Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động tháng qua tiếp tục giảm nhưng đà giảm đã chậm lại, ít biến động so với tháng trước. Dù xu hướng giảm lãi suất vẫn chiếm ưu thế, nhưng thị trường bắt đầu xuất hiện những tín hiệu điều chỉnh cục bộ theo nhu cầu vốn, có ngân hàng quy mô nhỏ và vừa tăng lãi suất tiết kiệm 0,4%/năm kỳ hạn trên 6 tháng.
aa

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Thống kê của phóng viên cho thấy, tính đến ngày 14/5, BacABank là ngân hàng nổi bật nhất khi liên tục đứng đầu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, cho thấy chiến lược muốn thu hút nguồn vốn huy động. MBV và Vikki Bank cũng nằm trong nhóm trả lãi suất cao nhất nhiều kỳ hạn.

Ngân hàng nào đang trả lãi cao nhất?

Mặt bằng lãi suất huy động cho thấy sự cạnh tranh rõ nét giữa các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài. Trong khi đó, các ngân hàng quốc doanh giữ lãi suất thấp hơn đáng kể.

Cụ thể, ở kỳ hạn 1 tháng, ngân hàng có lãi suất cao nhất là VCBNeo (trước là CBBank) với 4,05%; tiếp theo là BacABank, Vikki Bank (trước là DongABank) 3,85%, cao hơn gấp đôi so với nhóm ngân hàng quốc doanh.

Với kỳ hạn 3 tháng, VCBNeo tiếp tục dẫn đầu với 4,25%, BacABank xếp thứ hai với 4,2% và MBV ở mức 4,1%.

Tại kỳ hạn 6 tháng, BacABank vươn lên dẫn đầu với mức 5,35%, vượt qua MBV (5,3%) và Vikki Bank (5,23%). Đây là kỳ hạn thể hiện rõ nhu cầu hút vốn trung hạn từ các ngân hàng nhỏ.

Sang kỳ hạn 12 tháng, BacABank và MBV cùng chia sẻ vị trí dẫn đầu với lãi suất 5,7%, theo sau là Saigonbank 5,6%; Vikki Bank với 5,57%.

Đặc biệt, ở kỳ hạn dài nhất 24 tháng, BacABank tiếp tục giữ vị trí số một với lãi suất lên tới 6%, bỏ xa nhiều ngân hàng lớn, trong khi MBV và Vikki Bank lần lượt đạt 5,9% và 5,82%.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Lãi suất huy động ngân hàng tư nhân giảm nhẹ 12 điểm cơ bản

Nhìn chung, xu hướng giảm lãi suất vẫn chiếm ưu thế trên thị trường. Theo Khối nghiên cứu của MBS, tính đến cuối tháng 4/2025, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng tại nhóm ngân hàng thương mại giảm 12 điểm cơ bản, còn khoảng 4,93%. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giữ ổn định ở mức 4,7%.

Nhìn lại xu hướng giảm lãi suất huy động thời gian qua, Khối nghiên cứu Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận thấu, lãi suất huy động tiếp tục duy trì xu hướng giảm trong những tháng gần đây, tuy nhiên, đà giảm đã chậm lại so với giai đoạn trước.

Sau khi nhiều ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất trong hai tháng đầu năm, thị trường trong tháng 4 ghi nhận gần 10 ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, với mức giảm từ 0,1 - 0,5 điểm phần trăm mỗi năm trên nhiều kỳ hạn.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô vừa và nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất đầu vào, phản ánh động thái đón đầu nhu cầu tín dụng đang có dấu hiệu phục hồi tích cực. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến hết quý I/2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,93%, cao gần gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

Lãi suất ít biến động, nhóm ngân hàng nhỏ tăng nhẹ để hút vốn

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, tính từ đầu tháng 4/2025 đến nay, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng nhìn chung giữ ổn định tại hầu hết các ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng quốc doanh như VietinBank, Vietcombank, BIDV duy trì mức 1,60%, còn Agribank giữ ở mức 2,1%. Các ngân hàng lớn như VPBank, Techcombank, MBB, ACB cũng không thay đổi, dao động từ 2,3 - 3,6%. NamABank vẫn duy trì đà giảm lãi suất còn 3,7%, tương ứng giảm 0,2%.

Chỉ có một số ngân hàng tư nhân tăng lãi suất như: Bac A Bank tăng 0,4% lên 3,9%/năm; GPBank tăng từ 3% lên 3,25%. Bên cạnh đó, OCB sau khi giảm 0,3% thời gian ngắn thì lại tăng 0,2% lên mức 3,8%/năm.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2025. Ảnh: T.L.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lựa chọn phổ biến của nhiều người dân, nhìn chung giữ xu hướng ổn định tại phần lớn các ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh như VietinBank, BIDV duy trì ở mức 3%, Vietcombank giữ ở mức 2,9%, và Agribank ổn định ở mức 3,5%. Trong nhóm ngân hàng lớn, VPBank giữ nguyên mức 4,7% sau khi giảm nhẹ 0,1% đầu tháng 4 đến nay; Techcombank 4,35%, MB 4,2% và ACB 3,5%, không có biến động.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, mặt bằng lãi suất cao hơn đáng kể, dao động từ 4% đến trên 5%. Nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động 6 tháng cao hơn rõ rệt so với kỳ hạn ngắn 1- 3 tháng, cho thấy các ngân hàng ưu tiên hút vốn trung hạn để đảm bảo thanh khoản và cân đối nguồn vốn dài hơn.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 6 tháng, BacABank tăng mạnh từ 4,95% lên 5,35%, GPBank tăng 0,3% lên 4,9%, vượt nhiều ngân hàng cùng nhóm. OCB có điều chỉnh nhẹ, giảm từ 5% xuống 4,6%, sau đó nhanh chóng tăng lại. Ngược lại, VCBNeo giảm lãi suất từ 5,5% xuống 5,2; Exim giảm nhẹ 0,1% còn 4,9%. Một số ngân hàng giữ nguyên mặt bằng cao hơn cùng nhóm như: HDBank (5,2%), BaoVietBank (5%) và Vikki Bank (5,23%).

Đối với những khoản tiền nhàn rỗi trong dài hạn, kỳ hạn 12 tháng tiếp tục là lựa chọn lý tưởng khi nhiều ngân hàng không chỉ áp dụng lãi suất hấp dẫn mà còn kèm theo các ưu đãi bổ sung. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng nhìn chung duy trì ổn định, với mức phổ biến từ 4,7% đến trên 5,5%.

Một số ngân hàng nhỏ và vừa điều chỉnh nhẹ để tăng tính cạnh tranh. Cụ thể, BacABank tăng 0,3% lên 5,7%, thuộc top cao trong hệ thống. OCB sau khi giảm cũng tăng lên 5%. Một số ngân hàng giữ nguyên mặt bằng lãi suất cao như BVBank (5,55%), HDBank (5,5%), BaoVietBank (5,4%) và Vikki Bank (5,57%). SCB vẫn giữ ở mức thấp 3,7%.

Dự báo lãi suất huy động tăng cuối năm, dao động 5,5 - 6% nhờ tín dụng phục hồi

Khối nghiên cứu của MBS dự báo, mặt bằng lãi suất đầu vào sẽ tăng dần trở lại vào cuối năm 2025, dao động trong khoảng từ 5,5 - 6%, trong bối cảnh nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phục hồi mạnh và tăng trưởng tín dụng có thể đạt hoặc vượt mục tiêu 16% đã đề ra.

Đến cuối tháng 3/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93% so với cuối năm 2024, cao gấp khoảng 2,5 lần so với mức tăng cùng kỳ năm ngoái (1,42% tính đến tháng 3/2024), cho thấy nhu cầu tín dụng đang phục hồi rõ nét.

Dự báo trong năm nay, tăng trưởng tín dụng toàn ngành có thể đạt từ 17 - 18%, được thúc đẩy bởi sự khởi sắc của khu vực sản xuất, tiêu dùng nội địa và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. "Trên cơ sở đó, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 5,5% đến 6% trong những tháng cuối năm 2025" - MBS nhận định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới gần như không đổi so với sáng qua, giao dịch quanh 4.175 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 15,100
Kim TT/AVPL 14,800 15,100
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 15,100
Nguyên Liệu 99.99 13,560 13,760
Nguyên Liệu 99.9 13,510 13,710
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,060 14,560
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,010 14,510
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,940 14,490
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 151,000
Hà Nội - PNJ 148,000 151,000
Đà Nẵng - PNJ 148,000 151,000
Miền Tây - PNJ 148,000 151,000
Tây Nguyên - PNJ 148,000 151,000
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 151,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 15,100
Miếng SJC Nghệ An 14,800 15,100
Miếng SJC Thái Bình 14,800 15,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 15,000
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 14,890
Trang sức 99.99 14,200 14,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 15,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 15,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 1,509
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 151
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 1,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,921 147,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,711 112,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,252 101,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,793 91,293
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,759 87,259
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,956 62,456
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cập nhật: 07/07/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17699 17972 18548
CAD 17961 18236 18856
CHF 31988 32370 33015
CNY 0 3828 3922
EUR 29397 29618 30699
GBP 34276 34667 35605
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14635 15223
SGD 19789 20070 20645
THB 705 768 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,539 29,563 30,950
JPY 157.78 158.06 167.46
GBP 34,440 34,533 35,708
AUD 17,889 17,954 18,623
CAD 18,165 18,223 18,878
CHF 32,262 32,362 33,289
SGD 19,913 19,975 20,748
CNY - 3,800 3,942
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.84 16.52 17.96
THB 753.11 762.41 815.58
NZD 14,624 14,760 15,186
SEK - 2,678 2,771
DKK - 3,952 4,088
NOK - 2,630 2,720
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,024.92 - 6,797.46
TWD 739.49 - 895.08
SAR - 6,887.37 7,248.58
KWD - 83,223 88,475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17871 17971 18902
CAD 18130 18230 19244
CHF 32227 32257 33843
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29565 29595 31321
GBP 34559 34609 36378
HKD 0 3355 0
JPY 158.53 159.03 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14737 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19945 20075 20800
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80