Tỷ giá "bớt nóng" khi Ngân hàng Nhà nước bán USD kỳ hạn, song áp lực dài hạn chưa nguôi

(TBTCO) - Ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước bán ngoại tệ kỳ hạn 180 ngày với giá 26.550 VND/USD cho các ngân hàng có trạng thái âm, nhằm hạ nhiệt tỷ giá sau nhiều phiên lập đỉnh. Dù vậy, theo nhóm phân tích VDSC, áp lực đối với tỷ giá sẽ chưa có thay đổi cơ bản nếu cầu ngoại tệ tiếp tục tăng cuối năm.
aa
Giải mã áp lực tỷ giá từ chuyển động ngầm của cán cân thanh toán tổng thể Tỷ giá chịu áp lực, Ngân hàng Nhà nước cân nhắc dừng giảm lãi suất Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/8: Tỷ giá GBP vượt 36.000 đồng, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh

Ngày 25 - 26/8, Ngân hàng Nhà nước tiến hành can thiệp bán ngoại tệ có kỳ hạn, có huỷ ngang trong 180 ngày với giá bán 26.550 VND/USD cho các ngân hàng có trạng thái ngoại tệ âm.

Theo quy định, với giao dịch kỳ hạn từ 100 triệu USD trở lên, ngân hàng được phép hủy tối đa 3 lần; còn dưới 100 triệu USD, mức hủy tối đa là 2 lần. Động thái này được đưa ra trong bối cảnh tỷ giá trượt dần, liên tục lập đỉnh lịch sử năm nay.

Thực tế, Ngân hàng Nhà nước nhiều lần sử dụng công cụ này để điều tiết thị trường. Cuối năm 2015, Ngân hàng Nhà nước chào bán ngoại tệ kỳ hạn 90 ngày cho phép hủy ngang, đồng thời áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm.

Đến đầu năm 2021, cơ quan này chuyển sang mua ngoại tệ kỳ hạn 6 tháng có hủy ngang nhằm gia tăng dự trữ ngoại hối và ứng phó với cáo buộc “thao túng tiền tệ” từ Mỹ. Gần đây nhất, tháng 1/2025, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục bán ngoại tệ kỳ hạn hủy ngang ở mức 25.450 VND/USD để đối phó sức ép quốc tế ngày càng lớn.

Khi bán ngoại tệ giao ngay, Ngân hàng Nhà nước phải xuất quỹ ngay lập tức, dễ tạo áp lực thanh khoản tạm thời và đẩy lãi suất liên ngân hàng tăng cao. Trong khi đó, với hợp đồng kỳ hạn, việc thanh toán diễn ra trong tương lai (hiện là 180 ngày), giúp Ngân hàng Nhà nước có thêm dư địa cân đối nguồn cung, nhất là khi các dòng vốn như kiều hối hay FDI được dự báo sẽ tích cực hơn vào cuối năm.

Tỷ giá
Nguồn: VDSC.

Theo nhóm phân tích của Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), động thái này có ý nghĩa định hướng về điểm neo tỷ giá và thăm dò nhu cầu USD khi Ngân hàng Nhà nước thực tế chưa can thiệp trực tiếp thông qua bán ngoại tệ giao ngay.

"Do chỉ có các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm mới có thể đăng ký mua, tỷ giá đã có nhịp giảm kỹ thuật sau biện pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, áp lực đối với tỷ giá sẽ chưa có thay đổi cơ bản nếu nhu cầu ngoại tệ từ nay đến cuối năm tiếp tục tăng" - VDSC đánh giá.

Theo quan sát của nhóm phân tích VDSC, chênh lệch lãi suất VND-USD và biến động chỉ số DXY không phải là yếu tố gây áp lực lên tỷ giá trong giai đoạn hiện nay.

"Lãi suất cho vay VND qua đêm trung bình trong tháng 8 đạt khoảng 5%, dẫn đến mức chênh lệch dương giữa VND-USD trong tháng qua. Điều này cho thấy chênh lệch lãi suất VND-USD không phải là yếu tố gây áp lực đối với tỷ giá" - VDSC phân tích.

"Nhu cầu USD trong nước tăng có nguyên nhân đến từ nhu cầu thực nhưng cũng có thể đến từ tình trạng găm giữ USD trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đang thực hiện nới lỏng chính sách tiền tệ" - VDSC nhận định.

Theo ghi nhận, sau động thái nâng dần tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước trong tháng trước, tỷ giá trên thị trường đã có nhịp tăng mạnh hơn trong tháng 8, tương ứng VND vẫn mất giá thêm khoảng 0,4 - 0,6%.

Tỷ giá bán tại Vietcombank có thời điểm chạm trần biên độ tại ngày 21/8 trước khi có hành động can thiệp bán ngoại tệ có kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước. Sau khi giảm nhiệt vào cuối tuần trước và trong phiên 25/8, tỷ giá USD niêm yết tại nhiều ngân hàng đã quay đầu tăng trở lại phiên 26/8. So với đầu năm, VND mất giá khoảng 2,8 - 3,6% trên thị trường chính thức và tự do./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30