Sức mạnh đồng USD và thách thức trong điều hành tỷ giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - USD vẫn duy trì vị thế "thống trị" toàn cầu và sức mạnh ở mức cao so với trung bình lịch sử. Biến động tỷ giá gần đây đang tạo áp lực trái chiều lên doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam, đòi hỏi chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt, chủ động để ứng phó.
aa
Sức mạnh đồng USD và thách thức trong điều hành tỷ giá

Trong hai thập kỷ qua, vai trò "thống trị" của đồng USD trong hệ thống tài chính toàn cầu vẫn duy trì ổn định, bất chấp các biến động kinh tế vĩ mô và xu hướng "phi đô la hóa". Đồng USD "thống trị" ở nhiều lĩnh vực, hoạt động, gồm: hóa đơn thương mại và xuất khẩu, hệ thống thanh toán quốc tế, giao dịch tài chính và ngân hàng toàn cầu, cũng như giao dịch ngoại hối...

Doanh nghiệp chịu áp lực trái chiều

Đồng USD đang giao dịch ở gần vùng đỉnh của chu kỳ tăng giá lần thứ ba. Dù chỉ số DXY điều chỉnh mạnh gần đây xuống 92,27 điểm, do sự bất ổn của chính sách thuế quan và nợ công thiếu bền vững của Mỹ khiến cho niềm tin vào USD lung lay, USD vẫn đang ở mức cao hơn so với trung bình trong quá khứ.

Trong bối cảnh đó, thống kê cho thấy, từ năm 2022 đến nay, VND mất giá khoảng 15%, dù DXY sụt giảm. Nhiều doanh nghiệp niêm yết lỗ tỷ giá do nợ vay ngoại tệ lớn, đẩy chi phí tăng và bào mòn lợi nhuận, song một số ngành vẫn hưởng lợi từ diễn biến này.

Ngành công nghệ phần mềm với đại diện là FPT hưởng lợi từ biến động tỷ giá, nhờ 46% doanh thu đến từ thị trường nước ngoài. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, Tập đoàn này ghi nhận mức lãi hơn 500 tỷ đồng nhờ chênh lệch tỷ giá đã thực hiện.

Ngành vận tải cũng tương quan dương với tỷ giá, trong đó VietJet ghi nhận lãi tỷ giá nhờ doanh thu quốc tế và hoạt động bán - thuê lại máy bay, đạt 83,4 tỷ đồng trong quý I/2025 và tổng cộng 954 tỷ đồng 2 năm gần đây (2023 - 2024). Trong khi đó, Gemadept không có nợ vay USD, các khoản ngoại tệ phát sinh đều liên quan đến hoạt động thu tiền hãng tàu, doanh nghiệp cũng có phòng ngừa rủi ro tỷ giá nên tác động của tiền đồng mất giá không đáng kể.

Ngành dệt may, gần như không bị ảnh hưởng nhờ thực hiện hiệu quả các biện pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Một số doanh nghiệp như Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (POW), Công ty cổ phần Kinh doanh LPG Việt Nam (PVG) chịu áp lực do vay ngoại tệ.

Theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), doanh thu ngoại tệ chỉ chiếm khoảng 6 - 7% tổng doanh thu các doanh nghiệp niêm yết trên sàn, chỉ khoảng 52/318 doanh nghiệp có rủi ro liên quan đến tỷ giá một cách thường xuyên và đáng kể.

Theo PGS.TS. Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế, tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp có vay nợ bằng ngoại tệ. Doanh nghiệp xuất khẩu thường hưởng lợi nhờ doanh thu bằng USD tăng lên khi quy đổi sang VND. Ngược lại, doanh nghiệp nhập khẩu hoặc vay ngoại tệ sẽ chịu áp lực lớn do chi phí nhập khẩu và trả nợ gia tăng khi đồng nội tệ mất giá.

"Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp cần chủ động áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro tỷ giá, như sử dụng hợp đồng kỳ hạn hoặc đa dạng hóa nguồn cung ứng để giảm thiểu tác động tiêu cực" - ông Long bày tỏ.

Giữ ổn định tỷ giá trong bối cảnh bất định

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, Việt Nam nên áp dụng cơ chế tỷ giá linh hoạt, phản ánh cung cầu thị trường, đồng thời sẵn sàng can thiệp khi cần thiết để ngăn chặn biến động mạnh, bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia. "Duy trì mức dự trữ ngoại hối đủ lớn giúp Ngân hàng Nhà nước có khả năng can thiệp hiệu quả khi thị trường ngoại hối biến động, đảm bảo ổn định tỷ giá và niềm tin của nhà đầu tư. Theo dõi chặt chẽ các dòng vốn quốc tế, đặc biệt là các khoản vay ngoại tệ ngắn hạn, để giảm thiểu rủi ro từ biến động tỷ giá và đảm bảo an toàn cho hệ thống tài chính" - ông Long lưu ý.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh nhận định, là một nền kinh tế mở quy mô nhỏ, Việt Nam chịu tác động không nhỏ từ biến động lãi suất và dòng vốn quốc tế. Do vậy, chính sách tiền tệ của Việt Nam cần chủ động, linh hoạt để đảm bảo ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, giữ ổn định tỷ giá và hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh mới.

Theo ông Huân, việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Để ổn định tỷ giá USD/VND, Ngân hàng Nhà nước có thể kết hợp nhiều biện pháp. Theo đó, duy trì chênh lệch lãi suất VND-USD đủ hấp dẫn thông qua nghiệp vụ thị trường mở, đẩy lãi suất VND lên.

Bên cạnh đó, cần khuyến khích doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá (hedging) thông qua phái sinh, giảm áp lực lên thị trường giao ngay. "Chúng ta đang đứng trước áp lực về tỷ giá rất lớn trong bối cảnh chính sách thuế quan vẫn chưa rõ ràng, cũng như dự trữ ngoại hối đang xuống khá thấp" - ông Huân lưu ý.

Trong trung hạn, để giảm sự phụ thuộc vào USD, Việt Nam có thể mở rộng sử dụng tiền tệ khác trong thanh toán quốc tế như: Yuan, RMB, JPY thông qua thỏa thuận hoán đổi và thúc đẩy thanh toán bằng VND với các đối tác lân cận. Mặc dù USD vẫn thống trị, nhưng đa dạng hóa sẽ giúp giảm cú sốc nếu USD biến động mạnh.

Kiểm soát dòng vốn ra vào trong giai đoạn biến động

"Điều hành tỷ giá linh hoạt theo thị trường có kiểm soát biên độ, cho phép VND mất giá từ từ thay vì neo cứng, tránh cạn kiệt dự trữ. Thực tế, năm 2022, Ngân hàng Nhà nước nới biên độ tỷ giá từ 3% lên 5% để hấp thụ "cú sốc" bên ngoài. Cùng với đó, kiểm soát dòng vốn ra vào trong giai đoạn biến động, có thể áp dụng các biện pháp như hạn chế vay ngoại tệ ngắn hạn, khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi ngoại tệ có kỳ hạn, tăng cường thu hút FDI chất lượng và hạn chế dòng vốn nóng đầu cơ. Việt Nam vẫn quản lý tài khoản vốn nhất định, đây là lợi thế để phòng vệ trước biến động nhanh" - PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

Tỷ lệ LDR tăng theo công thức mới, trần 95% vẫn rộng với phần lớn ngân hàng

SSI Research đánh giá, Thông tư số 50/2026/TT-NHNN tạo bước đệm nới lỏng trong ngắn hạn, khi nâng trần LDR từ 85% lên 95%. Về dài hạn, việc áp dụng các chỉ tiêu Basel III được đánh giá là bước đi đúng hướng, chuyển trọng tâm quản lý từ “số lượng” sang “chất lượng” bảng cân đối.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30