Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động tháng qua tiếp tục giảm nhưng đà giảm đã chậm lại, ít biến động so với tháng trước. Dù xu hướng giảm lãi suất vẫn chiếm ưu thế, nhưng thị trường bắt đầu xuất hiện những tín hiệu điều chỉnh cục bộ theo nhu cầu vốn, có ngân hàng quy mô nhỏ và vừa tăng lãi suất tiết kiệm 0,4%/năm kỳ hạn trên 6 tháng.
aa

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Thống kê của phóng viên cho thấy, tính đến ngày 14/5, BacABank là ngân hàng nổi bật nhất khi liên tục đứng đầu ở các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, cho thấy chiến lược muốn thu hút nguồn vốn huy động. MBV và Vikki Bank cũng nằm trong nhóm trả lãi suất cao nhất nhiều kỳ hạn.

Ngân hàng nào đang trả lãi cao nhất?

Mặt bằng lãi suất huy động cho thấy sự cạnh tranh rõ nét giữa các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài. Trong khi đó, các ngân hàng quốc doanh giữ lãi suất thấp hơn đáng kể.

Cụ thể, ở kỳ hạn 1 tháng, ngân hàng có lãi suất cao nhất là VCBNeo (trước là CBBank) với 4,05%; tiếp theo là BacABank, Vikki Bank (trước là DongABank) 3,85%, cao hơn gấp đôi so với nhóm ngân hàng quốc doanh.

Với kỳ hạn 3 tháng, VCBNeo tiếp tục dẫn đầu với 4,25%, BacABank xếp thứ hai với 4,2% và MBV ở mức 4,1%.

Tại kỳ hạn 6 tháng, BacABank vươn lên dẫn đầu với mức 5,35%, vượt qua MBV (5,3%) và Vikki Bank (5,23%). Đây là kỳ hạn thể hiện rõ nhu cầu hút vốn trung hạn từ các ngân hàng nhỏ.

Sang kỳ hạn 12 tháng, BacABank và MBV cùng chia sẻ vị trí dẫn đầu với lãi suất 5,7%, theo sau là Saigonbank 5,6%; Vikki Bank với 5,57%.

Đặc biệt, ở kỳ hạn dài nhất 24 tháng, BacABank tiếp tục giữ vị trí số một với lãi suất lên tới 6%, bỏ xa nhiều ngân hàng lớn, trong khi MBV và Vikki Bank lần lượt đạt 5,9% và 5,82%.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Lãi suất huy động ngân hàng tư nhân giảm nhẹ 12 điểm cơ bản

Nhìn chung, xu hướng giảm lãi suất vẫn chiếm ưu thế trên thị trường. Theo Khối nghiên cứu của MBS, tính đến cuối tháng 4/2025, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng tại nhóm ngân hàng thương mại giảm 12 điểm cơ bản, còn khoảng 4,93%. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giữ ổn định ở mức 4,7%.

Nhìn lại xu hướng giảm lãi suất huy động thời gian qua, Khối nghiên cứu Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) nhận thấu, lãi suất huy động tiếp tục duy trì xu hướng giảm trong những tháng gần đây, tuy nhiên, đà giảm đã chậm lại so với giai đoạn trước.

Sau khi nhiều ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất trong hai tháng đầu năm, thị trường trong tháng 4 ghi nhận gần 10 ngân hàng tiếp tục hạ lãi suất, với mức giảm từ 0,1 - 0,5 điểm phần trăm mỗi năm trên nhiều kỳ hạn.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng thương mại cổ phần có quy mô vừa và nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất đầu vào, phản ánh động thái đón đầu nhu cầu tín dụng đang có dấu hiệu phục hồi tích cực. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, đến hết quý I/2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 3,93%, cao gần gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái.

Lãi suất ít biến động, nhóm ngân hàng nhỏ tăng nhẹ để hút vốn

Thống kê của phóng viên cũng cho thấy, tính từ đầu tháng 4/2025 đến nay, lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng nhìn chung giữ ổn định tại hầu hết các ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng quốc doanh như VietinBank, Vietcombank, BIDV duy trì mức 1,60%, còn Agribank giữ ở mức 2,1%. Các ngân hàng lớn như VPBank, Techcombank, MBB, ACB cũng không thay đổi, dao động từ 2,3 - 3,6%. NamABank vẫn duy trì đà giảm lãi suất còn 3,7%, tương ứng giảm 0,2%.

Chỉ có một số ngân hàng tư nhân tăng lãi suất như: Bac A Bank tăng 0,4% lên 3,9%/năm; GPBank tăng từ 3% lên 3,25%. Bên cạnh đó, OCB sau khi giảm 0,3% thời gian ngắn thì lại tăng 0,2% lên mức 3,8%/năm.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2025. Ảnh: T.L.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lựa chọn phổ biến của nhiều người dân, nhìn chung giữ xu hướng ổn định tại phần lớn các ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh như VietinBank, BIDV duy trì ở mức 3%, Vietcombank giữ ở mức 2,9%, và Agribank ổn định ở mức 3,5%. Trong nhóm ngân hàng lớn, VPBank giữ nguyên mức 4,7% sau khi giảm nhẹ 0,1% đầu tháng 4 đến nay; Techcombank 4,35%, MB 4,2% và ACB 3,5%, không có biến động.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, mặt bằng lãi suất cao hơn đáng kể, dao động từ 4% đến trên 5%. Nhìn chung, mặt bằng lãi suất huy động 6 tháng cao hơn rõ rệt so với kỳ hạn ngắn 1- 3 tháng, cho thấy các ngân hàng ưu tiên hút vốn trung hạn để đảm bảo thanh khoản và cân đối nguồn vốn dài hơn.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 6 tháng, BacABank tăng mạnh từ 4,95% lên 5,35%, GPBank tăng 0,3% lên 4,9%, vượt nhiều ngân hàng cùng nhóm. OCB có điều chỉnh nhẹ, giảm từ 5% xuống 4,6%, sau đó nhanh chóng tăng lại. Ngược lại, VCBNeo giảm lãi suất từ 5,5% xuống 5,2; Exim giảm nhẹ 0,1% còn 4,9%. Một số ngân hàng giữ nguyên mặt bằng cao hơn cùng nhóm như: HDBank (5,2%), BaoVietBank (5%) và Vikki Bank (5,23%).

Đối với những khoản tiền nhàn rỗi trong dài hạn, kỳ hạn 12 tháng tiếp tục là lựa chọn lý tưởng khi nhiều ngân hàng không chỉ áp dụng lãi suất hấp dẫn mà còn kèm theo các ưu đãi bổ sung. Lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng nhìn chung duy trì ổn định, với mức phổ biến từ 4,7% đến trên 5,5%.

Một số ngân hàng nhỏ và vừa điều chỉnh nhẹ để tăng tính cạnh tranh. Cụ thể, BacABank tăng 0,3% lên 5,7%, thuộc top cao trong hệ thống. OCB sau khi giảm cũng tăng lên 5%. Một số ngân hàng giữ nguyên mặt bằng lãi suất cao như BVBank (5,55%), HDBank (5,5%), BaoVietBank (5,4%) và Vikki Bank (5,57%). SCB vẫn giữ ở mức thấp 3,7%.

Dự báo lãi suất huy động tăng cuối năm, dao động 5,5 - 6% nhờ tín dụng phục hồi

Khối nghiên cứu của MBS dự báo, mặt bằng lãi suất đầu vào sẽ tăng dần trở lại vào cuối năm 2025, dao động trong khoảng từ 5,5 - 6%, trong bối cảnh nền kinh tế được kỳ vọng sẽ phục hồi mạnh và tăng trưởng tín dụng có thể đạt hoặc vượt mục tiêu 16% đã đề ra.

Đến cuối tháng 3/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93% so với cuối năm 2024, cao gấp khoảng 2,5 lần so với mức tăng cùng kỳ năm ngoái (1,42% tính đến tháng 3/2024), cho thấy nhu cầu tín dụng đang phục hồi rõ nét.

Dự báo trong năm nay, tăng trưởng tín dụng toàn ngành có thể đạt từ 17 - 18%, được thúc đẩy bởi sự khởi sắc của khu vực sản xuất, tiêu dùng nội địa và tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. "Trên cơ sở đó, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại lớn sẽ dao động quanh mức 5,5% đến 6% trong những tháng cuối năm 2025" - MBS nhận định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80