Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, đánh dấu tuần thứ ba liên tiếp hút ròng với tổng quy mô hơn 110.592 tỷ đồng khi áp lực thanh khoản tạm lắng, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 2,8%, trong khi tỷ giá USD hạ nhiệt ở kênh chính thức.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/1: Hút ròng mạnh 30.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng "hạ sốt" Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2026 VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản

Lãi suất liên ngân hàng "tạm lắng", áp lực trở lại khi tín dụng tăng tốc

Trong tuần qua từ ngày 19/1 đến ngày 23/1, diễn biến thị trường mở (OMO) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng linh hoạt, ưu tiên hút ròng thanh khoản, song có những phiên bơm hỗ trợ ngắn hạn để làm dịu áp lực cục bộ trong hệ thống.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1: Lãi suất qua đêm rơi về 2,8%, hút ròng liên tiếp hơn 110.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Ở chiều bơm tiền qua kênh OMO, ngày 23/1, khối lượng phát hành tăng vọt lên 11.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với các phiên trước đó, dao động quanh 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Đồng thời, chỉ duy nhất ngày 23/1 ghi nhận bơm ròng 5.000 tỷ đồng, cho thấy động thái hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn vào cuối tuần, khi nhu cầu cân đối vốn của các ngân hàng thương mại thường tăng lên. Ngược lại, 4 phiên còn lại trong tuần đều hút ròng mạnh.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng khoảng 40.526 tỷ đồng qua kênh OMO, nối tiếp tuần thứ 3 hút ròng tổng cộng 110.592,12 tỷ đồng, cho thấy định hướng điều hành nghiêng mạnh về thu hẹp thanh khoản ngắn hạn, thay vì duy trì trạng thái nới lỏng.

Tính chung tuần qua, có 17.591 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7 ngày và 56 ngày, lãi suất 4,5%.

Ở chiều ngược lại, có tới 58.116 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm sâu lượng vốn OMO lưu hành xuống còn 274.522,94 tỷ đồng, giảm đáng kể so với mức 410 nghìn tỷ đồng ghi nhận ngày 31/12/2025.

Trước đó, năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã bơm thanh khoản thận trọng vào hệ thống ngân hàng thông qua kênh hoạt động thị trường mở; đồng thời nâng lãi suất OMO (một trong ba mức lãi suất điều hành chủ chốt của Việt Nam) thêm 50 điểm cơ bản lên 4,5%. Ngân hàng Nhà nước cũng sử dụng các công cụ điều hành linh hoạt như hợp đồng kỳ hạn có thể hủy ngang và hợp đồng hoán đổi kỳ hạn 14 ngày nhằm ổn định tâm lý thị trường.

Việc hút ròng quy mô lớn diễn ra song song với bối cảnh lãi suất liên ngân hàng có xu hướng hạ nhiệt và tỷ giá USD/VND chịu áp lực nhất định, cho thấy mục tiêu điều hành vẫn ưu tiên ổn định vĩ mô và kiểm soát kỳ vọng thị trường.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/1:

Trong tuần 19 - 23/1, lãi suất liên ngân hàng biến động phân hóa theo kỳ hạn. Ở nhóm kỳ hạn ngắn, lãi suất giảm khá mạnh khi lãi suất qua đêm (ON) giảm 0,98 điểm phần trăm so với tuần trước, xuống quanh 2,8%. Tuy nhiên, doanh số cho vay qua đêm có dấu hiệu tăng trở lại quanh 800 nghìn tỷ đồng/phiên, sau khi giảm mạnh xuống còn 500 nghìn tỷ đồng khoảng đầu tháng 1/2026.

Cùng với đó, kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng lần lượt giảm 0,33 và 0,10 điểm phần trăm, xuống còn 3,92% và 4,81%, phản ánh thanh khoản trong hệ thống được cải thiện.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn chịu áp lực tăng. Lãi suất 1 tháng tăng 0,33 điểm phần trăm lên 6,78%, trong khi 3 tháng nhích thêm 0,14 điểm phần trăm, lên quanh 7,4%.

Theo đánh giá của Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, sau công bố định hướng điều hành tín dụng 2026 từ Ngân hàng Nhà nước, nhìn chung lãi suất huy động trên thị trường 1 cũng trở nên ổn định hơn. Mặc dù vẫn có một số ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động trong tuần vừa rồi, cũng có một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động, qua đó lãi suất huy động bình quân tăng không đáng kể, khoảng 1,8 điểm cơ bản so với tuần trước đó.

"Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục đi ngang với biên độ dao động hẹp, khi tín dụng đầu năm chưa tăng tốc và Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì điều hành thận trọng. Áp lực tăng lãi suất có thể quay trở lại nếu tín dụng tăng nhanh hơn dự kiến hoặc mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 xuất hiện điều chỉnh mới" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt, EUR và GBP bật tăng

Ngày 23/1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.125 VND/USD, giữ nguyên so với phiên liền trước, các ngân hàng giao dịch tỷ giá USD trong khoảng 23.868,75 - 26.382.25 (tỷ giá sàn - tỷ giá trần). Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được niêm yết trong biên độ 23.919 - 26.331 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tính chung cả tuần, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 6 đồng, cho thấy nhà điều hành tiếp tục giữ quan điểm ổn định, không tạo tín hiệu nới hay siết mạnh. Trong khi đó, thị trường tự do có biến động mạnh hơn nhưng theo chiều hạ nhiệt rõ rệt. Ngược lại, giá USD tự do tăng tới 400 đồng so với tuần trước, lên 26.650 - 26.700 VND/USD.

Biến động tỷ giá tại Vietcombank và BIDV cho thấy, với USD, áp lực lên USD trong nước đã hạ nhiệt, phù hợp với xu hướng suy yếu nhẹ của đồng bạc xanh trên thị trường quốc tế.

Tại Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.031 - 26.381 VND/USD, lần lượt giảm 26 đồng ở chiều mua và giảm 6 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Diễn biến tương tự ghi nhận tại BIDV, khi tỷ giá USD ở mức 26.081 - 26.381 đồng/USD, giảm 6 đồng ở cả hai chiều.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt trải qua một tuần giảm điểm còn 98,34 điểm.

Thị trường tài chính vừa trải qua một đợt rung lắc mạnh sau những tuyên bố gây tranh cãi của Tổng thống Donald Trump về việc kiểm soát Greenland. Ban đầu, lời đe dọa áp thuế lên các quốc gia đồng minh phản đối tham vọng này đã kích hoạt làn sóng bán tháo tài sản Mỹ, khiến đồng USD sụt giảm. Tuy nhiên, tình hình đã hạ nhiệt sau khi ông Trump rút lại các đe dọa về thuế quan và phương án quân sự. Sự xoay chuyển này giúp các đồng tiền nhạy cảm với rủi ro như Euro và Bảng Anh ổn định trở lại, chấm dứt đợt phục hồi ngắn hạn của đồng bạc xanh.

Với các ngoại tệ khác như EUR, cả hai ngân hàng đều điều chỉnh tăng khá mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR đạt 30.022 - 31.605 VND/EUR, tăng khoảng 319 đồng chiều mua và 336 đồng chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV ghi nhận mức tăng tương đương, với tỷ giá 30.377 - 31.657 VND/EUR, tăng 314 đồng chiều mua và 335 đồng chiều bán.

Với GBP, xu hướng tăng cũng khá rõ rệt. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP lên 34.502 - 35.967 VND/GBP, tăng lần lượt 278 đồng và 290 đồng so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, đưa tỷ giá GBP lên 34.969 - 35.989 VND/GBP./.

Theo dự báo của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, trong ngắn hạn, tỷ giá được dự báo tiếp tục giảm nhẹ, dao động quanh mức 26.200 - 26.300 VND/USD, chủ yếu nhờ hai yếu tố hỗ trợ.

Một là, chênh lệch lãi suất liên ngân hàng tiền VNĐ và USD được duy trì ở mức hợp lý sẽ giúp không gây áp lực lên tỷ giá. Hai là, yếu tố mùa vụ khi dòng tiền ngoại hối có xu hướng chảy mạnh hơn vào Việt Nam thời điểm cận Tết Nguyên đán.

"Chúng tôi giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND bình quân năm 2026 sẽ bớt chịu áp lực hơn, với kỳ vọng Việt Nam có thể thu hút thêm dòng vốn đầu tư nước ngoài sau khi chính thức được nâng hạng thị trường" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80