Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025

(TBTCO) - Thứ hạng các ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao ở các kỳ hạn tiếp tục biến động trong tháng 4/2025 khi mặt bằng lãi suất chung tiếp tục hạ nhiệt. Trong khi một số ngân hàng vươn lên dẫn đầu nhờ giữ nguyên mức lãi suất, phần lớn ngân hàng khác đồng loạt giảm nhẹ, song mức giảm lớn nhất chỉ 0,5%.
aa

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Thống kê của Báo Tài chính - Đầu tư ngày 14/4 cho thấy, ở kỳ hạn 1 tháng, mức lãi suất cao nhất là 4,05%/năm, được áp dụng tại VCBNeo (trước đây là CBBank). Ngân hàng này giữ nguyên mức lãi suất so với tháng trước, trong khi hầu hết các ngân hàng khác đã cắt giảm, giúp VCBNeo vươn lên dẫn đầu bảng xếp hạng.

Ngân hàng nào đang trả lãi cao nhất?

Với kỳ hạn 1 tháng, đứng thứ hai là Vikki Bank (trước đây là DongA bank) với mức lãi suất 3,9%/năm, giảm 0,5% so với khảo sát tháng trước. BVBank, MBV (chuyển đổi từ OceanBank) và NCB cùng niêm yết lãi suất 3,8%/năm. Như vậy, 3/4 ngân hàng có lãi suất huy động cao đều là các ngân hàng yếu kém bị chuyển giao bắt buộc.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, VPBank vẫn trụ vững vị trí đầu bảng về lãi suất huy động là 3,6%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,1%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,1%/năm, giảm 0,1% so với tháng trước.

Tại kỳ hạn 6 tháng, lựa chọn phổ biến của nhiều người dân, mức lãi suất tiết kiệm cao nhất trong tháng 4/2025 là 5,5%/năm, được áp dụng tại VCBNeo. Các ngân hàng MBV và Vikki Bank đồng hạng, cùng niêm yết mức 5,3%/năm.

Ở chiều ngược lại, nhóm Big 4 ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất thấp nhất cho kỳ hạn này, dao động từ 2,9% đến 3,5%/năm. Trong đó, Agribank tiếp tục dẫn đầu nhóm với mức lãi suất cao nhất trong nhóm Big 4.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Đối với những khoản tiền nhàn rỗi trong dài hạn, kỳ hạn 12 tháng tiếp tục là lựa chọn lý tưởng khi nhiều ngân hàng không chỉ áp dụng lãi suất hấp dẫn mà còn kèm theo các ưu đãi bổ sung.

Tạo đà kéo giảm mặt bằng lãi suất cho vay 0,6% quý đầu năm

"Đối với nhóm ngân hàng thương mại tư nhân, trung bình lãi suất kỳ hạn ngắn đã giảm khoảng 0,07% và trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng giảm 0,09% về mức 4,96%. Qua đó, tạo điều kiện cho mặt bằng lãi suất cho vay giảm giúp hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Theo Vụ trưởng vụ Chính sách tiền tệ - Ngân hàng Nhà nước (NHNN), mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm 0,6% trong 3 tháng đầu năm nay" - MBS nhận định.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, VietinBank, BIDV và Agribank đồng loạt áp dụng mức lãi suất 4,7%/năm, trong khi Vietcombank duy trì mức thấp hơn 4,6%/năm, không thay đổi so với tháng trước.

Ở khối ngân hàng thương mại tư nhân, MBV dẫn đầu với lãi suất kỳ hạn 12 tháng lên tới 5,7%/năm. Theo sát phía sau là VCBNeo và Saigonbank, cùng niêm yết ở mức 5,6%/năm.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), kể từ sau những chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng vào cuối tháng 2, mặt bằng lãi suất đầu vào đã hạ nhiệt đáng kể với 25 ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất với mức giảm 0,1% - 1,05% đối với nhiều kỳ hạn.

Theo đó, đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, trung bình lãi suất kỳ hạn ngắn đã giảm khoảng 0,07% so với cuối tháng 2, trong khi trung bình lãi suất kỳ hạn 12 tháng vẫn giữ nguyên ở mức 4,7%.

Mức giảm tới 0,5% trong hơn 1 tháng qua

Thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam trong 5 tuần qua (từ ngày 10/3 - 11/4) cũng cho thấy rõ nét xu hướng giảm lãi suất tiền gửi tiết kiệm ở các kỳ hạn tại các ngân hàng, nhằm thực hiện chỉ đạo của NHNN ngày 25/2 về việc ổn định lãi suất tiền gửi, giảm lãi suất cho vay.

Theo Hiệp hội Ngân hàng, trong đợt giảm lãi suất này, Vikki Bank có mức giảm lãi suất mạnh nhất ở kỳ hạn 1 tháng, với mức giảm 0,5%, xuống còn 3,9%/năm, lĩnh lãi cuối kỳ. Các kỳ hạn 3, 6, 9, 12 tháng cũng ghi nhận mức giảm từ 0,25 - 0,3%. Mức lãi suất huy động cao nhất đang được áp dụng tại Vikki Bank là 5,9%, áp dụng cho các khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường tại kỳ hạn từ 18 - 36 tháng.

Bên cạnh các mức lãi suất trên, Vikki Bank cũng dành ưu đãi cộng lãi suất cho khách hàng gửi tiền tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng (lĩnh lãi cuối kỳ) có số dư tiền gửi 999 tỷ đồng trở lên.

Theo đó, Vikki Bank sẽ cộng thêm lãi suất huy động với biên độ 1,8%, nâng mức lãi suất tối đa khách hàng có thể được nhận là 7,5%/năm. Mức lãi suất cộng thêm này không áp dụng đồng thời với các chương trình khuyến mãi khác.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025. Ảnh tư liệu.

Hay Eximbank cũng điều chỉnh giảm lãi suất huy động thêm 0,3% cho các khoản tiền gửi tiết kiệm tại quầy các kỳ hạn 6, 12 tháng, theo đó, lãi suất các kỳ hạn này lần lượt ở mức 4,9% và 5,1%/năm. Các kỳ hạn 9, 24 tháng cũng giảm 0,2% xuống mức 5% và 5,6%/năm.

"Eximbank cũng là ngân hàng duy nhất tăng nhẹ lãi suất huy động thêm 0,1% ở kỳ hạn 3 tháng lên mức 3,6%/năm. Hiện lãi suất huy động cao nhất ở ngân hàng này là 5,9%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 24 tháng, gửi online vào thứ 7 và chủ nhật" - Hiệp hội Ngân hàng nêu rõ.

Các ngân hàng còn lại có mức giảm lãi suất huy động từ 0,05 - 0,2%/năm, áp dụng cho cả tiền gửi tiết kiệm tại quầy và tiền gửi tiết kiệm online, có kỳ hạn từ 1 - 60 tháng.

Báo cáo cũng cho thấy, sau khi một số ngân hàng điều chỉnh lãi suất tiền gửi cá nhân (lĩnh lãi cuối kỳ), mặt bằng lãi suất huy động cao nhất tại các kỳ hạn ghi nhận sự phân hóa rõ rệt theo quy mô tiền gửi. Với khoản tiền gửi "khủng" từ 500 tỷ đồng trở lên, hiện có 4 ngân hàng niêm yết lãi suất từ 7%/năm trở lên.

Cụ thể, MSB áp dụng mức lãi suất từ 7 - 8%/năm; HDBank từ 7,7 - 8,1%/năm; PVcomBank huy động mức 9%/năm đối với tiền gửi tại quầy từ 2.000 tỷ đồng, áp dụng cho kỳ hạn 12 - 13 tháng; Vikki Bank áp dụng mức 7,5%/năm cho khoản tiền gửi tại quầy kỳ hạn 13 tháng từ 999 tỷ đồng trở lên.

Lãi suất huy động quý II/2025 dự báo tiếp tục lặng sóng

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý II/2025 vừa được Vụ Dự báo, Thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (NHNN) công bố cho thấy, trong quý I/2025, mặt bằng lãi suất huy động vốn bằng VND bình quân các kỳ hạn giảm nhẹ từ 0,03 - 0,05 điểm phần trăm.

Dự báo cho quý II/2025 và cả năm 2025, các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng lãi suất huy động vốn bằng VND bình quân toàn hệ thống duy trì ổn định trong quý II/2025 và chỉ tăng rất nhẹ 0,02 điểm phần trăm đối với các kỳ hạn trên 6 tháng và tăng nhẹ 0,17 điểm phần trăm với các kỳ hạn từ 6 tháng trở xuống trong cả năm 2025.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 23:00
Ngân hàng