Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất cho vay trong quý I/2025 giảm 0,4% nhờ kịp thời kiểm soát đà tăng của lãi suất huy động đầu vào, dự báo lùi nhẹ 0,03 - 0,08% trong quý II/2025 và cả năm. Lãi suất chính sách cũng không loại trừ khả năng giảm về mức thấp như thời kỳ đại dịch.
aa
Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng
Mặt bằng lãi suất cho vay trong quý II được dự báo sẽ tiếp đà giảm từ quý đầu năm. Ảnh: Dũng Minh

Theo kết quả cuộc điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý II/2025 vừa được Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, Ngân hàng Nhà nước công bố, dự báo trong quý II/2025 và cả năm 2025, các tổ chức tín dụng dự kiến mặt bằng lãi suất huy động vốn bằng VND bình quân toàn hệ thống duy trì ổn định, chỉ tăng rất nhẹ 0,02 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn trên 6 tháng và tăng nhẹ 0,17 điểm phần trăm với các kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống trong cả năm 2025.

Lãi suất huy động tiếp đà giảm đầu tháng 4

Về lãi suất cho vay, các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND bình quân toàn hệ thống tiếp tục giảm nhẹ 0,03 - 0,08 điểm phần trăm trong quý II/2025 và cả năm 2025.

Như vậy, mặt bằng lãi suất cho vay trong quý II được dự báo sẽ tiếp đà giảm từ quý đầu năm. Trước đó, phát biểu tại phiên họp gần đây, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, sau khi một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước kịp thời tổ chức họp để định hướng, ngay sau đó các ngân hàng đã điều chỉnh giảm lãi suất.

Kịch bản lãi suất điều hành có thể trở lại mức thấp thời Covid-19

"Nếu tình hình kinh doanh trong nước và thị trường lao động xấu đi trong vòng một đến hai quý tới, chúng tôi nhận thấy khả năng Ngân hàng Nhà nước có thể hạ lãi suất chính sách về mức thấp như trong thời kỳ đại dịch Covid-19 là 4%, sau đó có thể tiếp tục giảm thêm 50 điểm cơ bản, đưa lãi suất về mức 3,5%, với điều kiện thị trường ngoại hối ổn định và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ thực hiện các đợt cắt giảm lãi suất như kỳ vọng. Ở thời điểm hiện tại, kịch bản cơ sở của chúng tôi vẫn là Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên chính sách lãi suất" - ông Suan Teck Kin nhận định.

"Tính đến hết quý I/2025, mặt bằng lãi suất huy động mới gần như không thay đổi, chỉ tăng 0,08%, trong khi mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục giảm 0,4% so với cuối năm 2024 cho thấy nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc hỗ trợ nền kinh tế" - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Thống kê của Báo Tài chính - Đầu tư về biểu lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại ngày 11/4 cho thấy, tính từ đầu tháng 3 đến nay, tại kỳ hạn 1 tháng, Agribank và VPBank đều điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, lần lượt xuống mức 2,1%/năm và 3,6%/năm. Tương tự, ở kỳ hạn 3 tháng, Agribank giảm còn 2,4%/năm, trong khi VPBank cũng hạ về 3,8%/năm.

Diễn biến giảm lãi suất tiếp tục lan sang các kỳ hạn dài hơn. Với kỳ hạn 6 tháng, BVBank giảm 0,1% xuống 5,1%/năm, còn OCB và Eximbank cùng điều chỉnh về mức 5%/năm. Đầu tháng 4, VPBank điều chỉnh giảm 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 4,7%/năm.

Đáng chú ý, ở kỳ hạn 12 tháng, hầu hết các ngân hàng được khảo sát đều cắt giảm lãi suất. Chỉ sau hơn 1 tháng tính từ đầu tháng 3, VPBank giảm lãi suất hai lần, mỗi lần 0,1 điểm phần trăm, xuống còn 5,2%/năm. BVBank giảm xuống 5,55%; OCB lùi về 5,1%. Riêng Eximbank giảm mạnh nhất với mức giảm 0,4 điểm phần trăm, xuống còn 5,2%/năm. Ở kỳ hạn 24 tháng, VPBank cũng giảm lãi suất hai lần, về mức 5,4%/năm; OCB giảm còn 5,6%/năm.

Dư địa giảm lãi suất huy động và cho vay không còn lớn

Theo ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore, biến động trên thị trường tỷ giá lại trở thành một yếu tố đáng lo ngại, đặc biệt sau khi mức thuế “Giải phóng” của Hoa Kỳ gây ra làn sóng bất ổn mới trên thị trường.

"Trong thời điểm hiện tại, chúng tôi kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách, với lãi suất tái cấp vốn duy trì ở mức 4,5%. Tuy nhiên, xu hướng đang nghiêng về khả năng giảm lãi suất, do áp lực suy giảm từ hoạt động kinh doanh và xuất khẩu, trong bối cảnh mức thuế từ Mỹ có thể ảnh hưởng nền kinh tế Việt Nam" - đại diện Ngân hàng UOB đánh giá.

Cũng theo Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, dư địa giảm lãi suất không còn lớn, bởi trong bối cảnh hiện tại buộc phải lựa chọn một trong hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế, hoặc ổn định tỷ giá. Bởi để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng lên khoảng 16% nhằm hỗ trợ đạt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 8%, việc duy trì mặt bằng lãi suất ở mức thấp là một công cụ quan trọng, dù không phải duy nhất. Lãi suất thấp giúp kích thích nhu cầu vay vốn, qua đó tăng cường dòng tiền chảy vào khu vực kinh tế thực.

Tuy nhiên, dư địa để tiếp tục hạ lãi suất đang dần thu hẹp trong bối cảnh Hoa Kỳ áp thuế lên hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam, nguồn cung ngoại tệ sẽ bị ảnh hưởng do kim ngạch xuất khẩu suy giảm. Trong khi đó, nhu cầu ngoại tệ có thể vẫn cao, tạo áp lực lớn lên tỷ giá và đẩy đồng USD tăng so với VND.

Tuy nhiên, vấn đề lãi suất và thanh khoản chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể. Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu, Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank VCBF nhận định, điều quan trọng là khả năng tiếp cận vốn thực tế của doanh nghiệp. Dù lãi suất có giảm và thanh khoản dồi dào, nhưng nếu doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng, hiệu quả hỗ trợ nền kinh tế sẽ rất hạn chế.

Theo đó, cần giải quyết triệt để độ vênh giữa chính sách và thực tiễn tiếp cận vốn để có thể ổn định mặt bằng lãi suất trong dài hạn. Khi đó, doanh nghiệp mới có thể yên tâm giải ngân, mở rộng đầu tư và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế bền vững.

vọng tăng trưởng tín dụng cả năm đạt 16,4%

Hết quý đầu năm, thống kê của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93%, cao gấp khoảng 2,5 lần so với mức 1,42% cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh sự phục hồi tích cực của nhu cầu vay vốn trong nền kinh tế, trong đó, mặt bằng lãi suất thấp đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích tăng trưởng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và cá nhân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi nếu lạm phát kiểm soát ở mức thấp có thể linh hoạt điều chỉnh tăng trưởng tín dụng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo báo cáo của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính, các tổ chức tín dụng đánh giá, thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý I/2025 tiếp tục duy trì ở trạng thái “tốt”, với mức cải thiện vượt trội so với quý trước cũng như so với kỳ vọng trước đó. Các tổ chức tín dụng cũng dự báo thanh khoản sẽ tiếp tục được cải thiện trong quý II và cả năm 2025 so với năm 2024. Tuy nhiên, mức độ kỳ vọng về sự cải thiện đã thu hẹp nhẹ so với cuộc khảo sát trước và so với đánh giá cải thiện dành cho năm 2024.

"Trong quý II/2025, các tổ chức tín dụng kỳ vọng huy động vốn toàn hệ thống tăng bình quân 4,19% và dư nợ tín dụng tăng bình quân 4,39%. Tính chung cả năm 2025, huy động vốn toàn hệ thống được kỳ vọng tăng 13,1%, thấp hơn 3,3 điểm phần trăm so với kỳ vọng về tăng trưởng dư nợ tín dụng 16,4%" - báo cáo của Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính nêu rõ.

Trong đó, huy động vốn và tín dụng ngắn hạn được dự báo sẽ có mức tăng trưởng cao hơn so với các kỳ hạn dài. Kết quả khảo sát lần này cho thấy, mức độ kỳ vọng bình quân của các tổ chức tín dụng về tốc độ tăng trưởng huy động vốn theo năm đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm qua, kể từ khi Ngân hàng Nhà nước bắt đầu thực hiện các cuộc điều tra định kỳ từ năm 2020 đến nay./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

(TBTCO) - BVBank chuẩn bị triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026. Theo phương án trước đó, nếu hoàn tất hai đợt phát hành cho cổ đông hiện hữu và ESOP, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng 55% lên 9.912 tỷ đồng. BVBank cũng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển niêm yết cổ phiếu từ UPCoM sang HOSE.
Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/7: Vàng thế giới neo quanh 4.175 USD/ounce, vàng miếng giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới gần như không đổi so với sáng qua, giao dịch quanh 4.175 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi ngang tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

Đa dạng sản phẩm tín dụng, dồn vốn cho dự án xanh

(TBTCO) - Dư nợ tín dụng xanh đạt 828 nghìn tỷ đồng, với đông đảo 82 tổ chức tín dụng tham gia, song tỷ trọng còn thấp do còn nhiều vướng mắc. Ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo tập trung dòng vốn vào các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh sau khi được công khai, chuẩn hóa và sớm trình cơ chế hỗ trợ lãi suất 2%/năm để thúc đẩy tín dụng xanh.
Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/7: Vàng thế giới đi ngang, vàng trong nước giữ mốc 151,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì quanh 4.175 USD/ounce, gần như không đổi so với sáng ngày hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng không ghi nhận biến động với mức bán ra phổ biến 151,4 triệu đồng/lượng.
Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

Bộ Công an chỉ rõ thủ đoạn lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, số tiền chiếm đoạt tới 2.600 tỷ đồng

(TBTCO) - Tại họp báo Chính phủ ngày 4/7, đại diện Bộ Công an cho biết đã tiếp nhận khoảng 2.500 đơn tố giác liên quan đến lừa đảo hợp đồng kỳ nghỉ, qua đó khởi tố 40 vụ án, với số tiền bị chiếm đoạt ước khoảng 2.600 tỷ đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tập trung điều tra vụ án này, tiếp tục xác minh làm rõ để thu hồi tài sản.
Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số

(TBTCO) - Thông tin từ phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương cho thấy, GDP 6 tháng tăng 8,18%, cao nhất kể từ năm 2011, CPI tăng 4,38% vẫn trong phạm vi mục tiêu cả năm. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, kinh tế 6 tháng cuối năm cần tăng tới 11,7%, mục tiêu đặt ra là rất cao, nhưng có nhiều thuận lợi.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,800 15,100
Kim TT/AVPL 14,800 15,100
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,800 15,100
Nguyên Liệu 99.99 13,560 13,760
Nguyên Liệu 99.9 13,510 13,710
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,060 14,560
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,010 14,510
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,940 14,490
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,000 151,000
Hà Nội - PNJ 148,000 151,000
Đà Nẵng - PNJ 148,000 151,000
Miền Tây - PNJ 148,000 151,000
Tây Nguyên - PNJ 148,000 151,000
Đông Nam Bộ - PNJ 148,000 151,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,800 15,100
Miếng SJC Nghệ An 14,800 15,100
Miếng SJC Thái Bình 14,800 15,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,650 15,000
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,650 15,000
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,190 14,890
Trang sức 99.99 14,200 14,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 148 15,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 148 15,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,479 1,509
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,479 151
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,459 1,494
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 140,921 147,921
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,711 112,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,252 101,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,793 91,293
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,759 87,259
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,956 62,456
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 148 151
Cập nhật: 07/07/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17699 17972 18548
CAD 17961 18236 18856
CHF 31988 32370 33015
CNY 0 3828 3922
EUR 29397 29618 30699
GBP 34276 34667 35605
HKD 0 3222 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14635 15223
SGD 19789 20070 20645
THB 705 768 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,102 26,102 26,462
USD(1-2-5) 25,058 - -
USD(10-20) 25,058 - -
EUR 29,539 29,563 30,950
JPY 157.78 158.06 167.46
GBP 34,440 34,533 35,708
AUD 17,889 17,954 18,623
CAD 18,165 18,223 18,878
CHF 32,262 32,362 33,289
SGD 19,913 19,975 20,748
CNY - 3,800 3,942
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.84 16.52 17.96
THB 753.11 762.41 815.58
NZD 14,624 14,760 15,186
SEK - 2,678 2,771
DKK - 3,952 4,088
NOK - 2,630 2,720
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,024.92 - 6,797.46
TWD 739.49 - 895.08
SAR - 6,887.37 7,248.58
KWD - 83,223 88,475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,465 34,603 35,632
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,140 32,269 33,202
JPY 158.50 159.14 167
AUD 17,886 17,958 18,552
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 772 775 811
CAD 18,172 18,245 18,813
NZD 14,720 15,257
KRW 16.48 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26462
AUD 17871 17971 18902
CAD 18130 18230 19244
CHF 32227 32257 33843
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29565 29595 31321
GBP 34559 34609 36378
HKD 0 3355 0
JPY 158.53 159.03 169.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14737 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19945 20075 20800
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80