"Vững tay lái" trước sóng gió lãi suất toàn cầu

(TBTCO) - Việc tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, điều hành chủ động và phối hợp chính sách đồng bộ sẽ giúp Việt Nam "vững tay lái" trước sóng gió từ chu kỳ lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn, qua đó, hiện thực hóa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tăng trưởng nhanh, bền vững trong những năm tới.
aa
Duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Ảnh tư liệu

Để hiểu rõ logic điều hành của các ngân hàng trung ương, có thể liên hệ đến hai hệ tư tưởng tiền tệ nổi bật vận dụng lý thuyết của Milton Friedman (trường phái trọng tiền) và Ben Bernanke (chính sách tiền tệ thời khủng hoảng).

Việc vận dụng hai lý thuyết này giúp lý giải xu hướng điều chỉnh lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) giai đoạn 2023 - 2025. Trên cơ sở đó, có thể rút ra một số khuyến nghị cho chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Còn dư địa hạ lãi suất, song cần chờ tín hiệu rõ ràng

Sự đối lập chính sách giữa Fed, ECB và PBoC phản ánh khác biệt về bối cảnh kinh tế và tạo ảnh hưởng sâu rộng tới thị trường tài chính toàn cầu. Theo đó, Fed tăng lãi suất mạnh nhất kể từ thập niên 1980, nâng lãi suất từ gần 0 lên 5,25 - 5,5% từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2023, nhanh hơn nhiều so với chu kỳ thắt chặt 1994 (3 điểm phần trăm) và chỉ kém cú sốc Volcker 1979 - 1980 (tăng 10 điểm phần trăm trong 18 tháng). Đến cuối 2024 - đầu 2025, kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp thị trường phục hồi, đồng USD suy yếu nhẹ. Chính sách Fed thể hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát theo tinh thần trọng tiền, đồng thời linh hoạt ứng phó để bảo vệ hệ thống tài chính.

ECB cũng mạnh tay nâng lãi suất từ -0,5% lên 4% trong 10 lần liên tiếp đến tháng 9/2023, mức cao nhất kể từ khi Euro ra đời. Từ tháng 6/2024, ECB bắt đầu giảm lãi suất từng bước, đưa lãi suất tiền gửi về 2% vào giữa 2025, tức cắt 8 lần tổng cộng 2 điểm phần trăm từ đỉnh. Chu kỳ điều hành của ECB đến chậm nhưng xoay trục sớm hơn Fed, do lạm phát hạ nhanh và kinh tế Eurozone tăng trưởng yếu, đối mặt nguy cơ suy thoái cục bộ.

Linh hoạt vận dụng hai lý thuyết tiền tệ, tạo nền tảng vững chắc

"Trong giai đoạn tới, môi trường tiền tệ quốc tế sẽ tiếp tục diễn biến khó lường, Việt Nam cần vận dụng linh hoạt cả bài học kỷ luật tiền tệ của Friedman - tức luôn cảnh giác với lạm phát do cung tiền và tư duy linh hoạt của Bernanke - sẵn sàng hành động quyết đoán để ổn định kinh tế khi gặp cú sốc. Ngân hàng Nhà nước đã và đang theo đuổi chính sách tiền tệ thận trọng, hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn giữ vững ổn định vĩ mô. Sự ổn định đó là nền tảng để Việt Nam duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, tăng sức hấp dẫn với đầu tư nước ngoài và tận dụng các cơ hội từ phục hồi kinh tế toàn cầu".

Trái ngược, PBoC duy trì lãi suất thấp và liên tiếp cắt giảm một số lãi suất chủ chốt. Chưa đầy 2 năm, lãi suất cho vay tại Trung Quốc giảm tổng cộng khoảng 0,85 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 năm và 1,1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 5 năm... Chính sách nới lỏng phản ánh áp lực giảm phát và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng của Trung Quốc.

Là một nền kinh tế mở quy mô nhỏ, Việt Nam chịu tác động không nhỏ từ biến động lãi suất và dòng vốn quốc tế.

Trong bối cảnh quốc tế biến động, ưu tiên hàng đầu là điều hành lãi suất chủ động, hài hòa. Thời gian tới, nếu Fed/ECB tiếp tục xu hướng cắt giảm lãi suất, Việt Nam có thể mạnh dạn hạ thêm lãi suất để kích thích kinh tế, khi dư địa lạm phát cho phép.

Mục tiêu là duy trì mặt bằng lãi suất thực dương hợp lý, vừa kiểm soát lạm phát, vừa không làm Việt Nam kém cạnh tranh thu hút vốn so với bên ngoài. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tuyên bố sẽ quản lý lãi suất phù hợp cân đối vĩ mô và lạm phát. Việc chủ động sớm và rõ ràng trong thông điệp lãi suất cũng giúp định hướng thị trường, tránh kỳ vọng sai lệch gây bất ổn.

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất là bài toán đánh đổi với lạm phát, chỉ khi Fed tiếp tục giảm lãi suất thì chúng ta mới nên giảm, nếu không sẽ tác động không nhỏ với ổn định tỷ giá và lạm phát.

Song song với đó, ưu tiên ổn định tỷ giá và quản lý dòng vốn hiệu quả. Việc Fed duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Cần lưu ý, chúng ta đang đứng trước áp lực tỷ giá lớn trong bối cảnh chính sách thuế quan của Mỹ lên Việt Nam chưa rõ ràng, nguy cơ bị áp thuế cao có thể làm đảo chiều dòng vốn FDI cũng như tác động đến cán cân thương mại, thanh toán tổng thể, cũng như dự trữ ngoại hối đang xuống mức khá thấp.

Trong trung hạn, Việt Nam có thể mở rộng sử dụng tiền tệ khác trong thanh toán quốc tế như: Yuan, RMB, JPY thông qua thỏa thuận hoán đổi; đồng thời, thúc đẩy thanh toán bằng VND với các đối tác lân cận. Dù USD vẫn thống trị, nhưng đa dạng hóa giúp giảm cú sốc nếu USD biến động mạnh.

Chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát

Kiểm soát lạm phát nội địa thông qua quản lý cung tiền và tín dụng là yếu tố then chốt. Bài học trọng tiền cho thấy, muốn lạm phát thấp bền vững, phải kiểm soát tốt tăng trưởng cung tiền và tín dụng. Ngân hàng Nhà nước áp dụng chính sách hạn mức tín dụng hàng năm cho các ngân hàng, đây thực chất là cách khống chế cung tiền theo hướng của Friedman.

Cần tiếp tục sử dụng công cụ này linh hoạt, đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng phù hợp mục tiêu lạm phát 4% và tăng trưởng GDP 6 - 7%. Chẳng hạn, năm 2023, tín dụng tăng khoảng 14% khi lạm phát khoảng 3%, là tương đối hợp lý. Thực tiễn cũng cho thấy, cung tiền M2/GDP khoảng 140% khá cao so với nhiều nước; do đó, việc điều tiết cung tiền cần thận trọng để tránh cả lạm phát lẫn bất ổn vĩ mô.

Để làm được điều này, chính sách tiền tệ phải linh hoạt “nới lỏng có kiểm soát”, tức sẵn sàng hỗ trợ khi kinh tế suy yếu, nhưng rút lại kịp lúc khi dấu hiệu quá nóng. Tuy nhiên, cần cảnh giác vòng xoáy tín dụng - lạm phát: khi tín dụng tăng tốc, giá tài sản tăng, phải thẩm định kỹ rủi ro lạm phát tiềm ẩn.

Ngân hàng Nhà nước có thể tận dụng các công cụ vĩ mô thận trọng (macroprudential) như: hạn chế tỷ lệ cho vay trên giá trị (LTV) trong bất động sản, kiểm soát dư nợ lĩnh vực rủi ro…, ngăn tích tụ bong bóng tài sản thời kỳ tiền rẻ.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước nên phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát. Nếu giá cả có xu hướng tăng do cầu kéo, có thể cần chính sách tài khóa thắt chặt (giảm bội chi) hỗ trợ, thay vì để gánh nặng hoàn toàn lên lãi suất. Ngược lại, khi kinh tế suy yếu và lạm phát thấp, có thể tăng chi đầu tư công để kích cầu, phối hợp hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Sự đồng bộ chính sách sẽ tăng hiệu quả, giảm chi phí kiềm chế lạm phát lên từng công cụ riêng lẻ.

Phối hợp chính sách để tạo sức đề kháng tổng hợp

Kinh nghiệm quốc tế (từ Bernanke) cho thấy, ngân hàng trung ương cần chủ động đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, đây là nền móng truyền dẫn chính sách. Ngân hàng Nhà nước cũng cần chuẩn bị sẵn công cụ hỗ trợ thanh khoản phòng khi thị trường biến động như tái kích hoạt kênh tín phiếu, OMO kỳ hạn dài hơn, hoặc một quỹ bình ổn thanh khoản liên ngân hàng.

Thực tế đầu 2023, ngân hàng nhà nươc đã linh hoạt bơm rút thanh khoản lớn qua OMO để hạ nhiệt lãi suất liên ngân hàng đang tăng vọt do căng thẳng trái phiếu doanh nghiệp, giúp tránh đổ vỡ dây chuyền. Đây là minh chứng cho cách làm kiểu Bernanke - không ngại can thiệp để bảo vệ ổn định tài chính. Mặt khác, nâng cao dự trữ ngoại hối cũng là ưu tiên để tăng sức chống chịu, dự trữ cao cũng tăng niềm tin nhà đầu tư, giảm rủi ro tấn công đầu cơ tiền tệ.

Cùng với đó, phối hợp đa chính sách trong bối cảnh quốc tế mới. Việt Nam nên có cái nhìn toàn diện do sự thay đổi chính sách của Fed, ECB, PBoC có thể tạo ra “cú sốc kép” hoặc “thuận lợi kép”. Trong mọi kịch bản, chính sách tiền tệ cần phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa, thương mại… tạo sức đề kháng tổng hợp.

Đơn cử, khi tỷ giá chịu sức ép, ngoài biện pháp tiền tệ, có thể tạm thời điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu, phí xăng dầu, giảm bớt tác động lên lạm phát. Hay khi dòng vốn biến động, có thể sử dụng hàng rào vĩ mô như yêu cầu trích lập dự phòng cao hơn cho khoản vay ngoại tệ, để giảm rủi ro. PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Đọc thêm

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 15/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80