Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp nối xu hướng giảm lãi suất từ cuối tháng trước, thống kê của TBTCVN cho thấy, trong tháng 3/2025, số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất chiếm ưu thế so với số ngân hàng tăng lãi suất. Đáng chú ý, lãi suất kỳ hạn dài tại nhiều ngân hàng đã tuột khỏi mốc 6%/năm; một ngân hàng big 4 cũng mới hạ lãi suất.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Thống kê của TBTCVN cho thấy, tính đến ngày 10/3, BIDV vừa giảm 0,1%/năm lãi suất các kỳ hạn dưới 6 tháng, xuống dao động từ 1,6 - 1,9%/năm. Số lượng ngân hàng giảm lãi suất các kỳ hạn gồm: BVBank, VietBank, VietABank, VIB, NCB, HDBank, VCBNeo... Những ngân hàng tuột khỏi mốc 6%/năm với những kỳ hạn dài như: BVBank, Vikki Bank , BacABank...

Rầm rộ hạ lãi suất, thứ hạng các ngân hàng trả lãi suất cao ra sao?

Theo đó, ngày 26/2 - 1/3, KienlongBank tiến hành điều chỉnh giảm hai lần. Đối với tiền gửi online giảm 0,2 - 0,9% các kỳ hạn 1 - 60 tháng; đối với tiền gửi tại quầy giảm 0,2 - 0,3% các kỳ hạn từ 13 - 60 tháng.

Có ngân hàng hạ lãi suất 0,9%/năm

Theo Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước - NHNN), tính đến đầu tháng 3/2025, có 16 ngân hàng giảm nhanh lãi suất, với mức giảm từ 0,1 - 0,9%/năm tùy theo từng kỳ hạn.

Ngày 5/3, NCB đã giảm 0,1% kỳ hạn từ 1 - 60 tháng cả online và tại quầy. Cũng trong ngày 5/3, SHB giảm 0,1% các kỳ hạn từ 6 - 11, 13,15 tháng; giảm 0,2% kỳ hạn 12, 18 tháng, giảm 0,3% kỳ hạn 24,36 tháng đối với tiền gửi tại quầy và online.

Ngày 6/3, VCBNeo được ghi nhận giảm 0,15% kỳ hạn từ 6 tháng trở lên đối với tất cả các sản phẩm tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm tại quầy và online.

Ngày 25/2, MSB đã có điều chỉnh đối với tiền gửi tại quầy: giảm 0,2% các kỳ hạn từ 13 - 36 tháng; đối với tiền gửi online giảm 0,2% các kỳ hạn từ 1 - 5 tháng và 12 - 36 tháng.

Ngày 28/2 đến 6/3 tại VIB, đối với tiền gửi tại quầy giảm 0,1% các kỳ hạn 6 - 11 tháng đối với khách hàng có số dư tiền gửi từ 10 - dưới 300 triệu và giảm 0,1% các kỳ hạn từ 1-36 tháng đối với khách hàng có số dư từ 300 triệu trở lên; giảm 0,1% đối với tiền gửi iDepo từ 1 tỷ trở lên. Đối với tiền gửi trực tuyến, VIB giảm 0,1-0,2% đối với tiền gửi các kỳ hạn từ 1-36 tháng và tiền gửi iDepo.

Ở chiều ngược lại, lác đác vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất như: VietABank tăng 0,1% lên 5,7%/năm kỳ hạn 24 tháng; Eximbank tăng 0,1% lên 3,5%/năm kỳ hạn 3 tháng. Riêng Vikki Bank (trước là DongA Bank) tăng lãi suất hầu hết các kỳ hạn: kỳ hạn 1 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,3%); 3 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,1%); 6 tháng tăng lên 5,6% (0,05%); 12 tháng lên 5,9%/năm (tăng 0,1%). Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất giảm 0,2%, mất mốc 6%/năm, về còn 5,9%/năm.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025. Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Thứ hạng các ngân hàng trả lãi tiết kiệm cao tại các kỳ hạn chứng kiến biến động so với tháng trước do nhiều ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất. Cụ thể, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/03 là 4,4%/năm được áp dụng tại Vikki Bank, đứng thứ hai là VCBNeo (trước đây là CBBank) với mức lãi suất 4,05%/năm. NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm. Như vậy, 3/4 ngân hàng có lãi suất huy động cao đều là các ngân hàng yếu kém bị chuyển giao bắt buộc.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, VPBank vẫn trụ vững vị trí đầu bảng về lãi suất huy động là 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6-2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm, không đổi so với tháng trước.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 là 5,6%/năm được áp dụng tại Vikki Bank; VCBNeo cao thứ hai, với lãi suất 5,5%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9-3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong trường hợp có khoản tiền chưa cần sử dụng trong thời gian dài, kỳ hạn 12 tháng có mức lãi suất lý tưởng nhất, được nhiều ngân hàng áp dụng thêm chính sách các ưu đãi khác. Trong nhóm "tứ trụ", Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm; Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Duy trì thanh khoản, không để tăng lãi suất huy động

Thống kê những năm gần đây cho thấy, tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/huy động) đang tăng dần, phản ánh sự mở rộng tín dụng mạnh mẽ hơn so với tốc độ huy động vốn.

Tính đến cuối năm 2024, tổng dư nợ tại 27 ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán hơn 11,85 triệu tỷ đồng, tăng 18% so với đầu năm. Trong khi đó, tổng lượng tiền gửi khách hàng tại các ngân hàng đạt 11,14 triệu tỷ đồng, tăng 13%, thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025
Nhiều ngân hàng hạ lãi suất huy động. Ảnh minh hoạ

Đến hết năm 2024, chỉ có 9/27 ngân hàng có tỷ lệ LDR dưới 85%. Theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN, từ ngày 01/01/2020, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi LDR tối đa ở mức 85% đối với ngân hàng quốc doanh và thương mại cổ phần.

Ông Phan Duy Hưng - Giám đốc, chuyên gia phân tích cao cấp Khối xếp hạng & nghiên cứu VIS Rating cho rằng, ngân hàng nhỏ sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản cao, do phụ thuộc vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng và có bộ đệm yếu, thanh khoản ở mức thấp.

Còn lại 2/3 số ngân hàng đều vượt ngưỡng, đây là một tín hiệu cho thấy thanh khoản hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực lớn.

Thậm chí, có 4 ngân hàng còn vượt mức 100%: VPBank (125,37%), VIB (108,16%), SeABank (SSB, 105,33%) và MSB (101,4%).

Chia sẻ gần đây, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, tổng vốn huy động là 15,2 triệu tỷ đồng nhưng cho vay 15,8 triệu tỷ đồng. Hiện nay nhiều ngân hàng cho vay cả trên 10 đồng, tức là ngân hàng phải sử dụng cả vốn tự có, cả vốn điều lệ của các ngân hàng, cả vốn tái cấp vốn của NHNN hỗ trợ để cho vay nhiều hơn vốn huy động. Trong khi đó, tại các quốc gia khác, huy động 10 đồng thì cho vay chỉ 9 đồng, còn 1 đồng phải đảm bảo an toàn.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế cũng lưu ý, rủi ro hệ thống khá lớn khi tỷ lệ LDR chạm ngưỡng hay vượt 100%, vì vậy, các ngân hàng phải điều chỉnh để tuân thủ mức 85%.

Khi tỷ lệ LDR cao, việc huy động tiền gửi từ dân cư tăng chậm hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng, ngân hàng sẽ phải tìm kiếm nguồn vốn từ các kênh khác để duy trì hoạt động cho vay như: vay vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng, phát hành trái phiếu, hoặc tái cơ cấu danh mục cho vay, tập trung thu hồi nợ cũ để tái sử dụng nguồn vốn; hoặc NHNN bơm thanh khoản qua nghiệp vụ thị trường mở, qua đó, tăng cung tiền cho hệ thống ngân hàng...

Trước áp lực thanh khoản ngày càng lớn, chuyên gia từ VIS Rating mới đây cho rằng, khi nhu cầu tín dụng tăng lên đang hướng đến mục tiêu 16%, năm 2025, cao hơn nhiều năm, cũng sẽ gia tăng áp lực hơn nữa lên các ngân hàng nhỏ.

Về định hướng điều hành chính sách trong thời gian tới, NHNN sẽ tăng cường giám sát lãi suất, vừa đảm bảo sự chủ động cho các ngân hàng thương mại, vừa chia sẻ với doanh nghiệp bằng cách giảm chi phí và lãi suất cho vay ở mọi kỳ hạn. Bên cạnh đó, NHNN sẽ chủ động điều tiết các công cụ chính sách để giúp các ngân hàng duy trì thanh khoản, đảm bảo nguồn vốn mà không cần phải tăng lãi suất huy động./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 6/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 2,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 6/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 2,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 150 USD/ounce lên ngưỡng 4.247 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt được điều chỉnh tăng, với mức cao nhất lên tới 2,8 triệu đồng/lượng.
PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80