Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp đà giảm lãi suất từ cuối tháng trước, đầu tháng 3/2025, số lượng ngân hàng giảm lãi suất lấn át lượng ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, có đơn vị giảm lãi suất huy động tới 0,7%/năm. Nhà điều hành phát đi những tín hiệu mạnh mẽ về định hướng chính sách, nhằm kéo giảm lãi suất trên thị trường và tạo đà thúc đẩy tăng trưởng GDP.
aa
Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng
Trong tháng 2/2025 có 9 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất. Ảnh tư liệu

Tổng hợp từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo thanh tra những ngân hàng tăng lãi suất huy động ngày 27/2, nhiều ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ 0,1 - 0,3%. Trong tháng 2/2025 có 15 ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động. Trong đó, số lượng điều chỉnh giảm lãi suất lên tới 9 nhà băng gồm: TPBank, BacABank, MSB, KienlongBank, BVBank, Vietcombank, VIB, Agribank, Saigonbank.

Ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất, mốc 6%/năm xa dần

Cũng theo Hiệp hội Ngân hàng, vẫn còn một số ngân hàng điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất như: Techcombank, VietABank, BaoViet Bank. Bên cạnh đó, một số ngân hàng điều chỉnh tăng và giảm đan xen như: Eximbank (tăng lãi suất 1 - 12 tháng, giảm lãi suất 15 - 36 tháng, giảm lãi suất 15 - 36 tháng và giảm kỳ hạn 6 - 36 tháng); Vikki Bank (tăng kỳ hạn 1 - 8 tháng và 12 tháng, giảm lãi suất kỳ hạn 13 - 36 tháng); VietBank (tăng lãi suất kỳ hạn 1 - 5 tháng và 7 - 9 tháng, giảm lãi suất kỳ hạn 1 - 5 tháng).

Doanh nghiệp, người gửi tiền và ngân hàng cùng chia sẻ

Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng

Tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ rất rõ ràng, yêu cầu các ngân hàng nhanh chóng giảm lãi suất. Muốn giảm lãi suất cho vay thì phải giảm lãi suất huy động. Chủ trương là phải giảm lãi suất để doanh nghiệp, người gửi tiền và ngân hàng có sự chia sẻ một cách đồng thời, đồng bộ, nhằm mở rộng đầu tư, huy động vốn, cho vay vốn và sử dụng đồng vốn hiệu quả để đạt mục tiêu GDP trên 8% trong năm nay. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú

Trước đó, cuối tháng 2/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 19/CĐ-TTg yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện ngay việc thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động thời gian qua và việc công bố, thực hiện lãi suất huy động, cho vay của các tổ chức tín dụng. Kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các trường hợp vi phạm, nhất là các tổ chức tín dụng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh, không đúng quy định, cả lãi suất huy động và cho vay.

Tiếp đà giảm lãi suất từ cuối tháng trước, thống kê của TBTCVN cho thấy đầu tháng 3/2025, số lượng ngân hàng giảm lãi suất lấn át lượng ngân hàng điều chỉnh tăng gồm: BVBank, VietBank, VietABank, VIB, NCB, HDBank, BacABank... nhiều ngân hàng mất mốc 6%/năm với kỳ hạn huy động dài. Đơn cử, BVBank giảm từ 0,1 - 0,4%, giảm mạnh nhất là kỳ hạn 24 tháng, từ 6,3%/năm xuống còn 5,9%/năm. VietBank cũng giảm hầu hết các kỳ hạn như: kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 12 tháng đều giảm 0,2%; kỳ hạn 6 tháng giảm 0,3%.

Ở chiều ngược lại, vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất kỳ hạn dài 24 tháng như: VietABank tăng 0,1% lên 5,7%/năm; HDBank có cùng mức tăng, lên 5,5%/năm; ABBank tăng 0,3% lên

5,6%/năm. Riêng Vikki Bank (trước là DongA Bank) tăng lãi suất hầu hết các kỳ hạn: kỳ hạn 1 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,3%); 3 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,1%); 6 tháng tăng lên 5,6% (0,05%); 12 tháng lên 5,9%/năm (tăng 0,1%). Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất lại giảm 0,2%, mất mốc 6%/năm, về còn 5,9%/năm.

Duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý

Trao đổi gần đây, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, vừa qua tranh thủ giai đoạn đầu năm sau Tết Âm lịch, một số ngân hàng có điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở một số kỳ hạn để hút dòng tiền nhàn rỗi. Tuy nhiên, theo định hướng chung, mục tiêu là hỗ trợ nền kinh tế, do đó cần duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý để giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và người vay.

Trước chỉ đạo này, nhiều ngân hàng đã nhanh chóng điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Tính đến nay, đã có 12 ngân hàng thực hiện điều chỉnh, trong đó một số đơn vị giảm tới 0,7%/năm. Đồng thời, nhiều ngân hàng cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi, đặc biệt là cho vay tiêu dùng, vay mua nhà ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp, góp phần kích thích thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cũng theo ghi nhận của Ngân hàng UOB, mặt bằng lãi suất VND năm 2024 tăng khoảng 0,5 - 1% do nhu cầu vốn gia tăng nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7%. Các ngân hàng thương mại lớn tiếp tục duy trì lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng quanh mức 4,8 - 5%, trong khi một số ngân hàng khác ổn định ở mức 5,5% trong những tháng gần đây. Mức lãi suất này được đánh giá là phù hợp trong bối cảnh VND mất giá khoảng 5% so với USD trong năm 2024.

Bước sang năm 2025, thị trường ghi nhận một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, tuy nhiên đây chỉ là diễn biến cục bộ và nhanh chóng giảm trở lại sau khi có chỉ đạo từ Thủ tướng Chính phủ.

Với mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm nay, Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp thúc đẩy nền kinh tế, bao gồm đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng đang xem xét các biện pháp mở rộng tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế.

Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ Ngân hàng UOB Việt Nam cho rằng, Việt Nam hiện là một trong những thị trường đang phát triển có nhiều lợi thế nhờ cơ cấu dân số trẻ, nền kinh tế vĩ mô ổn định và thương mại quốc tế đa dạng. Đây chính là nền tảng quan trọng để duy trì sự ổn định của lãi suất và tỷ giá trong trung và dài hạn. Trong trường hợp lãi suất USD toàn cầu giảm, kinh tế thế giới phục hồi mạnh hơn và dòng vốn đầu tư quay trở lại các thị trường mới nổi khi căng thẳng địa chính trị lắng dịu, những áp lực này có thể được cân bằng.

Duy trì mục tiêu giảm lãi suất, tăng thanh khoản cho thị trường

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm nay, hướng tới mức hai con số nhằm tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, ở góc độ ngành ngân hàng, đây là nhiệm vụ rất lớn nhằm cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Ngành ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% trong năm nay, đồng nghĩa với việc dư nợ tăng thêm khoảng 2,5 triệu tỷ đồng. Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt 8%, tổng nguồn vốn cần bổ sung sẽ còn lớn hơn.

Cũng theo Phó Thống đốc, mở rộng đầu tư chỉ khả thi khi giảm chi phí vốn. Trong năm 2024, mặt bằng lãi suất giảm trung bình khoảng 1,1% so với cuối năm 2023, những ngân hàng quốc doanh thậm chí giảm tới 1,6%. Tính chung toàn hệ thống, mức giảm trung bình đạt 1,4%. Riêng trong 2 tháng đầu năm 2025, theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cũng như của ngành Ngân hàng, các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất theo hướng ổn định. Sau đó, trên cơ sở tiết giảm chi phí của các ngân hàng thương mại một cách tích cực nhất, cao nhất, từ đó, có điều kiện giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại.

Để đạt được mục tiêu này, hệ thống ngân hàng cũng cần xoay vòng vốn nhanh hơn, tháo gỡ các vướng mắc trong giải ngân, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành để trình Chính phủ những giải pháp khơi thông nguồn vốn đang bị ách tắc tại các dự án.

Ngoài ra, tuần vừa qua, qua kênh thị trường mở, NHNN cũng chào mua giấy tờ có giá với nhiều kỳ hạn khác nhau, trong đó có kỳ hạn lên đến 91 ngày, nhằm bơm thanh khoản dài hạn hơn cho hệ thống ngân hàng, giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn kịp thời để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần hạ mặt bằng lãi suất. Từ ngày 5/3, NHNN cũng ngừng phát hành tín phiếu sau gần 5 tháng duy trì kênh hút thanh khoản này. Đây là tín hiệu mạnh mẽ về định hướng chính sách nhằm kéo giảm lãi suất trên thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,400 ▼50K 16,700 ▼50K
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,890 ▼50K 16,590 ▼50K
Trang sức 99.99 15,900 ▼50K 16,600 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80