếu nhờ hai yếu tố hỗ trợ.

Một là, chênh lệch lãi suất liên ngân hàng tiền VNĐ và USD được duy trì ở mức hợp lý sẽ giúp không gây áp lực lên tỷ giá. Hai là, yếu tố mùa vụ khi dòng tiền ngoại hối có xu hướng chảy mạnh hơn vào Việt Nam thời điểm cận Tết Nguyên đán.

"Chúng tôi giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND bình quân năm 2026 sẽ bớt chịu áp lực hơn, với kỳ vọng Việt Nam có thể thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài sau khi chính thức được nâng hạng thị trường" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18203 18478 19061
CAD 18382 18658 19276
CHF 31958 32339 32993
CNY 0 3840 3950
EUR 29888 30111 31192
GBP 34858 35251 36197
HKD 0 3209 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15306 15895
SGD 20055 20338 20916
THB 716 779 832
USD (1,2) 25909 0 0
USD (5,10,20) 25949 0 0
USD (50,100) 25978 25992 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 18:30
Ngân hàng