Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất cho vay trong quý I/2025 giảm 0,4% nhờ kịp thời kiểm soát đà tăng của lãi suất huy động đầu vào, dự báo lùi nhẹ 0,03 - 0,08% trong quý II/2025 và cả năm. Lãi suất chính sách cũng không loại trừ khả năng giảm về mức thấp như thời kỳ đại dịch.
aa
Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng
Mặt bằng lãi suất cho vay trong quý II được dự báo sẽ tiếp đà giảm từ quý đầu năm. Ảnh: Dũng Minh

Theo kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý II/2025 vừa được Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước công bố, dự báo trong quý II/2025 và cả năm 2025, các tổ chức tín dụng dự kiến mặt bằng lãi suất huy động vốn bằng VND bình quân toàn hệ thống duy trì ổn định, chỉ tăng rất nhẹ 0,02 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn trên 6 tháng và tăng nhẹ 0,17 điểm phần trăm với các kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống trong cả năm 2025.

Lãi suất huy động tiếp đà giảm đầu tháng 4

Về lãi suất cho vay, các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND bình quân toàn hệ thống tiếp tục giảm nhẹ 0,03 - 0,08 điểm phần trăm trong quý II/2025 và cả năm 2025.

Như vậy, mặt bằng lãi suất cho vay trong quý II được dự báo sẽ tiếp đà giảm từ quý đầu năm. Trước đó, phát biểu tại phiên họp gần đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, sau khi một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước kịp thời tổ chức họp để định hướng, ngay sau đó các ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất.

Kịch bản lãi suất điều hành có thể trở lại mức thấp thời Covid-19

"Nếu tình hình kinh doanh trong nước và thị trường lao động xấu đi trong vòng một đến hai quý tới, chúng tôi nhận thấy khả năng Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất chính sách về mức thấp như trong thời kỳ đại dịch Covid-19 là 4%, sau đó có thể tiếp tục giảm thêm 50 điểm cơ bản, đưa lãi suất về mức 3,5%, với điều kiện thị trường ngoại hối ổn định và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực hiện các đợt cắt giảm lãi suất như kỳ vọng. Ở thời điểm hiện tại, kịch bản cơ sở của chúng tôi vẫn là Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên chính sách lãi suất" - ông Suan Teck Kin nhận định.

"Tính đến hết quý I/2025, mặt bằng lãi suất huy động mới gần như không thay đổi, chỉ tăng 0,08%, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giảm 0,4% so với cuối năm 2024 cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc hỗ trợ nền kinh tế" - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Thống kê của Báo Tài chính - Đầu tư về biểu lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại ngày 11/4 cho thấy, tính từ đầu tháng 3 đến nay, tại kỳ hạn 1 tháng, Agribank và VPBank đều điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, lần lượt xuống mức 2,1%/năm và 3,6%/năm. Tương tự, ở kỳ hạn 3 tháng, Agribank giảm còn 2,4%/năm, trong khi VPBank cũng hạ về 3,8%/năm.

Diễn biến giảm lãi suất tiếp tục lan sang các kỳ hạn dài hơn. Với kỳ hạn 6 tháng, BVBank giảm 0,1% xuống 5,1%/năm, còn OCB và Eximbank cùng điều chỉnh về mức 5%/năm. Đầu tháng 4, VPBank điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 4,7%/năm.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 12 tháng, hầu hết các ngân hàng được khảo sát đều cắt giảm lãi suất. Chỉ sau hơn 1 tháng tính từ đầu tháng 3, VPBank giảm lãi suất hai lần, mỗi lần 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 5,2%/năm. BVBank giảm xuống 5,55%; OCB lùi về 5,1%. Riêng Eximbank giảm mạnh nhất với mức giảm 0,4 điểm phần trăm, xuống còn 5,2%/năm. Ở kỳ hạn 24 tháng, VPBank cũng giảm lãi suất hai lần, về mức 5,4%/năm; OCB giảm còn 5,6%/năm.

Dư địa giảm lãi suất huy động và cho vay không còn lớn

Theo ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore, biến động trên thị trường tỷ giá lại trở thành một yếu tố đáng lo ngại, đặc biệt sau khi mức thuế “Giải phóng” của Hoa Kỳ gây ra làn sóng bất ổn mới trên thị trường.

"Trong thời điểm hiện tại, chúng tôi kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách, với lãi suất tái cấp vốn duy trì ở mức 4,5%. Tuy nhiên, xu hướng đang nghiêng về khả năng giảm lãi suất, do áp lực suy giảm từ hoạt động kinh doanh và xuất khẩu, trong bối cảnh mức thuế từ Mỹ có thể ảnh hưởng nền kinh tế Việt Nam" - đại diện Ngân hàng UOB đánh giá.

Cũng theo Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, dư địa giảm lãi suất không còn lớn, bởi trong bối cảnh hiện tại buộc phải lựa chọn một trong hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế, hoặc ổn định tỷ giá. Bởi để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lên khoảng 16% nhằm hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 8%, việc duy trì mặt bằng lãi suất ở mức thấp là một công cụ quan trọng, dù không phải duy nhất. Lãi suất thấp giúp kích thích nhu cầu vay vốn, qua đó tăng cường dòng tiền chảy vào khu vực kinh tế thực.

Tuy nhiên, dư địa để tiếp tục hạ lãi suất đang dần thu hẹp trong bối cảnh Hoa Kỳ áp thuế lên hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam, nguồn cung ngoại tệ sẽ bị ảnh hưởng do kim ngạch xuất khẩu suy giảm. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ có thể vẫn cao, tạo áp lực lớn lên tỷ giá và đẩy đồng USD tăng so với VND.

Tuy nhiên, vấn đề lãi suất và thanh khoản chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể. Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank VCBF nhận định, điều quan trọng là khả năng tiếp cận vốn thực tế của doanh nghiệp. Dù lãi suất có giảm và thanh khoản dồi dào, nhưng nếu doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, hiệu quả hỗ trợ nền kinh tế sẽ rất hạn chế.

Theo đó, cần giải quyết triệt để độ vênh giữa chính sách và thực tiễn tiếp cận vốn để có thể ổn định mặt bằng lãi suất trong dài hạn. Khi đó, doanh nghiệp mới có thể yên tâm giải ngân, mở rộng đầu tư và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

vọng tăng trưởng tín dụng cả năm đạt 16,4%

Hết quý đầu năm, thống kê của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93%, cao gấp khoảng 2,5 lần so với mức 1,42% cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh sự phục hồi tích cực của nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế, trong đó, mặt bằng lãi suất thấp đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi nếu lạm phát kiểm soát ở mức thấp có thể linh hoạt điều chỉnh tăng trưởng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo báo cáo của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, các tổ chức tín dụng đánh giá, thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý I/2025 tiếp tục duy trì ở trạng thái “tốt”, với mức cải thiện vượt trội so với quý trước cũng như so với kỳ vọng trước đó. Các tổ chức tín dụng cũng dự báo thanh khoản sẽ tiếp tục được cải thiện trong quý II và cả năm 2025 so với năm 2024. Tuy nhiên, mức độ kỳ vọng về sự cải thiện đã thu hẹp nhẹ so với cuộc khảo sát trước và so với đánh giá cải thiện dành cho năm 2024.

"Trong quý II/2025, các tổ chức tín dụng kỳ vọng huy động vốn toàn hệ thống tăng bình quân 4,19% và dư nợ tín dụng tăng bình quân 4,39%. Tính chung cả năm 2025, huy động vốn toàn hệ thống được kỳ vọng tăng 13,1%, thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với kỳ vọng về tăng trưởng dư nợ tín dụng 16,4%" - báo cáo của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính nêu rõ.

Trong đó, huy động vốn và tín dụng ngắn hạn được dự báo sẽ có mức tăng trưởng cao hơn so với các kỳ hạn dài. Kết quả khảo sát lần này cho thấy, mức độ kỳ vọng bình quân của các tổ chức tín dụng về tốc độ tăng trưởng huy động vốn theo năm đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, kể từ khi Ngân hàng Nhà nước bắt đầu thực hiện các cuộc điều tra định kỳ từ năm 2020 đến nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.600 USD/ounce, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 23/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.600 USD/ounce, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce sau tuần tăng thứ ba liên tiếp. Trong nước, vàng miếng tiếp đà đi lên, trong khi vàng nhẫn có nơi lên 149,5 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 150,000
Hà Nội - PNJ 146,800 150,000
Đà Nẵng - PNJ 146,800 150,000
Miền Tây - PNJ 146,800 150,000
Tây Nguyên - PNJ 146,800 150,000
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 150,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 15,000
Miếng SJC Nghệ An 14,700 15,000
Miếng SJC Thái Bình 14,700 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 15,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 15,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 15,200
NL 99.99 14,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050
Trang sức 99.9 14,510 15,110
Trang sức 99.99 14,520 15,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 15,002
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 15,003
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 1,495
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 1,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 146,535
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 111,161
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 1,008
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 90,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 86,443
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 61,872
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 150
Cập nhật: 25/08/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Cập nhật: 25/08/2026 02:30
Ngân hàng