Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp nối xu hướng giảm lãi suất từ cuối tháng trước, thống kê của TBTCVN cho thấy, trong tháng 3/2025, số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất chiếm ưu thế so với số ngân hàng tăng lãi suất. Đáng chú ý, lãi suất kỳ hạn dài tại nhiều ngân hàng đã tuột khỏi mốc 6%/năm; một ngân hàng big 4 cũng mới hạ lãi suất.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Thống kê của TBTCVN cho thấy, tính đến ngày 10/3, BIDV vừa giảm 0,1%/năm lãi suất các kỳ hạn dưới 6 tháng, xuống dao động từ 1,6 - 1,9%/năm. Số lượng ngân hàng giảm lãi suất các kỳ hạn gồm: BVBank, VietBank, VietABank, VIB, NCB, HDBank, VCBNeo... Những ngân hàng tuột khỏi mốc 6%/năm với những kỳ hạn dài như: BVBank, Vikki Bank , BacABank...

Rầm rộ hạ lãi suất, thứ hạng các ngân hàng trả lãi suất cao ra sao?

Theo đó, ngày 26/2 - 1/3, KienlongBank tiến hành điều chỉnh giảm hai lần. Đối với tiền gửi online giảm 0,2 - 0,9% các kỳ hạn 1 - 60 tháng; đối với tiền gửi tại quầy giảm 0,2 - 0,3% các kỳ hạn từ 13 - 60 tháng.

Có ngân hàng hạ lãi suất 0,9%/năm

Theo Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước - NHNN), tính đến đầu tháng 3/2025, có 16 ngân hàng giảm nhanh lãi suất, với mức giảm từ 0,1 - 0,9%/năm tùy theo từng kỳ hạn.

Ngày 5/3, NCB đã giảm 0,1% kỳ hạn từ 1 - 60 tháng cả online và tại quầy. Cũng trong ngày 5/3, SHB giảm 0,1% các kỳ hạn từ 6 - 11, 13,15 tháng; giảm 0,2% kỳ hạn 12, 18 tháng, giảm 0,3% kỳ hạn 24,36 tháng đối với tiền gửi tại quầy và online.

Ngày 6/3, VCBNeo được ghi nhận giảm 0,15% kỳ hạn từ 6 tháng trở lên đối với tất cả các sản phẩm tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm tại quầy và online.

Ngày 25/2, MSB đã có điều chỉnh đối với tiền gửi tại quầy: giảm 0,2% các kỳ hạn từ 13 - 36 tháng; đối với tiền gửi online giảm 0,2% các kỳ hạn từ 1 - 5 tháng và 12 - 36 tháng.

Ngày 28/2 đến 6/3 tại VIB, đối với tiền gửi tại quầy giảm 0,1% các kỳ hạn 6 - 11 tháng đối với khách hàng có số dư tiền gửi từ 10 - dưới 300 triệu và giảm 0,1% các kỳ hạn từ 1-36 tháng đối với khách hàng có số dư từ 300 triệu trở lên; giảm 0,1% đối với tiền gửi iDepo từ 1 tỷ trở lên. Đối với tiền gửi trực tuyến, VIB giảm 0,1-0,2% đối với tiền gửi các kỳ hạn từ 1-36 tháng và tiền gửi iDepo.

Ở chiều ngược lại, lác đác vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất như: VietABank tăng 0,1% lên 5,7%/năm kỳ hạn 24 tháng; Eximbank tăng 0,1% lên 3,5%/năm kỳ hạn 3 tháng. Riêng Vikki Bank (trước là DongA Bank) tăng lãi suất hầu hết các kỳ hạn: kỳ hạn 1 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,3%); 3 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,1%); 6 tháng tăng lên 5,6% (0,05%); 12 tháng lên 5,9%/năm (tăng 0,1%). Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất giảm 0,2%, mất mốc 6%/năm, về còn 5,9%/năm.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025. Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Thứ hạng các ngân hàng trả lãi tiết kiệm cao tại các kỳ hạn chứng kiến biến động so với tháng trước do nhiều ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất. Cụ thể, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/03 là 4,4%/năm được áp dụng tại Vikki Bank, đứng thứ hai là VCBNeo (trước đây là CBBank) với mức lãi suất 4,05%/năm. NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm. Như vậy, 3/4 ngân hàng có lãi suất huy động cao đều là các ngân hàng yếu kém bị chuyển giao bắt buộc.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, VPBank vẫn trụ vững vị trí đầu bảng về lãi suất huy động là 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6-2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm, không đổi so với tháng trước.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 là 5,6%/năm được áp dụng tại Vikki Bank; VCBNeo cao thứ hai, với lãi suất 5,5%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9-3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong trường hợp có khoản tiền chưa cần sử dụng trong thời gian dài, kỳ hạn 12 tháng có mức lãi suất lý tưởng nhất, được nhiều ngân hàng áp dụng thêm chính sách các ưu đãi khác. Trong nhóm "tứ trụ", Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm; Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Duy trì thanh khoản, không để tăng lãi suất huy động

Thống kê những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) đang tăng dần, phản ánh sự mở rộng tín dụng mạnh mẽ hơn so với tốc độ huy động vốn.

Tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ tại 27 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán hơn 11,85 triệu tỷ đồng, tăng 18% so với đầu năm. Trong khi đó, tổng lượng tiền gửi khách hàng tại các ngân hàng đạt 11,14 triệu tỷ đồng, tăng 13%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025
Nhiều ngân hàng hạ lãi suất huy động. Ảnh minh hoạ

Đến hết năm 2024, chỉ có 9/27 ngân hàng có tỷ lệ LDR dưới 85%. Theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN, từ ngày 01/01/2020, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi LDR tối đa ở mức 85% đối với ngân hàng quốc doanh và thương mại cổ phần.

Ông Phan Duy Hưng - Giám đốc, chuyên gia phân tích cao cấp Khối xếp hạng & nghiên cứu VIS Rating cho rằng, ngân hàng nhỏ sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản cao, do phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng và có bộ đệm yếu, thanh khoản ở mức thấp.

Còn lại 2/3 số ngân hàng đều vượt ngưỡng, đây là một tín hiệu cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực lớn.

Thậm chí, có 4 ngân hàng còn vượt mức 100%: VPBank (125,37%), VIB (108,16%), SeABank (SSB, 105,33%) và MSB (101,4%).

Chia sẻ gần đây, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, tổng vốn huy động là 15,2 triệu tỷ đồng nhưng cho vay 15,8 triệu tỷ đồng. Hiện nay nhiều ngân hàng cho vay cả trên 10 đồng, tức là ngân hàng phải sử dụng cả vốn tự có, cả vốn điều lệ của các ngân hàng, cả vốn tái cấp vốn của NHNN hỗ trợ để cho vay nhiều hơn vốn huy động. Trong khi đó, tại các quốc gia khác, huy động 10 đồng thì cho vay chỉ 9 đồng, còn 1 đồng phải đảm bảo an toàn.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế cũng lưu ý, rủi ro hệ thống khá lớn khi tỷ lệ LDR chạm ngưỡng hay vượt 100%, vì vậy, các ngân hàng phải điều chỉnh để tuân thủ mức 85%.

Khi tỷ lệ LDR cao, việc huy động tiền gửi từ dân cư tăng chậm hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, ngân hàng sẽ phải tìm kiếm nguồn vốn từ các kênh khác để duy trì hoạt động cho vay như: vay vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, phát hành trái phiếu, hoặc tái cơ cấu danh mục cho vay, tập trung thu hồi nợ cũ để tái sử dụng nguồn vốn; hoặc NHNN bơm thanh khoản qua nghiệp vụ thị trường mở, qua đó, tăng cung tiền cho hệ thống ngân hàng...

Trước áp lực thanh khoản ngày càng lớn, chuyên gia từ VIS Rating mới đây cho rằng, khi nhu cầu tín dụng tăng lên đang hướng đến mục tiêu 16%, năm 2025, cao hơn nhiều năm, cũng sẽ gia tăng áp lực hơn nữa lên các ngân hàng nhỏ.

Về định hướng điều hành chính sách trong thời gian tới, NHNN sẽ tăng cường giám sát lãi suất, vừa đảm bảo sự chủ động cho các ngân hàng thương mại, vừa chia sẻ với doanh nghiệp bằng cách giảm chi phí và lãi suất cho vay ở mọi kỳ hạn. Bên cạnh đó, NHNN sẽ chủ động điều tiết các công cụ chính sách để giúp các ngân hàng duy trì thanh khoản, đảm bảo nguồn vốn mà không cần phải tăng lãi suất huy động./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,890 ▼50K 16,590 ▼50K
Trang sức 99.99 15,900 ▼50K 16,600 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80