Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp đà giảm lãi suất từ cuối tháng trước, đầu tháng 3/2025, số lượng ngân hàng giảm lãi suất lấn át lượng ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, có đơn vị giảm lãi suất huy động tới 0,7%/năm. Nhà điều hành phát đi những tín hiệu mạnh mẽ về định hướng chính sách, nhằm kéo giảm lãi suất trên thị trường và tạo đà thúc đẩy tăng trưởng GDP.
aa
Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng
Trong tháng 2/2025 có 9 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất. Ảnh tư liệu

Tổng hợp từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo thanh tra những ngân hàng tăng lãi suất huy động ngày 27/2, nhiều ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ 0,1 - 0,3%. Trong tháng 2/2025 có 15 ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động. Trong đó, số lượng điều chỉnh giảm lãi suất lên tới 9 nhà băng gồm: TPBank, BacABank, MSB, KienlongBank, BVBank, Vietcombank, VIB, Agribank, Saigonbank.

Ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất, mốc 6%/năm xa dần

Cũng theo Hiệp hội Ngân hàng, vẫn còn một số ngân hàng điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất như: Techcombank, VietABank, BaoViet Bank. Bên cạnh đó, một số ngân hàng điều chỉnh tăng và giảm đan xen như: Eximbank (tăng lãi suất 1 - 12 tháng, giảm lãi suất 15 - 36 tháng, giảm lãi suất 15 - 36 tháng và giảm kỳ hạn 6 - 36 tháng); Vikki Bank (tăng kỳ hạn 1 - 8 tháng và 12 tháng, giảm lãi suất kỳ hạn 13 - 36 tháng); VietBank (tăng lãi suất kỳ hạn 1 - 5 tháng và 7 - 9 tháng, giảm lãi suất kỳ hạn 1 - 5 tháng).

Doanh nghiệp, người gửi tiền và ngân hàng cùng chia sẻ

Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng

Tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ rất rõ ràng, yêu cầu các ngân hàng nhanh chóng giảm lãi suất. Muốn giảm lãi suất cho vay thì phải giảm lãi suất huy động. Chủ trương là phải giảm lãi suất để doanh nghiệp, người gửi tiền và ngân hàng có sự chia sẻ một cách đồng thời, đồng bộ, nhằm mở rộng đầu tư, huy động vốn, cho vay vốn và sử dụng đồng vốn hiệu quả để đạt mục tiêu GDP trên 8% trong năm nay. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú

Trước đó, cuối tháng 2/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 19/CĐ-TTg yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện ngay việc thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động thời gian qua và việc công bố, thực hiện lãi suất huy động, cho vay của các tổ chức tín dụng. Kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các trường hợp vi phạm, nhất là các tổ chức tín dụng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh, không đúng quy định, cả lãi suất huy động và cho vay.

Tiếp đà giảm lãi suất từ cuối tháng trước, thống kê của TBTCVN cho thấy đầu tháng 3/2025, số lượng ngân hàng giảm lãi suất lấn át lượng ngân hàng điều chỉnh tăng gồm: BVBank, VietBank, VietABank, VIB, NCB, HDBank, BacABank... nhiều ngân hàng mất mốc 6%/năm với kỳ hạn huy động dài. Đơn cử, BVBank giảm từ 0,1 - 0,4%, giảm mạnh nhất là kỳ hạn 24 tháng, từ 6,3%/năm xuống còn 5,9%/năm. VietBank cũng giảm hầu hết các kỳ hạn như: kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 12 tháng đều giảm 0,2%; kỳ hạn 6 tháng giảm 0,3%.

Ở chiều ngược lại, vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất kỳ hạn dài 24 tháng như: VietABank tăng 0,1% lên 5,7%/năm; HDBank có cùng mức tăng, lên 5,5%/năm; ABBank tăng 0,3% lên

5,6%/năm. Riêng Vikki Bank (trước là DongA Bank) tăng lãi suất hầu hết các kỳ hạn: kỳ hạn 1 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,3%); 3 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,1%); 6 tháng tăng lên 5,6% (0,05%); 12 tháng lên 5,9%/năm (tăng 0,1%). Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất lại giảm 0,2%, mất mốc 6%/năm, về còn 5,9%/năm.

Duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý

Trao đổi gần đây, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, vừa qua tranh thủ giai đoạn đầu năm sau Tết Âm lịch, một số ngân hàng có điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở một số kỳ hạn để hút dòng tiền nhàn rỗi. Tuy nhiên, theo định hướng chung, mục tiêu là hỗ trợ nền kinh tế, do đó cần duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý để giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và người vay.

Trước chỉ đạo này, nhiều ngân hàng đã nhanh chóng điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Tính đến nay, đã có 12 ngân hàng thực hiện điều chỉnh, trong đó một số đơn vị giảm tới 0,7%/năm. Đồng thời, nhiều ngân hàng cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi, đặc biệt là cho vay tiêu dùng, vay mua nhà ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp, góp phần kích thích thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cũng theo ghi nhận của Ngân hàng UOB, mặt bằng lãi suất VND năm 2024 tăng khoảng 0,5 - 1% do nhu cầu vốn gia tăng nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7%. Các ngân hàng thương mại lớn tiếp tục duy trì lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng quanh mức 4,8 - 5%, trong khi một số ngân hàng khác ổn định ở mức 5,5% trong những tháng gần đây. Mức lãi suất này được đánh giá là phù hợp trong bối cảnh VND mất giá khoảng 5% so với USD trong năm 2024.

Bước sang năm 2025, thị trường ghi nhận một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, tuy nhiên đây chỉ là diễn biến cục bộ và nhanh chóng giảm trở lại sau khi có chỉ đạo từ Thủ tướng Chính phủ.

Với mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm nay, Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp thúc đẩy nền kinh tế, bao gồm đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng đang xem xét các biện pháp mở rộng tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế.

Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ Ngân hàng UOB Việt Nam cho rằng, Việt Nam hiện là một trong những thị trường đang phát triển có nhiều lợi thế nhờ cơ cấu dân số trẻ, nền kinh tế vĩ mô ổn định và thương mại quốc tế đa dạng. Đây chính là nền tảng quan trọng để duy trì sự ổn định của lãi suất và tỷ giá trong trung và dài hạn. Trong trường hợp lãi suất USD toàn cầu giảm, kinh tế thế giới phục hồi mạnh hơn và dòng vốn đầu tư quay trở lại các thị trường mới nổi khi căng thẳng địa chính trị lắng dịu, những áp lực này có thể được cân bằng.

Duy trì mục tiêu giảm lãi suất, tăng thanh khoản cho thị trường

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm nay, hướng tới mức hai con số nhằm tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, ở góc độ ngành ngân hàng, đây là nhiệm vụ rất lớn nhằm cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Ngành ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% trong năm nay, đồng nghĩa với việc dư nợ tăng thêm khoảng 2,5 triệu tỷ đồng. Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt 8%, tổng nguồn vốn cần bổ sung sẽ còn lớn hơn.

Cũng theo Phó Thống đốc, mở rộng đầu tư chỉ khả thi khi giảm chi phí vốn. Trong năm 2024, mặt bằng lãi suất giảm trung bình khoảng 1,1% so với cuối năm 2023, những ngân hàng quốc doanh thậm chí giảm tới 1,6%. Tính chung toàn hệ thống, mức giảm trung bình đạt 1,4%. Riêng trong 2 tháng đầu năm 2025, theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cũng như của ngành Ngân hàng, các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất theo hướng ổn định. Sau đó, trên cơ sở tiết giảm chi phí của các ngân hàng thương mại một cách tích cực nhất, cao nhất, từ đó, có điều kiện giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại.

Để đạt được mục tiêu này, hệ thống ngân hàng cũng cần xoay vòng vốn nhanh hơn, tháo gỡ các vướng mắc trong giải ngân, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành để trình Chính phủ những giải pháp khơi thông nguồn vốn đang bị ách tắc tại các dự án.

Ngoài ra, tuần vừa qua, qua kênh thị trường mở, NHNN cũng chào mua giấy tờ có giá với nhiều kỳ hạn khác nhau, trong đó có kỳ hạn lên đến 91 ngày, nhằm bơm thanh khoản dài hạn hơn cho hệ thống ngân hàng, giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn kịp thời để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần hạ mặt bằng lãi suất. Từ ngày 5/3, NHNN cũng ngừng phát hành tín phiếu sau gần 5 tháng duy trì kênh hút thanh khoản này. Đây là tín hiệu mạnh mẽ về định hướng chính sách nhằm kéo giảm lãi suất trên thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 25/9: Vàng thế giới và trong nước cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm xuống 4.271 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt đi xuống, trong đó vàng miếng giảm tới 1,1 triệu đồng/lượng.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17676 17949 18530
CAD 17835 18109 18725
CHF 30695 31071 31731
CNY 0 3828 3924
EUR 28917 29136 30212
GBP 33523 33911 34854
HKD 0 3182 3384
JPY 157 160 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14370 14960
SGD 19768 20050 20627
THB 692 755 809
USD (1,2) 25723 0 0
USD (5,10,20) 25762 0 0
USD (50,100) 25790 25804 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26180
AUD 17866 17966 18888
CAD 18021 18121 19135
CHF 30970 31000 32589
CNY 3811.6 3836.6 3972.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29104 29134 30859
GBP 33834 33884 35645
HKD 0 3315 0
JPY 160.31 160.81 171.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14507 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20782
THB 0 721.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14500000
SBJ 13000000 13000000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30