Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất cho vay trong quý I/2025 giảm 0,4% nhờ kịp thời kiểm soát đà tăng của lãi suất huy động đầu vào, dự báo lùi nhẹ 0,03 - 0,08% trong quý II/2025 và cả năm. Lãi suất chính sách cũng không loại trừ khả năng giảm về mức thấp như thời kỳ đại dịch.
aa
Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng
Mặt bằng lãi suất cho vay trong quý II được dự báo sẽ tiếp đà giảm từ quý đầu năm. Ảnh: Dũng Minh

Theo kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý II/2025 vừa được Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước công bố, dự báo trong quý II/2025 và cả năm 2025, các tổ chức tín dụng dự kiến mặt bằng lãi suất huy động vốn bằng VND bình quân toàn hệ thống duy trì ổn định, chỉ tăng rất nhẹ 0,02 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn trên 6 tháng và tăng nhẹ 0,17 điểm phần trăm với các kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống trong cả năm 2025.

Lãi suất huy động tiếp đà giảm đầu tháng 4

Về lãi suất cho vay, các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND bình quân toàn hệ thống tiếp tục giảm nhẹ 0,03 - 0,08 điểm phần trăm trong quý II/2025 và cả năm 2025.

Như vậy, mặt bằng lãi suất cho vay trong quý II được dự báo sẽ tiếp đà giảm từ quý đầu năm. Trước đó, phát biểu tại phiên họp gần đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, sau khi một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước kịp thời tổ chức họp để định hướng, ngay sau đó các ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất.

Kịch bản lãi suất điều hành có thể trở lại mức thấp thời Covid-19

"Nếu tình hình kinh doanh trong nước và thị trường lao động xấu đi trong vòng một đến hai quý tới, chúng tôi nhận thấy khả năng Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất chính sách về mức thấp như trong thời kỳ đại dịch Covid-19 là 4%, sau đó có thể tiếp tục giảm thêm 50 điểm cơ bản, đưa lãi suất về mức 3,5%, với điều kiện thị trường ngoại hối ổn định và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực hiện các đợt cắt giảm lãi suất như kỳ vọng. Ở thời điểm hiện tại, kịch bản cơ sở của chúng tôi vẫn là Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên chính sách lãi suất" - ông Suan Teck Kin nhận định.

"Tính đến hết quý I/2025, mặt bằng lãi suất huy động mới gần như không thay đổi, chỉ tăng 0,08%, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giảm 0,4% so với cuối năm 2024 cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc hỗ trợ nền kinh tế" - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Thống kê của Báo Tài chính - Đầu tư về biểu lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại ngày 11/4 cho thấy, tính từ đầu tháng 3 đến nay, tại kỳ hạn 1 tháng, Agribank và VPBank đều điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, lần lượt xuống mức 2,1%/năm và 3,6%/năm. Tương tự, ở kỳ hạn 3 tháng, Agribank giảm còn 2,4%/năm, trong khi VPBank cũng hạ về 3,8%/năm.

Diễn biến giảm lãi suất tiếp tục lan sang các kỳ hạn dài hơn. Với kỳ hạn 6 tháng, BVBank giảm 0,1% xuống 5,1%/năm, còn OCB và Eximbank cùng điều chỉnh về mức 5%/năm. Đầu tháng 4, VPBank điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 4,7%/năm.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 12 tháng, hầu hết các ngân hàng được khảo sát đều cắt giảm lãi suất. Chỉ sau hơn 1 tháng tính từ đầu tháng 3, VPBank giảm lãi suất hai lần, mỗi lần 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 5,2%/năm. BVBank giảm xuống 5,55%; OCB lùi về 5,1%. Riêng Eximbank giảm mạnh nhất với mức giảm 0,4 điểm phần trăm, xuống còn 5,2%/năm. Ở kỳ hạn 24 tháng, VPBank cũng giảm lãi suất hai lần, về mức 5,4%/năm; OCB giảm còn 5,6%/năm.

Dư địa giảm lãi suất huy động và cho vay không còn lớn

Theo ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore, biến động trên thị trường tỷ giá lại trở thành một yếu tố đáng lo ngại, đặc biệt sau khi mức thuế “Giải phóng” của Hoa Kỳ gây ra làn sóng bất ổn mới trên thị trường.

"Trong thời điểm hiện tại, chúng tôi kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách, với lãi suất tái cấp vốn duy trì ở mức 4,5%. Tuy nhiên, xu hướng đang nghiêng về khả năng giảm lãi suất, do áp lực suy giảm từ hoạt động kinh doanh và xuất khẩu, trong bối cảnh mức thuế từ Mỹ có thể ảnh hưởng nền kinh tế Việt Nam" - đại diện Ngân hàng UOB đánh giá.

Cũng theo Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, dư địa giảm lãi suất không còn lớn, bởi trong bối cảnh hiện tại buộc phải lựa chọn một trong hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế, hoặc ổn định tỷ giá. Bởi để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lên khoảng 16% nhằm hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 8%, việc duy trì mặt bằng lãi suất ở mức thấp là một công cụ quan trọng, dù không phải duy nhất. Lãi suất thấp giúp kích thích nhu cầu vay vốn, qua đó tăng cường dòng tiền chảy vào khu vực kinh tế thực.

Tuy nhiên, dư địa để tiếp tục hạ lãi suất đang dần thu hẹp trong bối cảnh Hoa Kỳ áp thuế lên hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam, nguồn cung ngoại tệ sẽ bị ảnh hưởng do kim ngạch xuất khẩu suy giảm. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ có thể vẫn cao, tạo áp lực lớn lên tỷ giá và đẩy đồng USD tăng so với VND.

Tuy nhiên, vấn đề lãi suất và thanh khoản chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể. Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank VCBF nhận định, điều quan trọng là khả năng tiếp cận vốn thực tế của doanh nghiệp. Dù lãi suất có giảm và thanh khoản dồi dào, nhưng nếu doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, hiệu quả hỗ trợ nền kinh tế sẽ rất hạn chế.

Theo đó, cần giải quyết triệt để độ vênh giữa chính sách và thực tiễn tiếp cận vốn để có thể ổn định mặt bằng lãi suất trong dài hạn. Khi đó, doanh nghiệp mới có thể yên tâm giải ngân, mở rộng đầu tư và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

vọng tăng trưởng tín dụng cả năm đạt 16,4%

Hết quý đầu năm, thống kê của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93%, cao gấp khoảng 2,5 lần so với mức 1,42% cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh sự phục hồi tích cực của nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế, trong đó, mặt bằng lãi suất thấp đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi nếu lạm phát kiểm soát ở mức thấp có thể linh hoạt điều chỉnh tăng trưởng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo báo cáo của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, các tổ chức tín dụng đánh giá, thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý I/2025 tiếp tục duy trì ở trạng thái “tốt”, với mức cải thiện vượt trội so với quý trước cũng như so với kỳ vọng trước đó. Các tổ chức tín dụng cũng dự báo thanh khoản sẽ tiếp tục được cải thiện trong quý II và cả năm 2025 so với năm 2024. Tuy nhiên, mức độ kỳ vọng về sự cải thiện đã thu hẹp nhẹ so với cuộc khảo sát trước và so với đánh giá cải thiện dành cho năm 2024.

"Trong quý II/2025, các tổ chức tín dụng kỳ vọng huy động vốn toàn hệ thống tăng bình quân 4,19% và dư nợ tín dụng tăng bình quân 4,39%. Tính chung cả năm 2025, huy động vốn toàn hệ thống được kỳ vọng tăng 13,1%, thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với kỳ vọng về tăng trưởng dư nợ tín dụng 16,4%" - báo cáo của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính nêu rõ.

Trong đó, huy động vốn và tín dụng ngắn hạn được dự báo sẽ có mức tăng trưởng cao hơn so với các kỳ hạn dài. Kết quả khảo sát lần này cho thấy, mức độ kỳ vọng bình quân của các tổ chức tín dụng về tốc độ tăng trưởng huy động vốn theo năm đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, kể từ khi Ngân hàng Nhà nước bắt đầu thực hiện các cuộc điều tra định kỳ từ năm 2020 đến nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80