"Vững tay lái" trước sóng gió lãi suất toàn cầu

(TBTCO) - Việc tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, điều hành chủ động và phối hợp chính sách đồng bộ sẽ giúp Việt Nam "vững tay lái" trước sóng gió từ chu kỳ lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn, qua đó, hiện thực hóa mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá và tăng trưởng nhanh, bền vững trong những năm tới.
aa
Duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Ảnh tư liệu

Để hiểu rõ logic điều hành của các ngân hàng trung ương, có thể liên hệ đến hai hệ tư tưởng tiền tệ nổi bật vận dụng lý thuyết của Milton Friedman (trường phái trọng tiền) và Ben Bernanke (chính sách tiền tệ thời khủng hoảng).

Việc vận dụng hai lý thuyết này giúp lý giải xu hướng điều chỉnh lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) giai đoạn 2023 - 2025. Trên cơ sở đó, có thể rút ra một số khuyến nghị cho chính sách tiền tệ của Việt Nam.

Còn dư địa hạ lãi suất, song cần chờ tín hiệu rõ ràng

Sự đối lập chính sách giữa Fed, ECB và PBoC phản ánh khác biệt về bối cảnh kinh tế và tạo ảnh hưởng sâu rộng tới thị trường tài chính toàn cầu. Theo đó, Fed tăng lãi suất mạnh nhất kể từ thập niên 1980, nâng lãi suất từ gần 0 lên 5,25 - 5,5% từ tháng 3/2022 đến tháng 7/2023, nhanh hơn nhiều so với chu kỳ thắt chặt 1994 (3 điểm phần trăm) và chỉ kém cú sốc Volcker 1979 - 1980 (tăng 10 điểm phần trăm trong 18 tháng). Đến cuối 2024 - đầu 2025, kỳ vọng Fed hạ lãi suất giúp thị trường phục hồi, đồng USD suy yếu nhẹ. Chính sách Fed thể hiện ưu tiên kiềm chế lạm phát theo tinh thần trọng tiền, đồng thời linh hoạt ứng phó để bảo vệ hệ thống tài chính.

ECB cũng mạnh tay nâng lãi suất từ -0,5% lên 4% trong 10 lần liên tiếp đến tháng 9/2023, mức cao nhất kể từ khi Euro ra đời. Từ tháng 6/2024, ECB bắt đầu giảm lãi suất từng bước, đưa lãi suất tiền gửi về 2% vào giữa 2025, tức cắt 8 lần tổng cộng 2 điểm phần trăm từ đỉnh. Chu kỳ điều hành của ECB đến chậm nhưng xoay trục sớm hơn Fed, do lạm phát hạ nhanh và kinh tế Eurozone tăng trưởng yếu, đối mặt nguy cơ suy thoái cục bộ.

Linh hoạt vận dụng hai lý thuyết tiền tệ, tạo nền tảng vững chắc

"Trong giai đoạn tới, môi trường tiền tệ quốc tế sẽ tiếp tục diễn biến khó lường, Việt Nam cần vận dụng linh hoạt cả bài học kỷ luật tiền tệ của Friedman - tức luôn cảnh giác với lạm phát do cung tiền và tư duy linh hoạt của Bernanke - sẵn sàng hành động quyết đoán để ổn định kinh tế khi gặp cú sốc. Ngân hàng Nhà nước đã và đang theo đuổi chính sách tiền tệ thận trọng, hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn giữ vững ổn định vĩ mô. Sự ổn định đó là nền tảng để Việt Nam duy trì môi trường kinh tế vĩ mô thuận lợi, tăng sức hấp dẫn với đầu tư nước ngoài và tận dụng các cơ hội từ phục hồi kinh tế toàn cầu".

Trái ngược, PBoC duy trì lãi suất thấp và liên tiếp cắt giảm một số lãi suất chủ chốt. Chưa đầy 2 năm, lãi suất cho vay tại Trung Quốc giảm tổng cộng khoảng 0,85 điểm phần trăm ở kỳ hạn 1 năm và 1,1 điểm phần trăm ở kỳ hạn 5 năm... Chính sách nới lỏng phản ánh áp lực giảm phát và mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng của Trung Quốc.

Là một nền kinh tế mở quy mô nhỏ, Việt Nam chịu tác động không nhỏ từ biến động lãi suất và dòng vốn quốc tế.

Trong bối cảnh quốc tế biến động, ưu tiên hàng đầu là điều hành lãi suất chủ động, hài hòa. Thời gian tới, nếu Fed/ECB tiếp tục xu hướng cắt giảm lãi suất, Việt Nam có thể mạnh dạn hạ thêm lãi suất để kích thích kinh tế, khi dư địa lạm phát cho phép.

Mục tiêu là duy trì mặt bằng lãi suất thực dương hợp lý, vừa kiểm soát lạm phát, vừa không làm Việt Nam kém cạnh tranh thu hút vốn so với bên ngoài. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tuyên bố sẽ quản lý lãi suất phù hợp cân đối vĩ mô và lạm phát. Việc chủ động sớm và rõ ràng trong thông điệp lãi suất cũng giúp định hướng thị trường, tránh kỳ vọng sai lệch gây bất ổn.

Tuy nhiên, việc giảm lãi suất là bài toán đánh đổi với lạm phát, chỉ khi Fed tiếp tục giảm lãi suất thì chúng ta mới nên giảm, nếu không sẽ tác động không nhỏ với ổn định tỷ giá và lạm phát.

Song song với đó, ưu tiên ổn định tỷ giá và quản lý dòng vốn hiệu quả. Việc Fed duy trì mức lãi suất cao thường kéo theo USD lên giá, tạo áp lực lên tỷ giá các nước mới nổi, trong đó có VND. Cần lưu ý, chúng ta đang đứng trước áp lực tỷ giá lớn trong bối cảnh chính sách thuế quan của Mỹ lên Việt Nam chưa rõ ràng, nguy cơ bị áp thuế cao có thể làm đảo chiều dòng vốn FDI cũng như tác động đến cán cân thương mại, thanh toán tổng thể, cũng như dự trữ ngoại hối đang xuống mức khá thấp.

Trong trung hạn, Việt Nam có thể mở rộng sử dụng tiền tệ khác trong thanh toán quốc tế như: Yuan, RMB, JPY thông qua thỏa thuận hoán đổi; đồng thời, thúc đẩy thanh toán bằng VND với các đối tác lân cận. Dù USD vẫn thống trị, nhưng đa dạng hóa giúp giảm cú sốc nếu USD biến động mạnh.

Chính sách tiền tệ nới lỏng có kiểm soát

Kiểm soát lạm phát nội địa thông qua quản lý cung tiền và tín dụng là yếu tố then chốt. Bài học trọng tiền cho thấy, muốn lạm phát thấp bền vững, phải kiểm soát tốt tăng trưởng cung tiền và tín dụng. Ngân hàng Nhà nước áp dụng chính sách hạn mức tín dụng hàng năm cho các ngân hàng, đây thực chất là cách khống chế cung tiền theo hướng của Friedman.

Cần tiếp tục sử dụng công cụ này linh hoạt, đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng phù hợp mục tiêu lạm phát 4% và tăng trưởng GDP 6 - 7%. Chẳng hạn, năm 2023, tín dụng tăng khoảng 14% khi lạm phát khoảng 3%, là tương đối hợp lý. Thực tiễn cũng cho thấy, cung tiền M2/GDP khoảng 140% khá cao so với nhiều nước; do đó, việc điều tiết cung tiền cần thận trọng để tránh cả lạm phát lẫn bất ổn vĩ mô.

Để làm được điều này, chính sách tiền tệ phải linh hoạt “nới lỏng có kiểm soát”, tức sẵn sàng hỗ trợ khi kinh tế suy yếu, nhưng rút lại kịp lúc khi dấu hiệu quá nóng. Tuy nhiên, cần cảnh giác vòng xoáy tín dụng - lạm phát: khi tín dụng tăng tốc, giá tài sản tăng, phải thẩm định kỹ rủi ro lạm phát tiềm ẩn.

Ngân hàng Nhà nước có thể tận dụng các công cụ vĩ mô thận trọng (macroprudential) như: hạn chế tỷ lệ cho vay trên giá trị (LTV) trong bất động sản, kiểm soát dư nợ lĩnh vực rủi ro…, ngăn tích tụ bong bóng tài sản thời kỳ tiền rẻ.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước nên phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát. Nếu giá cả có xu hướng tăng do cầu kéo, có thể cần chính sách tài khóa thắt chặt (giảm bội chi) hỗ trợ, thay vì để gánh nặng hoàn toàn lên lãi suất. Ngược lại, khi kinh tế suy yếu và lạm phát thấp, có thể tăng chi đầu tư công để kích cầu, phối hợp hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Sự đồng bộ chính sách sẽ tăng hiệu quả, giảm chi phí kiềm chế lạm phát lên từng công cụ riêng lẻ.

Phối hợp chính sách để tạo sức đề kháng tổng hợp

Kinh nghiệm quốc tế (từ Bernanke) cho thấy, ngân hàng trung ương cần chủ động đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng, đây là nền móng truyền dẫn chính sách. Ngân hàng Nhà nước cũng cần chuẩn bị sẵn công cụ hỗ trợ thanh khoản phòng khi thị trường biến động như tái kích hoạt kênh tín phiếu, OMO kỳ hạn dài hơn, hoặc một quỹ bình ổn thanh khoản liên ngân hàng.

Thực tế đầu 2023, ngân hàng nhà nươc đã linh hoạt bơm rút thanh khoản lớn qua OMO để hạ nhiệt lãi suất liên ngân hàng đang tăng vọt do căng thẳng trái phiếu doanh nghiệp, giúp tránh đổ vỡ dây chuyền. Đây là minh chứng cho cách làm kiểu Bernanke - không ngại can thiệp để bảo vệ ổn định tài chính. Mặt khác, nâng cao dự trữ ngoại hối cũng là ưu tiên để tăng sức chống chịu, dự trữ cao cũng tăng niềm tin nhà đầu tư, giảm rủi ro tấn công đầu cơ tiền tệ.

Cùng với đó, phối hợp đa chính sách trong bối cảnh quốc tế mới. Việt Nam nên có cái nhìn toàn diện do sự thay đổi chính sách của Fed, ECB, PBoC có thể tạo ra “cú sốc kép” hoặc “thuận lợi kép”. Trong mọi kịch bản, chính sách tiền tệ cần phối hợp đồng bộ với chính sách tài khóa, thương mại… tạo sức đề kháng tổng hợp.

Đơn cử, khi tỷ giá chịu sức ép, ngoài biện pháp tiền tệ, có thể tạm thời điều chỉnh chính sách thuế nhập khẩu, phí xăng dầu, giảm bớt tác động lên lạm phát. Hay khi dòng vốn biến động, có thể sử dụng hàng rào vĩ mô như yêu cầu trích lập dự phòng cao hơn cho khoản vay ngoại tệ, để giảm rủi ro. PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

PGS. TS Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Đọc thêm

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 21:30
Ngân hàng