Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong tháng qua, mặt bằng lãi suất tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại gần như đi ngang, đặc biệt là ở nhóm ngân hàng lớn. Sự ổn định này khiến bảng xếp hạng các nhà băng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7 không ghi nhận nhiều xáo trộn, với mức lãi suất thông thường ở hầu hết các kỳ hạn vẫn dưới 6%/năm.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6 "Vững tay lái" trước sóng gió lãi suất toàn cầu Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong vòng một tháng qua, tính đến giữa tháng 7/2025, các ngân hàng thương mại chỉ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm ở mức rất nhỏ giọt. Đơn cử, VPBank tăng 0,1%/năm cho các kỳ hạn từ 1 - 36 tháng; VCBNeo tăng 0,1% các kỳ hạn từ 1 - 3 tháng; GPBank tăng 0,1 - 0,2% các kỳ hạn. Ở chiều ngược lại, NCB điều chỉnh giảm nhẹ từ 0,1% ở hầu hết các kỳ hạn; BacABank sau đợt tăng mạnh giữa tháng 5 thì nay lại là ngân hàng có xu hướng giảm rõ nét nhất khi liên tục hạ lãi suất ở tất cả các kỳ hạn khảo sát, trong đó có kỳ hạn giảm 2 lần liên tiếp, mỗi lần 0,1%.

Thứ hạng các ngân hàng đang trả lãi cao nhất

Nhóm bốn ngân hàng thương mại nhà nước Big4 gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank tiếp tục giữ mặt bằng lãi suất huy động thấp nhất thị trường. Đây cũng là nhóm có lãi suất cho vay thấp nhất, đặc biệt với các gói tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1 - 3 tháng tại ba “ông lớn” VietinBank, Vietcombank và BIDV chỉ ở mức 1,6 - 1,9%/năm, trong khi Agribank nhỉnh hơn nhẹ ở mức 2,1 - 2,4%. Kỳ hạn 12 tháng dao động từ 4,6 - 4,7%, và kỳ hạn 24 tháng đạt 4,8%, phản ánh rõ xu hướng duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ cho vay ưu đãi theo chủ trương.

Ở nhóm ngân hàng thương mại lớn, mặt bằng lãi suất cao hơn đáng kể nhưng cũng không có nhiều biến động nổi bật. VPBank áp dụng mức lãi suất từ 3,6% (1 tháng) đến 5,2% (24 tháng), trong khi Techcombank niêm yết dao động từ 3,05% đến 4,55% tùy kỳ hạn. MB và ACB giữ mức lãi suất ổn định, phổ biến quanh 3,2 - 4,85% tùy theo thời hạn gửi. Trong đó, VPBank dẫn đầu nhóm ngân hàng lớn về lãi suất ở các kỳ hạn từ 1 - 12 tháng, trong khi kỳ hạn 24 tháng cao nhất thuộc về MB với mức 5,7%/năm.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Sau khi các ngân hàng điều chỉnh nhẹ lãi suất trong tháng 7/2025, bảng xếp hạng các ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất ở từng kỳ hạn không có nhiều biến động so với tháng trước. Tại kỳ hạn 1 tháng, VCBNeo vẫn giữ vị trí dẫn đầu với mức lãi suất 4,15%/năm, trở thành ngân hàng có lãi suất cao nhất. Vikki Bank lên vị trí thứ hai sau khi BacABank hạ lãi suất. Nhóm top 3 ở kỳ hạn này với mức 3,8% gồm nhiều cái tên như: MBV, BacABank, BVBank và VietBank.

Tổng thể, VCBNeo là ngân hàng nổi bật nhất ở kỳ hạn ngắn, khi lần lượt giữ ngôi đầu kỳ hạn 1 - 6 tháng; MBV giữ top đầu ở kỳ hạn 6 - 24 tháng. Còn BacABank là ngân hàng từng áp đảo ở nhiều kỳ hạn trong tháng 6, nay rơi khỏi top đầu tại nhiều kỳ hạn do điều chỉnh giảm lãi suất.

Với kỳ hạn 6 tháng được nhiều người dân quan tâm nhất, VCBNeo điều chỉnh tăng lãi suất, vươn lên ngang bằng với MBV, đồng thời cùng chia sẻ vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng. BacABank lùi về vị trí thứ hai, với mức lãi suất 5,25%. Vikki Bank vẫn giữ chỗ đứng trong top 3 như tháng trước.

Tại kỳ hạn 12 tháng, thứ hạng giữ nguyên khi MBV dẫn đầu với 5,7%; Saigonbank top 2 với mức lãi suất 5,6%/năm, Vikki Bank giữ top 3 với mức lãi suất 5,57%.

Với kỳ hạn dài nhất, 24 tháng, MBV và BVBank tiếp tục dẫn đầu với mức lãi suất 5,9%/năm, cao nhất toàn thị trường. Vikki Bank ở vị trí thứ hai, top ba có sự góp mặt với nhiều tên tuổi như: BacABank, VietBank, Saigonbank và TPBank.

Mặc dù mặt bằng lãi suất huy động vẫn ở mức thấp và chỉ biến động nhẹ, dòng tiền gửi từ khu vực dân cư tiếp tục tăng mạnh. Tính đến tháng 4/2025, tổng tiền gửi trong toàn hệ thống ngân hàng đã vượt mốc 15 triệu tỷ đồng, đánh dấu tháng tăng trưởng thứ 15 liên tiếp, bất chấp lãi suất tiết kiệm không hấp dẫn như các giai đoạn trước.

Lãi suất tiền gửi có khả năng vẫn chưa giảm chạm đáy

Trong công tác điều hành lãi suất, nửa đầu năm 2025, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi, tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7. Ảnh minh họa

Chia sẻ gần đây, theo lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), việc cắt giảm lãi suất điều hành thời gian qua đã kéo theo mặt bằng lãi suất cho vay giảm liên tục, với lãi suất cho vay bình quân chỉ hơn 6%/năm; riêng trong 6 tháng đầu năm, lãi suất cho vay mới giảm thêm 0,64% so với cuối năm 2024.

Mặc dù mặt bằng lãi suất tiền gửi có dấu hiệu ổn định, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đây chưa phải là mức đáy và vẫn còn dư địa để giảm thêm trong quý III. Cơ sở cho nhận định này là tăng trưởng tín dụng đã tăng mạnh kể từ tháng 4, trong khi lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ổn định và gần đây còn thể hiện xu hướng giảm rõ rệt.

"Tuy nhiên, đến quý IV, lãi suất huy động có thể sẽ tăng nhẹ khi tăng trưởng tín dụng thường có xu hướng bứt tốc vào cuối năm. Dựa trên những yếu tố nêu trên, chúng tôi giữ nguyên dự báo rằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 4,7% trong suốt năm 2025" - MBS dự báo.

"Điều này cho thấy thanh khoản hệ thống đang ở trạng thái dồi dào, và tình trạng thiếu hụt thanh khoản vào cuối quý II chủ yếu mang tính mùa vụ. Tính đến cuối quý II, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm gần đây" - MBS nhận định.

Cũng theo Công ty Chứng khoán Vietcap, Ngân hàng Nhà nước được dự báo sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng trong năm 2025 nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Dự kiến, cơ quan điều hành sẽ chủ động bơm thanh khoản để giữ mặt bằng lãi suất ở mức thấp. Trong kịch bản bất lợi, khi thuế đối ứng được áp dụng ở mức cao, Ngân hàng Nhà nước thậm chí có thể xem xét cắt giảm lãi suất điều hành.

"Trần lãi suất tiền gửi (kỳ hạn dưới 6 tháng) sẽ không thay đổi ở mức 4,75% trong giai đoạn 2025 - 2027, so với dự báo trước đây là tăng 25 điểm cơ bản vào cuối năm 2025" - Chứng khoán Vietcap dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 14,750
Kim TT/AVPL 14,300 14,650
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 14,050
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 14,030
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 14,750
Miếng SJC Nghệ An 14,450 14,750
Miếng SJC Thái Bình 14,450 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,670
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,860 14,560
Trang sức 99.99 13,870 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 14,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 14,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 147
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 1,471
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cập nhật: 15/07/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17689 17963 18539
CAD 18080 18355 18974
CHF 31652 32032 32676
CNY 0 3831 3925
EUR 29279 29499 30579
GBP 34309 34700 35633
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14909 15497
SGD 19759 20041 20620
THB 698 762 815
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26078 26078 26440
AUD 17905 18005 18931
CAD 18296 18396 19407
CHF 31939 31969 33543
CNY 3814.2 3839.2 3974.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29488 29518 31243
GBP 34640 34690 36442
HKD 0 3355 0
JPY 158.39 158.89 169.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15046 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19935 20065 20793
THB 0 727.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,085 26,135 26,450
USD20 26,085 26,135 26,450
USD1 26,085 26,135 26,450
AUD 17,921 18,021 19,128
EUR 29,268 29,368 31,026
CAD 18,209 18,309 19,612
SGD 19,999 20,149 20,930
JPY 158.72 160.22 165.75
GBP 34,474 34,624 35,686
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80