Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong tháng qua, mặt bằng lãi suất tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại gần như đi ngang, đặc biệt là ở nhóm ngân hàng lớn. Sự ổn định này khiến bảng xếp hạng các nhà băng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7 không ghi nhận nhiều xáo trộn, với mức lãi suất thông thường ở hầu hết các kỳ hạn vẫn dưới 6%/năm.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6 "Vững tay lái" trước sóng gió lãi suất toàn cầu Lãi suất huy động "lặng sóng", lãi vay tiếp đà hạ nhiệt

Khảo sát của phóng viên cho thấy, trong vòng một tháng qua, tính đến giữa tháng 7/2025, các ngân hàng thương mại chỉ điều chỉnh lãi suất tiết kiệm ở mức rất nhỏ giọt. Đơn cử, VPBank tăng 0,1%/năm cho các kỳ hạn từ 1 - 36 tháng; VCBNeo tăng 0,1% các kỳ hạn từ 1 - 3 tháng; GPBank tăng 0,1 - 0,2% các kỳ hạn. Ở chiều ngược lại, NCB điều chỉnh giảm nhẹ từ 0,1% ở hầu hết các kỳ hạn; BacABank sau đợt tăng mạnh giữa tháng 5 thì nay lại là ngân hàng có xu hướng giảm rõ nét nhất khi liên tục hạ lãi suất ở tất cả các kỳ hạn khảo sát, trong đó có kỳ hạn giảm 2 lần liên tiếp, mỗi lần 0,1%.

Thứ hạng các ngân hàng đang trả lãi cao nhất

Nhóm bốn ngân hàng thương mại nhà nước Big4 gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank tiếp tục giữ mặt bằng lãi suất huy động thấp nhất thị trường. Đây cũng là nhóm có lãi suất cho vay thấp nhất, đặc biệt với các gói tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1 - 3 tháng tại ba “ông lớn” VietinBank, Vietcombank và BIDV chỉ ở mức 1,6 - 1,9%/năm, trong khi Agribank nhỉnh hơn nhẹ ở mức 2,1 - 2,4%. Kỳ hạn 12 tháng dao động từ 4,6 - 4,7%, và kỳ hạn 24 tháng đạt 4,8%, phản ánh rõ xu hướng duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ cho vay ưu đãi theo chủ trương.

Ở nhóm ngân hàng thương mại lớn, mặt bằng lãi suất cao hơn đáng kể nhưng cũng không có nhiều biến động nổi bật. VPBank áp dụng mức lãi suất từ 3,6% (1 tháng) đến 5,2% (24 tháng), trong khi Techcombank niêm yết dao động từ 3,05% đến 4,55% tùy kỳ hạn. MB và ACB giữ mức lãi suất ổn định, phổ biến quanh 3,2 - 4,85% tùy theo thời hạn gửi. Trong đó, VPBank dẫn đầu nhóm ngân hàng lớn về lãi suất ở các kỳ hạn từ 1 - 12 tháng, trong khi kỳ hạn 24 tháng cao nhất thuộc về MB với mức 5,7%/năm.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Sau khi các ngân hàng điều chỉnh nhẹ lãi suất trong tháng 7/2025, bảng xếp hạng các ngân hàng có lãi suất huy động cao nhất ở từng kỳ hạn không có nhiều biến động so với tháng trước. Tại kỳ hạn 1 tháng, VCBNeo vẫn giữ vị trí dẫn đầu với mức lãi suất 4,15%/năm, trở thành ngân hàng có lãi suất cao nhất. Vikki Bank lên vị trí thứ hai sau khi BacABank hạ lãi suất. Nhóm top 3 ở kỳ hạn này với mức 3,8% gồm nhiều cái tên như: MBV, BacABank, BVBank và VietBank.

Tổng thể, VCBNeo là ngân hàng nổi bật nhất ở kỳ hạn ngắn, khi lần lượt giữ ngôi đầu kỳ hạn 1 - 6 tháng; MBV giữ top đầu ở kỳ hạn 6 - 24 tháng. Còn BacABank là ngân hàng từng áp đảo ở nhiều kỳ hạn trong tháng 6, nay rơi khỏi top đầu tại nhiều kỳ hạn do điều chỉnh giảm lãi suất.

Với kỳ hạn 6 tháng được nhiều người dân quan tâm nhất, VCBNeo điều chỉnh tăng lãi suất, vươn lên ngang bằng với MBV, đồng thời cùng chia sẻ vị trí dẫn đầu bảng xếp hạng. BacABank lùi về vị trí thứ hai, với mức lãi suất 5,25%. Vikki Bank vẫn giữ chỗ đứng trong top 3 như tháng trước.

Tại kỳ hạn 12 tháng, thứ hạng giữ nguyên khi MBV dẫn đầu với 5,7%; Saigonbank top 2 với mức lãi suất 5,6%/năm, Vikki Bank giữ top 3 với mức lãi suất 5,57%.

Với kỳ hạn dài nhất, 24 tháng, MBV và BVBank tiếp tục dẫn đầu với mức lãi suất 5,9%/năm, cao nhất toàn thị trường. Vikki Bank ở vị trí thứ hai, top ba có sự góp mặt với nhiều tên tuổi như: BacABank, VietBank, Saigonbank và TPBank.

Mặc dù mặt bằng lãi suất huy động vẫn ở mức thấp và chỉ biến động nhẹ, dòng tiền gửi từ khu vực dân cư tiếp tục tăng mạnh. Tính đến tháng 4/2025, tổng tiền gửi trong toàn hệ thống ngân hàng đã vượt mốc 15 triệu tỷ đồng, đánh dấu tháng tăng trưởng thứ 15 liên tiếp, bất chấp lãi suất tiết kiệm không hấp dẫn như các giai đoạn trước.

Lãi suất tiền gửi có khả năng vẫn chưa giảm chạm đáy

Trong công tác điều hành lãi suất, nửa đầu năm 2025, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Nhà nước với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước thường xuyên chỉ đạo tổ chức tín dụng tiếp tục ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi, tiết giảm chi phí hoạt động, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các giải pháp khác để phấn đấu hạ lãi suất cho vay.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7. Ảnh minh họa

Chia sẻ gần đây, theo lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), việc cắt giảm lãi suất điều hành thời gian qua đã kéo theo mặt bằng lãi suất cho vay giảm liên tục, với lãi suất cho vay bình quân chỉ hơn 6%/năm; riêng trong 6 tháng đầu năm, lãi suất cho vay mới giảm thêm 0,64% so với cuối năm 2024.

Mặc dù mặt bằng lãi suất tiền gửi có dấu hiệu ổn định, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS), đây chưa phải là mức đáy và vẫn còn dư địa để giảm thêm trong quý III. Cơ sở cho nhận định này là tăng trưởng tín dụng đã tăng mạnh kể từ tháng 4, trong khi lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ổn định và gần đây còn thể hiện xu hướng giảm rõ rệt.

"Tuy nhiên, đến quý IV, lãi suất huy động có thể sẽ tăng nhẹ khi tăng trưởng tín dụng thường có xu hướng bứt tốc vào cuối năm. Dựa trên những yếu tố nêu trên, chúng tôi giữ nguyên dự báo rằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 4,7% trong suốt năm 2025" - MBS dự báo.

"Điều này cho thấy thanh khoản hệ thống đang ở trạng thái dồi dào, và tình trạng thiếu hụt thanh khoản vào cuối quý II chủ yếu mang tính mùa vụ. Tính đến cuối quý II, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng 19,3% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng trưởng cao nhất trong nhiều năm gần đây" - MBS nhận định.

Cũng theo Công ty Chứng khoán Vietcap, Ngân hàng Nhà nước được dự báo sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng trong năm 2025 nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Dự kiến, cơ quan điều hành sẽ chủ động bơm thanh khoản để giữ mặt bằng lãi suất ở mức thấp. Trong kịch bản bất lợi, khi thuế đối ứng được áp dụng ở mức cao, Ngân hàng Nhà nước thậm chí có thể xem xét cắt giảm lãi suất điều hành.

"Trần lãi suất tiền gửi (kỳ hạn dưới 6 tháng) sẽ không thay đổi ở mức 4,75% trong giai đoạn 2025 - 2027, so với dự báo trước đây là tăng 25 điểm cơ bản vào cuối năm 2025" - Chứng khoán Vietcap dự báo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17858 18132 18710
CAD 18577 18854 19471
CHF 32728 33113 33762
CNY 0 3470 3830
EUR 29944 30217 31245
GBP 34523 34915 35849
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15044 15632
SGD 20057 20340 20867
THB 722 786 839
USD (1,2) 26083 0 0
USD (5,10,20) 26124 0 0
USD (50,100) 26152 26172 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26359
AUD 18049 18149 19074
CAD 18761 18861 19872
CHF 32977 33007 34594
CNY 3760.2 3785.2 3920.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30124 30154 31879
GBP 34825 34875 36635
HKD 0 3355 0
JPY 162.43 162.93 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20219 20349 21083
THB 0 752.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17400000 17400000 18200000
SBJ 15000000 15000000 18200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80