"Vững tay lái" trước sóng gió lãi suất toàn cầu

(TBTCO) - Việc tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, điều hành chủ động và phối hợp chính sách đồng bộ sẽ giúp Việt Nam "vững tay lái" trước sóng gió từ chu kỳ lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn, qua đó, hiện thực hóa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tăng trưởng nhanh, bền vững trong những năm tới.
aa
Duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Ảnh tư liệu

Để hiểu rõ logic điều hành của các ngân hàng trung ương, có thể liên hệ đến hai hệ tư tưởng tiền tệ nổi bật vận dụng lý thuyết của Milton Friedman (trường phái trọng tiền) và Ben Bernanke (chính sách tiền tệ thời khủng hoảng).

Việc vận dụng hai lý thuyết này giúp lý giải xu hướng điều chỉnh lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) giai đoạn 2023 - 2025. Trên cơ sở đó, có thể rút ra một số khuyến nghị cho chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Còn dư địa hạ lãi suất, song cần chờ tín hiệu rõ ràng

Sự đối lập chính sách giữa Fed, ECB và PBoC phản ánh khác biệt về bối cảnh kinh tế và tạo ảnh hưởng sâu rộng tới thị trường tài chính toàn cầu. Theo đó, Fed tăng lãi suất mạnh nhất kể từ thập niên 1980, nâng lãi suất từ gần 0 lên 5,25 - 5,5% từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2023, nhanh hơn nhiều so với chu kỳ thắt chặt 1994 (3 điểm phần trăm) và chỉ kém cú sốc Volcker 1979 - 1980 (tăng 10 điểm phần trăm trong 18 tháng). Đến cuối 2024 - đầu 2025, kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp thị trường phục hồi, đồng USD suy yếu nhẹ. Chính sách Fed thể hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát theo tinh thần trọng tiền, đồng thời linh hoạt ứng phó để bảo vệ hệ thống tài chính.

ECB cũng mạnh tay nâng lãi suất từ -0,5% lên 4% trong 10 lần liên tiếp đến tháng 9/2023, mức cao nhất kể từ khi Euro ra đời. Từ tháng 6/2024, ECB bắt đầu giảm lãi suất từng bước, đưa lãi suất tiền gửi về 2% vào giữa 2025, tức cắt 8 lần tổng cộng 2 điểm phần trăm từ đỉnh. Chu kỳ điều hành của ECB đến chậm nhưng xoay trục sớm hơn Fed, do lạm phát hạ nhanh và kinh tế Eurozone tăng trưởng yếu, đối mặt nguy cơ suy thoái cục bộ.

Linh hoạt vận dụng hai lý thuyết tiền tệ, tạo nền tảng vững chắc

"Trong giai đoạn tới, môi trường tiền tệ quốc tế sẽ tiếp tục diễn biến khó lường, Việt Nam cần vận dụng linh hoạt cả bài học kỷ luật tiền tệ của Friedman - tức luôn cảnh giác với lạm phát do cung tiền và tư duy linh hoạt của Bernanke - sẵn sàng hành động quyết đoán để ổn định kinh tế khi gặp cú sốc. Ngân hàng Nhà nước đã và đang theo đuổi chính sách tiền tệ thận trọng, hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn giữ vững ổn định vĩ mô. Sự ổn định đó là nền tảng để Việt Nam duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, tăng sức hấp dẫn với đầu tư nước ngoài và tận dụng các cơ hội từ phục hồi kinh tế toàn cầu".

Trái ngược, PBoC duy trì lãi suất thấp và liên tiếp cắt giảm một số lãi suất chủ chốt. Chưa đầy 2 năm, lãi suất cho vay tại Trung Quốc giảm tổng cộng khoảng 0,85 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 năm và 1,1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 5 năm... Chính sách nới lỏng phản ánh áp lực giảm phát và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng của Trung Quốc.

Là một nền kinh tế mở quy mô nhỏ, Việt Nam chịu tác động không nhỏ từ biến động lãi suất và dòng vốn quốc tế.

Trong bối cảnh quốc tế biến động, ưu tiên hàng đầu là điều hành lãi suất chủ động, hài hòa. Thời gian tới, nếu Fed/ECB tiếp tục xu hướng cắt giảm lãi suất, Việt Nam có thể mạnh dạn hạ thêm lãi suất để kích thích kinh tế, khi dư địa lạm phát cho phép.

Mục tiêu là duy trì mặt bằng lãi suất thực dương hợp lý, vừa kiểm soát lạm phát, vừa không làm Việt Nam kém cạnh tranh thu hút vốn so với bên ngoài. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tuyên bố sẽ quản lý lãi suất phù hợp cân đối vĩ mô và lạm phát. Việc chủ động sớm và rõ ràng trong thông điệp lãi suất cũng giúp định hướng thị trường, tránh kỳ vọng sai lệch gây bất ổn.

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất là bài toán đánh đổi với lạm phát, chỉ khi Fed tiếp tục giảm lãi suất thì chúng ta mới nên giảm, nếu không sẽ tác động không nhỏ với ổn định tỷ giá và lạm phát.

Song song với đó, ưu tiên ổn định tỷ giá và quản lý dòng vốn hiệu quả. Việc Fed duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Cần lưu ý, chúng ta đang đứng trước áp lực tỷ giá lớn trong bối cảnh chính sách thuế quan của Mỹ lên Việt Nam chưa rõ ràng, nguy cơ bị áp thuế cao có thể làm đảo chiều dòng vốn FDI cũng như tác động đến cán cân thương mại, thanh toán tổng thể, cũng như dự trữ ngoại hối đang xuống mức khá thấp.

Trong trung hạn, Việt Nam có thể mở rộng sử dụng tiền tệ khác trong thanh toán quốc tế như: Yuan, RMB, JPY thông qua thỏa thuận hoán đổi; đồng thời, thúc đẩy thanh toán bằng VND với các đối tác lân cận. Dù USD vẫn thống trị, nhưng đa dạng hóa giúp giảm cú sốc nếu USD biến động mạnh.

Chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát

Kiểm soát lạm phát nội địa thông qua quản lý cung tiền và tín dụng là yếu tố then chốt. Bài học trọng tiền cho thấy, muốn lạm phát thấp bền vững, phải kiểm soát tốt tăng trưởng cung tiền và tín dụng. Ngân hàng Nhà nước áp dụng chính sách hạn mức tín dụng hàng năm cho các ngân hàng, đây thực chất là cách khống chế cung tiền theo hướng của Friedman.

Cần tiếp tục sử dụng công cụ này linh hoạt, đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng phù hợp mục tiêu lạm phát 4% và tăng trưởng GDP 6 - 7%. Chẳng hạn, năm 2023, tín dụng tăng khoảng 14% khi lạm phát khoảng 3%, là tương đối hợp lý. Thực tiễn cũng cho thấy, cung tiền M2/GDP khoảng 140% khá cao so với nhiều nước; do đó, việc điều tiết cung tiền cần thận trọng để tránh cả lạm phát lẫn bất ổn vĩ mô.

Để làm được điều này, chính sách tiền tệ phải linh hoạt “nới lỏng có kiểm soát”, tức sẵn sàng hỗ trợ khi kinh tế suy yếu, nhưng rút lại kịp lúc khi dấu hiệu quá nóng. Tuy nhiên, cần cảnh giác vòng xoáy tín dụng - lạm phát: khi tín dụng tăng tốc, giá tài sản tăng, phải thẩm định kỹ rủi ro lạm phát tiềm ẩn.

Ngân hàng Nhà nước có thể tận dụng các công cụ vĩ mô thận trọng (macroprudential) như: hạn chế tỷ lệ cho vay trên giá trị (LTV) trong bất động sản, kiểm soát dư nợ lĩnh vực rủi ro…, ngăn tích tụ bong bóng tài sản thời kỳ tiền rẻ.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước nên phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát. Nếu giá cả có xu hướng tăng do cầu kéo, có thể cần chính sách tài khóa thắt chặt (giảm bội chi) hỗ trợ, thay vì để gánh nặng hoàn toàn lên lãi suất. Ngược lại, khi kinh tế suy yếu và lạm phát thấp, có thể tăng chi đầu tư công để kích cầu, phối hợp hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Sự đồng bộ chính sách sẽ tăng hiệu quả, giảm chi phí kiềm chế lạm phát lên từng công cụ riêng lẻ.

Phối hợp chính sách để tạo sức đề kháng tổng hợp

Kinh nghiệm quốc tế (từ Bernanke) cho thấy, ngân hàng trung ương cần chủ động đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, đây là nền móng truyền dẫn chính sách. Ngân hàng Nhà nước cũng cần chuẩn bị sẵn công cụ hỗ trợ thanh khoản phòng khi thị trường biến động như tái kích hoạt kênh tín phiếu, OMO kỳ hạn dài hơn, hoặc một quỹ bình ổn thanh khoản liên ngân hàng.

Thực tế đầu 2023, ngân hàng nhà nươc đã linh hoạt bơm rút thanh khoản lớn qua OMO để hạ nhiệt lãi suất liên ngân hàng đang tăng vọt do căng thẳng trái phiếu doanh nghiệp, giúp tránh đổ vỡ dây chuyền. Đây là minh chứng cho cách làm kiểu Bernanke - không ngại can thiệp để bảo vệ ổn định tài chính. Mặt khác, nâng cao dự trữ ngoại hối cũng là ưu tiên để tăng sức chống chịu, dự trữ cao cũng tăng niềm tin nhà đầu tư, giảm rủi ro tấn công đầu cơ tiền tệ.

Cùng với đó, phối hợp đa chính sách trong bối cảnh quốc tế mới. Việt Nam nên có cái nhìn toàn diện do sự thay đổi chính sách của Fed, ECB, PBoC có thể tạo ra “cú sốc kép” hoặc “thuận lợi kép”. Trong mọi kịch bản, chính sách tiền tệ cần phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa, thương mại… tạo sức đề kháng tổng hợp.

Đơn cử, khi tỷ giá chịu sức ép, ngoài biện pháp tiền tệ, có thể tạm thời điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu, phí xăng dầu, giảm bớt tác động lên lạm phát. Hay khi dòng vốn biến động, có thể sử dụng hàng rào vĩ mô như yêu cầu trích lập dự phòng cao hơn cho khoản vay ngoại tệ, để giảm rủi ro. PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Đọc thêm

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 14,750
Kim TT/AVPL 14,300 14,650
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 14,050
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 14,030
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 14,750
Miếng SJC Nghệ An 14,450 14,750
Miếng SJC Thái Bình 14,450 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,670
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,860 14,560
Trang sức 99.99 13,870 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 14,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 14,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 147
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 1,471
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 145
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 143,564
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 108,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 9,876
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 88,609
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 84,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 60,621
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cập nhật: 15/07/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17689 17963 18539
CAD 18080 18355 18974
CHF 31652 32032 32676
CNY 0 3831 3925
EUR 29279 29499 30579
GBP 34309 34700 35633
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14909 15497
SGD 19759 20041 20620
THB 698 762 815
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,402 29,426 30,831
JPY 157.36 157.64 167.14
GBP 34,452 34,545 35,729
AUD 17,873 17,938 18,613
CAD 18,236 18,295 18,966
CHF 31,864 31,963 32,900
SGD 19,883 19,945 20,729
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.21 16.91 18.4
THB 747.41 756.64 809.55
NZD 14,871 15,009 15,455
SEK - 2,660 2,753
DKK - 3,933 4,072
NOK - 2,643 2,736
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,016.33 - 6,791.42
TWD 736.79 - 892.51
SAR - 6,873.09 7,239.02
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26078 26078 26440
AUD 17905 18005 18931
CAD 18296 18396 19407
CHF 31939 31969 33543
CNY 3814.2 3839.2 3974.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29488 29518 31243
GBP 34640 34690 36442
HKD 0 3355 0
JPY 158.39 158.89 169.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15046 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19935 20065 20793
THB 0 727.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,085 26,135 26,450
USD20 26,085 26,135 26,450
USD1 26,085 26,135 26,450
AUD 17,921 18,021 19,128
EUR 29,268 29,368 31,026
CAD 18,209 18,309 19,612
SGD 19,999 20,149 20,930
JPY 158.72 160.22 165.75
GBP 34,474 34,624 35,686
XAU 14,448,000 0 14,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80