VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản

Ánh Tuyết
VinaCapital dự báo lãi suất tiền gửi trong năm 2026 có thể tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản, sau khi đã tăng khoảng 100 điểm cơ bản trong năm 2025. Động lực chính đến từ thanh khoản hệ thống ngân hàng đang thắt chặt và áp lực của đồng VND. Trong bối cảnh đó, VinaCapital cũng gợi mở loạt công cụ chính sách mà Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng nhằm "mở van" thanh khoản.
aa
Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%
Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Lãi suất tiền gửi tăng, thanh khoản thành tâm điểm

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới phát hành, Công ty cổ phần Quản lý Quỹ VinaCapital (VCFM) cho biết, cuối năm 2025, thị trường đồng thuận đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cho năm 2026 là khoảng 20% sau mức tăng 19% của năm 2025, tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước đã đưa ra thông điệp thận trọng ngay trước báo cáo này. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đặt hạn mức tín dụng là 15% cho năm 2026 và có thể điều chỉnh tăng nếu điều kiện cho phép.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, năm 2025 ghi nhận tăng trưởng tín dụng đạt 19%, cao hơn khoảng 4 điểm phần trăm so với tăng trưởng huy động vốn 15%.

Theo tính toán từ VinaCapital, chênh lệch này khiến khoảng cách giữa dư nợ tín dụng và huy động ước lên tới 40 tỷ USD, qua đó, đẩy lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng tăng khoảng 100 điểm cơ bản trong năm 2025. Đồng thời, khiến các cơ quan chức năng khuyến nghị kiểm soát tăng trưởng tín dụng chặt chẽ hơn trong năm 2026. Thanh khoản thiếu hụt trong hệ thống ngân hàng là rủi ro lớn nhất đối với nền kinh tế.

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới phát hành, Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ VinaCapital (VCFM) đánh giá,
"Chúng tôi dự báo lãi suất tiền gửi có thể tăng thêm 50 - 100 điểm cơ bản trong năm 2026, lên mức khoảng 7%, nhưng không kỳ vọng lãi suất sẽ vượt xa ngưỡng 7 - 8%" - chuyên gia VinaCapital kỳ vọng.

Lý giải đà tăng lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng, VinaCapital cho rằng đến từ hai yếu tố chính.

Một là, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng đang thắt chặt. Hai là, áp lực mất giá của đồng VND. Tình trạng thanh khoản eo hẹp xuất phát từ tăng trưởng tín dụng cao hơn gần 4 điểm phần trăm so với tăng trưởng huy động trong năm 2025.

"Mức tăng 50 - 100 điểm cơ bản của lãi suất tiền gửi mà chúng tôi dự báo trong năm 2026 sẽ thúc đẩy tăng trưởng huy động, nhưng khó đủ để làm giảm tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/tiền gửi) của hệ thống ngân hàng, do chúng tôi không kỳ vọng tăng trưởng huy động sẽ vượt tăng trưởng tín dụng trong năm nay. Câu hỏi được đặt ra nhiều nhất là nguồn vốn nào được sử dụng để cân đối mức tăng trưởng tín dụng mạnh trong năm 2026" - VinaCapital đặt vấn đề.

Tuy nhiên, lãi suất tăng thường có tác động tích cực đến biên lãi ròng (NIM) và lợi nhuận của các ngân hàng, từ đó, tạo cơ sở thuyết phục cho việc phân bổ tỷ trọng cao hơn vào cổ phiếu ngân hàng. Dù vậy, chuyên gia từ VinaCapital vẫn cần lưu ý đến các yếu tố đặc thù như: chất lượng tài sản của từng ngân hàng và những rủi ro riêng lẻ khác.

Cùng với đó, gần đây, Chính phủ cũng ban hành các định hướng yêu cầu các ngân hàng kiểm soát tăng trưởng tín dụng ở mức thận trọng hơn, đặc biệt đối với lĩnh vực cho vay bất động sản.

"Chúng tôi không cho rằng lập trường thận trọng này sẽ kéo dài sang nửa cuối năm, xét đến việc phát triển bất động sản là một trong ba động lực quan trọng mà Chính phủ có thể sử dụng để thúc đẩy tăng trưởng GDP trong năm nay; đồng thời xét đến mối liên hệ giữa “hiệu ứng của cải” lan tỏa từ bất động sản và tiêu dùng" - VinaCapital đánh giá.

Với giả định môi trường vĩ mô ổn định trong nửa đầu năm, dự báo các ngân hàng sẽ quay trở lại đẩy mạnh cho vay đối với chủ đầu tư và mở rộng tín dụng bất động sản vào cuối năm, qua đó, giúp thị trường bất động sản phục hồi, dù khó có khả năng xuất hiện một đợt tăng giá mạnh mới.

Gợi mở công cụ “mở van” thanh khoản

Ngân hàng Nhà nước hiện đang phải xử lý một bài toán cân bằng, mà nhiều ngân hàng trung ương tại các thị trường mới nổi phải đối mặt: dung hòa giữa ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế. Thách thức hiện nay của Việt Nam không phải là bài toán truyền thống giữa lạm phát và tăng trưởng, mà là sự đánh đổi giữa ổn định tỷ giá USD - VND và mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Trong báo cáo chiến lược 2026 mới phát hành, Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ VinaCapital (VCFM) đánh giá,
VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản. Ảnh minh họa.

Theo nhìn nhận của nhóm phân tích VinaCapital, Ngân hàng Nhà nước có sự thận trọng nhất định khi điều hành chính sách tiền tệ và để lãi suất tăng nhẹ khi phải đối mặt với bài toán cân bằng giữa “tăng trưởng” và “ổn định”.

Mức lãi suất cao hơn là cần thiết nhằm hạn chế áp lực mất giá của tỷ giá USD - VND vượt quá khoảng 3% trong bối cảnh dự trữ ngoại hối còn khá thấp (hiện dưới mức 03 tháng nhập khẩu), trong khi mặt bằng lãi suất thấp lại có tác dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.Về định hướng điều hành chính sách năm 2026, chuyên gia VinaCapital cho rằng, Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng sự kết hợp giữa mở rộng bảng cân đối kế toán và nới lỏng/linh hoạt các quy định về chỉ tiêu thanh khoản để hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.

Tại báo cáo này, VinaCapital cũng gợi mở các công cụ chính sách mạnh mẽ giúp Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước có thể sử dụng, để giải quyết tình trạng căng thẳng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng trong trường hợp cần thiết.

Theo đó, thứ nhất, linh hoạt điều tiết khoản tồn dư ngân quỹ (ước tính khoảng 30 tỷ USD) của Kho bạc Nhà nước Việt Nam đặt tại Ngân hàng Nhà nước sang hệ thống ngân hàng thương mại.

Thứ hai, mở rộng bảng cân đối kế toán của Ngân hàng Nhà nước.

Thứ ba, chấp nhận trái phiếu doanh nghiệp làm giấy tờ có giá trong các giao dịch cầm cố (repo) tại kênh tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước, đồng thời áp dụng các biện pháp nới lỏng quy định khác.

Thứ tư, phát hành tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) được liên kết với USD và vàng nhằm hỗ trợ dự trữ ngoại hối của Việt Nam.../.

"Phần lớn các công cụ nêu trên mang tính hành chính hoặc liên quan đến mở rộng bảng cân đối kế toán, do đó, có thể được triển khai tương đối nhanh chóng" - nhóm phân tích VinaCapital nhận định.

Theo VinaCapital, Chính phủ có mức độ linh hoạt lớn trong việc điều tiết khoản tồn dư ngân quỹ; mở rộng bảng cân đối của Ngân hàng Nhà nước và/hoặc điều chỉnh các chỉ số thanh khoản nhằm nới lỏng các ràng buộc về nguồn vốn. Cần lưu ý rằng trong những năm qua, lượng tồn dư ngân quỹ là tương đối lớn và Kho bạc Nhà nước đã gửi khoảng 15 tỷ USD vào hệ thống ngân hàng thương mại, trong khi khoảng 30 - 40 tỷ USD khác đang được đặt tại Ngân hàng Nhà nước.

Ngoài ra, quy mô bảng cân đối của Ngân hàng Nhà nước hiện vào khoảng 25% GDP (theo ước tính của VinaCapital), thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 35% của ngân hàng trung ương khác tại các thị trường mới nổi trong khu vực, qua đó, tạo dư địa để mở rộng bảng cân đối nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản của hệ thống./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

(TBTCO) - Sáng 10/8, tỷ giá trung tâm tăng 28 đồng, lên 25.491 đồng/USD, song giá bán USD tại ngân hàng vẫn thấp hơn trần gần 400 đồng. Trên thị trường tự do, USD giảm mạnh 170 đồng, xuống 25.800 - 25.830 VND/USD. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,13% lên 99,66 điểm. Tuần này, CPI tháng 7 của Mỹ sẽ là chất xúc tác quan trọng đối với đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/8): USD ngân hàng bán ra cách xa trần 300 đồng, DXY hồi nhẹ trước dữ liệu việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (7/8): USD ngân hàng bán ra cách xa trần 300 đồng, DXY hồi nhẹ trước dữ liệu việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 7/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 30 đồng lên 25.463 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng lớn thấp xa tỷ giá trần hơn 300 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,28% lên 99,65 điểm, nhà đầu tư đang chờ báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 7, yếu tố được kỳ vọng sẽ định hướng chính sách lãi suất của Fed trong thời gian tới.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng thêm 25 đồng, lên 25.405 đồng/USD, tiếp tục lập mức cao mới, trong khi giá bán USD tại các ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần trên 200 đồng. Chỉ số DXY nhích 0,03% lên 99,88 điểm khi nhà đầu tư theo dõi triển vọng đàm phán Mỹ - Iran và chờ báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.
Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

(TBTCO) - Sáng 4/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 22 đồng lên 25.380, trong khi tỷ giá USD thị trường tự do giảm mạnh, giá bán USD các ngân hàng thấp xa tỷ giá trần khoảng 180 đồng. Chỉ số DXY hồi nhẹ lên 99,97 điểm, đồng yên mạnh lên khi Nhật Bản được cho là chi thêm 34 tỷ USD can thiệp thị trường ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 3/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.358 đồng, tăng 20 đồng so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,24% xuống 99,66 điểm, khi đồng USD lùi về mức thấp nhất trong 6 tuần. Thị trường đang hướng sự chú ý tới báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80