Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/1: Hút ròng mạnh 30.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng "hạ sốt"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 12 - 16/1 cho thấy, thanh khoản hệ thống hạ nhiệt rõ rệt khi lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh. Ngân hàng Nhà nước hút ròng 29.899 tỷ đồng, phát đi tín hiệu điều hành thận trọng sau giai đoạn bơm mạnh cuối năm. Trong khi đó, tỷ giá tại ngân hàng giữ thế cân bằng, còn USD tự do lùi sâu về sát mốc 26.000 đồng.
aa
Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng Lãi suất liên ngân hàng "nguội" đầu năm, nhà điều hành hút ròng trên 40.000 tỷ đồng Phát tín hiệu hạ nhịp tín dụng trước áp lực lãi suất và thanh khoản

Ngân hàng Nhà nước “rút van” OMO, lãi suất liên ngân hàng lùi sâu

Trong tuần qua từ ngày 12/1 đến ngày 16/1, diễn biến trên thị trường mở (OMO) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành theo hướng hút ròng thanh khoản, dù quy mô bơm - hút có sự đan xen nhịp nhàng giữa các phiên.

Theo đó, tuần qua, có 16.417 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28, 56 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có tới 46.315,23 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm lượng vốn OMO lưu hành xuống còn 315.048,49 tỷ đồng, giảm đáng kể so với mức 410 nghìn tỷ đồng ghi nhận ngày 31/12/2025.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 29.899 tỷ đồng, tiếp đà hút mạnh 40.167,94 tỷ đồng, qua đó, cho thấy nhà điều hành ưu tiên kiểm soát thanh khoản trong trạng thái thận trọng.

Kết quả đấu thầu trong tuần cho thấy Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành thị trường mở theo hướng thận trọng và linh hoạt, với quy mô bơm thanh khoản ở mức khiêm tốn, chỉ khoảng 2.000 - 4.000 tỷ đồng mỗi phiên.

Ở chiều ngược lại, khối lượng đáo hạn duy trì ở mức rất cao, vượt xa lượng bơm mới trong phần lớn các phiên. Đáng chú ý, riêng phiên 12/1 ghi nhận lượng đáo hạn lên tới gần 19.800 tỷ đồng, tạo áp lực hút tiền rõ rệt khỏi hệ thống ngân hàng.

Thị trường tiền tệ tuần qua: Ngân hàng Nhà nước “rút van” OMO, lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ trên toàn bộ các kỳ hạn. Theo đó, ở kỳ hạn qua đêm, lãi suất tăng từ 3,16% cuối tuần trước lên quanh 4,17%, tương ứng tăng 1,01% điểm phần trăm cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng rõ rệt. Kỳ hạn 1 tuần nhích lên 4,83%, tăng hơn 0,65 điểm phần trăm. Kỳ hạn 2 tuần duy trì đà tăng, lên 5,17%, vượt mốc 5%, nhích nhẹ 0,17 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn biến động mạnh hơn, với lãi suất 1 tháng vọt lên 6,45%, tăng khoảng 0,15 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng lên 7,23%, cao hơn 0,18 điểm phần trăm.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước chủ động rút bớt thanh khoản sau giai đoạn bơm mạnh cuối năm. Cùng với đó, lãi suất trong xu hướng giảm dần từ đầu cho tới cuối tuần trước, khi nhu cầu vốn mua vụ cuối năm đi qua.

"Lãi suất liên ngân hàng hiện đang về mức ngang giai đoạn cuối tháng 9/2025, chúng tôi kỳ vọng sẽ duy trì trong thời gian tới và thanh khoản hệ thống ngân hàng đang dần ổn định trở lại" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap cũng dự báo, nhu cầu thanh khoản sẽ hạ nhiệt vào đầu tháng 1 sau khi áp lực cuối năm tạm lắng, tạo điều kiện cho lãi suất liên ngân hàng điều chỉnh giảm. Tuy nhiên, lãi suất có thể vẫn duy trì ở mức cao do nhu cầu thanh khoản thường tăng cao trước Tết.

Tỷ giá giữ thế cân bằng, USD tự do lùi mạnh

Ngày 16/1, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 VND/USD, giảm 4 đồng so với phiên liền trước, trong khi tỷ giá USD trên thị trường tự do điều chỉnh mạnh hơn, giảm tới 350 đồng, cho thấy áp lực đầu cơ tiếp tục hạ nhiệt.

Với biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần mà các ngân hàng thương mại được phép áp dụng là 26.387 VND/USD, còn tỷ giá sàn ở mức 23.874 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được niêm yết 23.925 VND/USD (mua vào) và 26.337 VND/USD (bán ra), phản ánh định hướng điều hành ổn định của nhà điều hành.

Thị trường tiền tệ tuần qua: Ngân hàng Nhà nước “rút van” OMO, lãi suất liên ngân hàng tăng nhẹ
Thị trường tiền tệ tuần 12-16/1: Hút ròng mạnh 30.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng "hạ sốt". Ảnh minh họa.

Tính chung tuần này từ ngày 12 - 16/1, tỷ giá USD/VND nhìn chung biến động hẹp và có xu hướng ổn định như tuần trước. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt tuần ở mức 25.131 VND/USD, tăng ròng 4 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều nhẹ so với tuần trước đó giảm 1 đồng. Diễn biến trong tuần cho thấy tỷ giá trung tâm có nhịp tăng - giảm đan xen, nhưng biên độ rất nhỏ, phản ánh điều hành linh hoạt và trạng thái cân bằng cung - cầu ngoại tệ.

Tại các ngân hàng, tỷ giá USD bám sát định hướng điều hành, chưa xuất hiện áp lực tăng mạnh dù có những phiên nhích lên trong tuần. Theo đó, tại Vietcombank, USD được niêm yết ở mức 26.057 - 26.387 VND/USD, tăng 4 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, BIDV giao dịch USD quanh 26.087 - 26.387 VND/USD, cũng tăng 4 đồng.

Trái lại, thị trường tự do ghi nhận diễn biến đáng chú ý hơn khi giá USD bán ra giảm mạnh 520 đồng trong tuần, xuống còn 26.250 - 26.300 VND/USD, cho thấy áp lực đầu cơ và tâm lý găm giữ USD đã hạ nhiệt rõ rệt, đồng thời chênh lệch giữa thị trường tự do và ngân hàng tiếp tục thu hẹp.

Còn với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR giảm khá rõ tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết 29.703 - 31.270 VND/EUR, với giá mua giảm 125,4 đồng và giá bán giảm 132,0 đồng so với cuối tuần trước. Tại BIDV, EUR giao dịch 30.063 - 31.322 VND/EUR, giảm 90 đồng ở chiều mua và 96 đồng ở chiều bán.

Với đồng bảng Anh, mức sụt giảm mạnh nhất, Vietcombank niêm yết 34.224 - 35.677 VND/GBP, giảm 156,1 đồng chiều mua và 162,8 đồng chiều bán. BIDV cũng điều chỉnh xuống 34.711 - 35.734 VND/GBP, giảm 115 đồng ở chiều mua và 124 đồng ở chiều bán. Mức giảm mạnh cho thấy GBP là một trong những đồng tiền chịu áp lực lớn nhất trong tuần.

Tỷ giá Yên Nhật gần như đi ngang tại các ngân hàng. Trái chiều xu hướng chung, Nhân dân tệ tăng nhẹ tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết 3.675 - 3.832 VND/CNY, tăng 9,2 đồng chiều mua và 9,6 đồng chiều bán. Tại BIDV, CNY giao dịch 3.716 - 3.827 VND/CNY, tăng 7 đồng ở chiều mua và 8 đồng ở chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, tăng lên 99,26 điểm, đưa đồng bạc xanh lên mức cao nhất trong 6 tuần.

Theo Chứng khoán Yuanta, đồng USD được hỗ trợ bởi loạt dữ liệu Mỹ: số đơn xin trợ cấp thất nghiệp tăng nhẹ và số vị trí tuyển dụng giảm; đặc biệt, báo cáo việc làm tháng 12 chỉ tạo thêm khoảng 50 nghìn việc làm, thấp hơn dự báo và tỷ lệ thất nghiệp bất ngờ giảm còn 4,4%. Bức tranh này củng cố kỳ vọng Fed sẽ sớm nới lỏng chính sách tiền tệ hơn nữa, mặc dù biên bản họp Fed tháng 12 phát tín hiệu thận trọng.

Trong khi đó, đồng Euro giảm giá khi lạm phát Eurozone hạ về mức mục tiêu 2%, kéo lợi suất trái phiếu Đức xuống mức thấp nhất một tháng và làm dấy lên nhận định Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) sẽ giữ nguyên lãi suất suốt năm nay. Đồng Yên Nhật hầu như đi ngang do chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn lớn, thêm vào đó, căng thẳng thương mại mới giữa Nhật Bản và Trung Quốc khi Bắc Kinh mở cuộc điều tra chống bán phá giá hóa chất bán dẫn, khiến nhu cầu JPY ảm đạm.

Bảng Anh cũng chịu áp lực giảm nhẹ trong bối cảnh Ngân hàng Trung ương Anh sau khi cắt lãi suất xuống 3,75% cuối 2025 vẫn tỏ ra thận trọng về việc nới lỏng tiếp do lạm phát Anh dù giảm còn 3,2% vẫn thuộc hàng cao nhất G7./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 20:00
Ngân hàng