Lãi suất liên ngân hàng "nguội" đầu năm, nhà điều hành hút ròng trên 40.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ từ ngày 5/1 - 9/1 ghi nhận xu hướng hút ròng thanh khoản mạnh với 40.167,94 tỷ đồng trên thị trường mở, phản ánh chủ trương thu hẹp hỗ trợ ngắn hạn. Trong bối cảnh thanh khoản bớt căng, lãi suất qua đêm giảm về 4,66%, tỷ giá USD/VND lặng sóng, nhà điều hành phát đi tín hiệu điều tiết linh hoạt và không mở rộng chính sách tiền tệ ngay tuần đầu năm 2026.
aa
Lãi suất liên ngân hàng lập đỉnh 8,72%, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 6.100 tỷ đồng
Tín dụng tìm điểm cân bằng mới trong kỷ nguyên kinh tế tăng tốc Huy động "hụt hơi" đẩy lãi suất tăng rầm rập, lãi suất liên ngân hàng vọt lên gần 9%

Lãi suất qua đêm giảm còn 4,66%, thanh khoản bớt căng

Trong tuần qua, từ ngày 5/1 đến ngày 9/1, thị trường mở (OMO) ghi nhận xu hướng hút ròng thanh khoản rõ nét, khi khối lượng đáo hạn lớn hơn đáng kể so với lượng phát hành mới, cho thấy Ngân hàng Nhà nước chủ động thu hẹp hỗ trợ ngắn hạn đối với hệ thống ngân hàng.

Cụ thể, ở đầu tuần, ngày 5/1, Ngân hàng Nhà nước vẫn bơm ra lượng vốn khá lớn với 33.150 tỷ đồng, song khối lượng đáo hạn lên tới 16.483 tỷ đồng, khiến hỗ trợ ròng không còn quá dồi dào. Trong 4/5 phiên còn lại, dù Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì bơm vốn qua kênh OMO, quy mô phát hành liên tục thu hẹp trong khi khối lượng đáo hạn ở mức lớn, tạo ra mức hút ròng rất lớn.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh 40.167,94 tỷ đồng trong tuần từ ngày 5/1 đến ngày 9/1. Động thái này phù hợp với bối cảnh lãi suất liên ngân hàng ổn định, nhu cầu vốn ngắn hạn không căng thẳng và tỷ giá vẫn nằm trong vùng kiểm soát.

Riêng ngày ngày 9/1, Ngân hàng Nhà nước không phát hành mới, trong khi vẫn có 5.005,18 tỷ đồng đáo hạn, tiếp tục trạng thái rút thanh khoản khỏi hệ thống.

Theo đó, tuần qua, có 48.680,2 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 88.848,14 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, giảm lượng vốn OMO lưu hành xuống còn 344.947,12 tỷ đồng.

Lãi suất liên ngân hàng

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngày 7/1, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục xu hướng hạ nhiệt rõ rệt trên toàn bộ các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống ngân hàng được cải thiện so với những phiên đầu năm.

Lãi suất qua đêm giảm mạnh xuống 4,66%, thấp hơn đáng kể so với mức 5,65% của ngày 6/1 và 6,88% của ngày 5/1, doanh số cũng giảm sâu so với giai đoạn cao điểm cuối năm 2025, chỉ còn 752.237 tỷ đồng. Các kỳ hạn ngắn khác cũng đồng loạt điều chỉnh giảm, lãi suất liên ngân hàng1 tuần ở mức 5,31% với doanh số vay giảm còn 20.776 tỷ đồng; lãi suất liên ngân hàng 2 tuần giảm còn 5,72%.

Các kỳ hạn khác giảm nhiệt, song vẫn ở mức cao, như kỳ hạn 1 tháng giảm về 6,3%. Ở kỳ hạn dài hơn, 3 tháng ở mức 7,41%. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt, phù hợp với bối cảnh Ngân hàng Nhà nước hút ròng qua thị trường mở nhưng hệ thống vẫn duy trì trạng thái cân bằng.

Trong báo cáo về thị trường tiền tệ, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam dự báo, lãi suất liên ngân hàng có thể giảm bớt biến động khi nhu cầu vốn mùa vụ hạ nhiệt.

"Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng chuyển sang điều tiết linh hoạt theo nhịp bơm/hút nhỏ giọt để tránh tạo kỳ vọng nới lỏng quá mức, để ổn định mặt bằng lãi suất ngắn hạn. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã phát đi tín hiệu không mở rộng chính sách tiền tệ trong năm 2026, nên xu hướng bơm ròng mạnh mẽ qua kênh OMO trong năm 2025 sẽ sớm kết thúc" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta Việt Nam nhận định.

Tỷ giá "lặng sóng"

Tuần đầu năm mới, tỷ giá USD/VND giảm nhẹ cả kênh chính thức, lẫn thị trường tự do.

Ngày 9/1, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.127 VND/USD, nhích nhẹ 2 đồng. Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng giao dịch trong khoảng 23.870,65 - 26.383,35 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối là 23.921 - 26.333 VND/USD (mua vào - bán ra).

Lãi suất liên ngân hàng
Lãi suất liên ngân hàng "nguội" trong tuần đầu năm. Ảnh minh hoạ.

Tính chung một tuần, tỷ giá trung tâm "lặng sóng", giảm nhẹ 1 đồng so với cuối tuần trước. Diễn biến trong tuần khá "phẳng", tăng giảm đan xen từng ngày nhưng biên độ hẹp, cho thấy cung cầu ngoại tệ trong hệ thống vẫn cân bằng. Thị trường tự do cũng hạ nhiệt, kết tuần ở mức 26.760 - 26.820 VND/USD (mua vào - bán ra).

Trong tuần qua, diễn biến tỷ giá tại các ngân hàng thương mại nhìn chung phân hóa theo từng đồng tiền, với xu hướng điều chỉnh giảm là chủ đạo ở nhóm ngoại tệ mạnh, trong khi USD giữ trạng thái tương đối ổn định.

Theo đó, tỷ giá USD tại Vietcombank hiện ở mức 26.053 - 26.383 VND/USD, tăng nhẹ 6 đồng ở cả chiều mua và bán ra so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tại BIDV, tỷ giá USD đứng ở 26.083 - 26.383 VND/USD, ghi nhận giá mua giảm 120 đồng nhưng giá bán ra tăng 6 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số Dollar Index (DXY) trải qua 1 tuần tăng nhiệt, hiện ở mức 99,03 điểm. Sau khi sụt giảm 9,4% trong năm 2025, mức giảm lớn thứ hai trong hai thập kỷ, Bank of America (BofA) dự báo đồng bạc xanh sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực giảm giá trong năm nay.

Dựa trên dữ liệu lịch sử, BofA cho biết, trong 80% trường hợp tương tự, USD thường giảm thêm trung bình 8% vào năm kế tiếp. Với kịch bản "hạ cánh mềm" giống năm 1995, chỉ số DXY có thể lùi về mốc 95 điểm. Áp lực này càng gia tăng khi dòng vốn có xu hướng dịch chuyển sang các thị trường chứng khoán quốc tế ngoài Mỹ.

Đối với tỷ giá EUR, Vietcombank niêm yết ở mức 29.828,99 - 31.401,63 VND/EUR, giảm lần lượt 216,2 đồng ở chiều mua và 251,7 đồng ở chiều bán ra. BIDV cũng điều chỉnh mạnh khi tỷ giá lùi về 30.153 - 31.418 VND/EUR, tương ứng giảm 319 đồng ở chiều mua và 177 đồng ở chiều bán, phản ánh sự suy yếu của đồng euro trong tuần.

Với tỷ giá GBP, Vietcombank niêm yết ở mức 34.380,25 - 35.839,75 VND/GBP, giảm nhẹ 15,7 đồng ở chiều mua và 43,6 đồng ở chiều bán ra. Trong khi đó, BIDV ghi nhận tỷ giá 34.826 - 35.858 VND/GBP, với giá mua giảm mạnh 133 đồng nhưng giá bán ra tăng 38 đồng.

Với tỷ giá JPY, biến động rất hẹp. Vietcombank giữ mức 161,5 - 171,76 VND/JPY, giảm 0,4 đồng ở chiều mua và 0,6 đồng ở chiều bán. Đối với tỷ giá CNY, Vietcombank niêm yết ở mức 3.666,28 - 3.821,92 VND/CNY, tăng nhẹ 3,2 đồng ở chiều mua và 0,4 đồng ở chiều bán.

Đánh giá về chuyển động chính sách tiền tệ tại các ngân hàng trung ương lớn, nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, đồng JPY tiếp tục suy yếu khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) chưa phát tín hiệu rõ ràng về đợt nâng lãi tiếp theo, dù vừa tăng lãi suất trong tháng 12/2025, trong khi chênh lệch lợi suất với trái phiếu Mỹ vẫn duy trì ở mức cao.

Trong khi đó, EUR ít biến động khi thị trường chờ thêm tín hiệu chính sách mới từ Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) trong kỳ họp đầu năm 2026. Đồng bảng Anh GBP đi ngang khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) vẫn giữ lập trường thận trọng trong bối cảnh lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt./.

Công ty Chứng khoán Yuanta cho biết, trong năm 2025, tỷ giá chịu áp lực mạnh trong nửa đầu năm, song đã hạ nhiệt về cuối năm nhờ nguồn cung ngoại tệ duy trì ổn định, chênh lệch lãi suất VND-USD được nới rộng trở lại, cùng với sự điều tiết kịp thời của Ngân hàng Nhà nước góp phần ổn định thị trường. Kết thúc năm 2025, tỷ giá USD/VND ghi nhận mức tăng khoảng 3,2%.

"Bước sang năm 2026, chúng tôi cho rằng, áp lực tỷ giá vẫn hiện hữu nhưng sẽ giảm so với năm 2025, theo đó VND có thể mất giá khoảng 2,4% so với USD trong cả năm" - Chứng khoán Yuanta dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngân hàng