VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản

Ánh Tuyết
VinaCapital dự báo lãi suất tiền gửi trong năm 2026 có thể tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản, sau khi đã tăng khoảng 100 điểm cơ bản trong năm 2025. Động lực chính đến từ thanh khoản hệ thống ngân hàng đang thắt chặt và áp lực của đồng VND. Trong bối cảnh đó, VinaCapital cũng gợi mở loạt công cụ chính sách mà Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng nhằm "mở van" thanh khoản.
aa
Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Lãi suất tiền gửi tăng, thanh khoản thành tâm điểm

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới phát hành, Công ty cổ phần Quản lý Quỹ VinaCapital (VCFM) cho biết, cuối năm 2025, thị trường đồng thuận đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho năm 2026 là khoảng 20% sau mức tăng 19% của năm 2025, tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra thông điệp thận trọng ngay trước báo cáo này. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đặt hạn mức tín dụng là 15% cho năm 2026 và có thể điều chỉnh tăng nếu điều kiện cho phép.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, năm 2025 ghi nhận tăng trưởng tín dụng đạt 19%, cao hơn khoảng 4 điểm phần trăm so với tăng trưởng huy động vốn 15%.

Theo tính toán từ VinaCapital, chênh lệch này khiến khoảng cách giữa dư nợ tín dụng và huy động ước lên tới 40 tỷ USD, qua đó, đẩy lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng tăng khoảng 100 điểm cơ bản trong năm 2025. Đồng thời, khiến các cơ quan chức năng khuyến nghị kiểm soát tăng trưởng tín dụng chặt chẽ hơn trong năm 2026. Thanh khoản thiếu hụt trong hệ thống ngân hàng là rủi ro lớn nhất đối với nền kinh tế.

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới phát hành, Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ VinaCapital (VCFM) đánh giá,
"Chúng tôi dự báo lãi suất tiền gửi có thể tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong năm 2026, lên mức khoảng 7%, nhưng không kỳ vọng lãi suất sẽ vượt xa ngưỡng 7 - 8%" - chuyên gia VinaCapital kỳ vọng.

Lý giải đà tăng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, VinaCapital cho rằng đến từ hai yếu tố chính.

Một là, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng đang thắt chặt. Hai là, áp lực mất giá của đồng VND. Tình trạng thanh khoản eo hẹp xuất phát từ tăng trưởng tín dụng cao hơn gần 4 điểm phần trăm so với tăng trưởng huy động trong năm 2025.

"Mức tăng 50 - 100 điểm cơ bản của lãi suất tiền gửi mà chúng tôi dự báo trong năm 2026 sẽ thúc đẩy tăng trưởng huy động, nhưng khó đủ để làm giảm tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/tiền gửi) của hệ thống ngân hàng, do chúng tôi không kỳ vọng tăng trưởng huy động sẽ vượt tăng trưởng tín dụng trong năm nay. Câu hỏi được đặt ra nhiều nhất là nguồn vốn nào được sử dụng để cân đối mức tăng trưởng tín dụng mạnh trong năm 2026" - VinaCapital đặt vấn đề.

Tuy nhiên, lãi suất tăng thường có tác động tích cực đến biên lãi ròng (NIM) và lợi nhuận của các ngân hàng, từ đó, tạo cơ sở thuyết phục cho việc phân bổ tỷ trọng cao hơn vào cổ phiếu ngân hàng. Dù vậy, chuyên gia từ VinaCapital vẫn cần lưu ý đến các yếu tố đặc thù như: chất lượng tài sản của từng ngân hàng và những rủi ro riêng lẻ khác.

Cùng với đó, gần đây, Chính phủ cũng ban hành các định hướng yêu cầu các ngân hàng kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thận trọng hơn, đặc biệt đối với lĩnh vực cho vay bất động sản.

"Chúng tôi không cho rằng lập trường thận trọng này sẽ kéo dài sang nửa cuối năm, xét đến việc phát triển bất động sản là một trong ba động lực quan trọng mà Chính phủ có thể sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng GDP trong năm nay; đồng thời xét đến mối liên hệ giữa “hiệu ứng của cải” lan tỏa từ bất động sản và tiêu dùng" - VinaCapital đánh giá.

Với giả định môi trường vĩ mô ổn định trong nửa đầu năm, dự báo các ngân hàng sẽ quay trở lại đẩy mạnh cho vay đối với chủ đầu tư và mở rộng tín dụng bất động sản vào cuối năm, qua đó, giúp thị trường bất động sản phục hồi, dù khó có khả năng xuất hiện một đợt tăng giá mạnh mới.

Gợi mở công cụ “mở van” thanh khoản

Ngân hàng Nhà nước hiện đang phải xử lý một bài toán cân bằng, mà nhiều ngân hàng trung ương tại các thị trường mới nổi phải đối mặt: dung hòa giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế. Thách thức hiện nay của Việt Nam không phải là bài toán truyền thống giữa lạm phát và tăng trưởng, mà là sự đánh đổi giữa ổn định tỷ giá USD - VND và mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới phát hành, Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ VinaCapital (VCFM) đánh giá,
VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản. Ảnh minh họa.

Theo nhìn nhận của nhóm phân tích VinaCapital, Ngân hàng Nhà nước có sự thận trọng nhất định khi điều hành chính sách tiền tệ và để lãi suất tăng nhẹ khi phải đối mặt với bài toán cân bằng giữa “tăng trưởng” và “ổn định”.

Mức lãi suất cao hơn là cần thiết nhằm hạn chế áp lực mất giá của tỷ giá USD - VND vượt quá khoảng 3% trong bối cảnh dự trữ ngoại hối còn khá thấp (hiện dưới mức 03 tháng nhập khẩu), trong khi mặt bằng lãi suất thấp lại có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.Về định hướng điều hành chính sách năm 2026, chuyên gia VinaCapital cho rằng, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng sự kết hợp giữa mở rộng bảng cân đối kế toán và nới lỏng/linh hoạt các quy định về chỉ tiêu thanh khoản để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

Tại báo cáo này, VinaCapital cũng gợi mở các công cụ chính sách mạnh mẽ giúp Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng, để giải quyết tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng trong trường hợp cần thiết.

Theo đó, thứ nhất, linh hoạt điều tiết khoản tồn dư ngân quỹ (ước tính khoảng 30 tỷ USD) của Kho bạc Nhà nước Việt Nam đặt tại Ngân hàng Nhà nước sang hệ thống ngân hàng thương mại.

Thứ hai, mở rộng bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ ba, chấp nhận trái phiếu doanh nghiệp làm giấy tờ có giá trong các giao dịch cầm cố (repo) tại kênh tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời áp dụng các biện pháp nới lỏng quy định khác.

Thứ tư, phát hành tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) được liên kết với USD và vàng nhằm hỗ trợ dự trữ ngoại hối của Việt Nam.../.

"Phần lớn các công cụ nêu trên mang tính hành chính hoặc liên quan đến mở rộng bảng cân đối kế toán, do đó, có thể được triển khai tương đối nhanh chóng" - nhóm phân tích VinaCapital nhận định.

Theo VinaCapital, Chính phủ có mức độ linh hoạt lớn trong việc điều tiết khoản tồn dư ngân quỹ; mở rộng bảng cân đối của Ngân hàng Nhà nước và/hoặc điều chỉnh các chỉ số thanh khoản nhằm nới lỏng các ràng buộc về nguồn vốn. Cần lưu ý rằng trong những năm qua, lượng tồn dư ngân quỹ là tương đối lớn và Kho bạc Nhà nước đã gửi khoảng 15 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng thương mại, trong khi khoảng 30 - 40 tỷ USD khác đang được đặt tại Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài ra, quy mô bảng cân đối của Ngân hàng Nhà nước hiện vào khoảng 25% GDP (theo ước tính của VinaCapital), thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 35% của ngân hàng trung ương khác tại các thị trường mới nổi trong khu vực, qua đó, tạo dư địa để mở rộng bảng cân đối nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

(TBTCO) - Sáng ngày 27/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.113 đồng, đi ngang do trùng kỳ nghỉ lễ, trong khi DXY nhích tăng nhẹ lên 98,61 điểm. Đồng USD tăng nhẹ khi đàm phán Mỹ - Iran chưa tiến triển, làm dấy lên lo ngại lạm phát và khiến kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất năm 2026 suy yếu, trong bối cảnh thị trường chờ loạt dữ liệu và quyết sách quan trọng tuần này.
Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

Tỷ giá USD hôm nay (25/4): Tỷ giá đồng loạt tăng tuần qua, DXY trong thế giằng co

(TBTCO) - Sáng ngày 25/4, tỷ giá trung tâm chốt phiên cuối tuần ở mức 25.113 đồng, tăng tổng cộng 11 đồng tuần qua, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng tuần qua lên 26.670 - 26.700 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY chốt tuần quanh 98,5 điểm, giảm nhẹ phiên gần nhất song tăng 0,76% tuần qua, phản ánh trạng thái giằng co do USD vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị và chính sách thận trọng của Fed.
Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/4): Tỷ giá trung tâm đi lên, USD tự do tăng vọt 100 đồng

Tỷ giá USD hôm nay (24/4): Tỷ giá trung tâm đi lên, USD tự do tăng vọt 100 đồng

(TBTCO) - Sáng ngày 24/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.113 đồng, tăng 10 đồng so với phiên trước, cao hơn nhiều phiên gần đây. Trên thị trường tự do, tỷ giá USD/VND phổ biến quanh 26.670 - 26.700 VND/USD, tăng vọt 100 đồng. Trên thị trường quốc tế, USD dần mất xu hướng rõ ràng sau cú tăng do địa chính trị, khi DXY giằng co, phản ánh tâm lý thận trọng trước diễn biến xung đột và chính sách tiền tệ các ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (22/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.100 đồng, DXY “án binh” chờ tín hiệu từ ứng viên Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 22/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng xuống 25.100 VND/USD, trong khi USD tự do lùi về quanh 26.600 - 26.650 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY dao động hẹp quanh 98 điểm khi nhà đầu tư thận trọng theo dõi phiên điều trần của ứng viên Chủ tịch Fed Kevin Warsh và các rủi ro địa chính trị tại Trung Đông, những yếu tố có thể định hướng xu hướng USD trong ngắn hạn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 21/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.630 - 26.670 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lùi nhẹ về 98,09 điểm nhưng vẫn duy trì nền ổn định. Tâm điểm chú ý dồn vào đàm phán Mỹ - Iran cuối tuần, yếu tố có thể định hướng xu hướng thị trường ngắn hạn, dù kỳ vọng tích cực đang chiếm ưu thế.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80