Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp đà giảm lãi suất từ cuối tháng trước, đầu tháng 3/2025, số lượng ngân hàng giảm lãi suất lấn át lượng ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, có đơn vị giảm lãi suất huy động tới 0,7%/năm. Nhà điều hành phát đi những tín hiệu mạnh mẽ về định hướng chính sách, nhằm kéo giảm lãi suất trên thị trường và tạo đà thúc đẩy tăng trưởng GDP.
aa
Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng
Trong tháng 2/2025 có 9 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất. Ảnh tư liệu

Tổng hợp từ Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho thấy, sau khi Thủ tướng có chỉ đạo thanh tra những ngân hàng tăng lãi suất huy động ngày 27/2, nhiều ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi với biên độ 0,1 - 0,3%. Trong tháng 2/2025 có 15 ngân hàng điều chỉnh lãi suất huy động. Trong đó, số lượng điều chỉnh giảm lãi suất lên tới 9 nhà băng gồm: TPBank, BacABank, MSB, KienlongBank, BVBank, Vietcombank, VIB, Agribank, Saigonbank.

Ngân hàng đồng loạt hạ lãi suất, mốc 6%/năm xa dần

Cũng theo Hiệp hội Ngân hàng, vẫn còn một số ngân hàng điều chỉnh tăng nhẹ lãi suất như: Techcombank, VietABank, BaoViet Bank. Bên cạnh đó, một số ngân hàng điều chỉnh tăng và giảm đan xen như: Eximbank (tăng lãi suất 1 - 12 tháng, giảm lãi suất 15 - 36 tháng, giảm lãi suất 15 - 36 tháng và giảm kỳ hạn 6 - 36 tháng); Vikki Bank (tăng kỳ hạn 1 - 8 tháng và 12 tháng, giảm lãi suất kỳ hạn 13 - 36 tháng); VietBank (tăng lãi suất kỳ hạn 1 - 5 tháng và 7 - 9 tháng, giảm lãi suất kỳ hạn 1 - 5 tháng).

Doanh nghiệp, người gửi tiền và ngân hàng cùng chia sẻ

Kiên định mục tiêu giảm lãi suất, tạo đà thúc đẩy tăng trưởng

Tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ rất rõ ràng, yêu cầu các ngân hàng nhanh chóng giảm lãi suất. Muốn giảm lãi suất cho vay thì phải giảm lãi suất huy động. Chủ trương là phải giảm lãi suất để doanh nghiệp, người gửi tiền và ngân hàng có sự chia sẻ một cách đồng thời, đồng bộ, nhằm mở rộng đầu tư, huy động vốn, cho vay vốn và sử dụng đồng vốn hiệu quả để đạt mục tiêu GDP trên 8% trong năm nay. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú

Trước đó, cuối tháng 2/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 19/CĐ-TTg yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện ngay việc thanh tra, kiểm tra các ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động thời gian qua và việc công bố, thực hiện lãi suất huy động, cho vay của các tổ chức tín dụng. Kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật các trường hợp vi phạm, nhất là các tổ chức tín dụng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh, không đúng quy định, cả lãi suất huy động và cho vay.

Tiếp đà giảm lãi suất từ cuối tháng trước, thống kê của TBTCVN cho thấy đầu tháng 3/2025, số lượng ngân hàng giảm lãi suất lấn át lượng ngân hàng điều chỉnh tăng gồm: BVBank, VietBank, VietABank, VIB, NCB, HDBank, BacABank... nhiều ngân hàng mất mốc 6%/năm với kỳ hạn huy động dài. Đơn cử, BVBank giảm từ 0,1 - 0,4%, giảm mạnh nhất là kỳ hạn 24 tháng, từ 6,3%/năm xuống còn 5,9%/năm. VietBank cũng giảm hầu hết các kỳ hạn như: kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 12 tháng đều giảm 0,2%; kỳ hạn 6 tháng giảm 0,3%.

Ở chiều ngược lại, vài ngân hàng tăng nhẹ lãi suất kỳ hạn dài 24 tháng như: VietABank tăng 0,1% lên 5,7%/năm; HDBank có cùng mức tăng, lên 5,5%/năm; ABBank tăng 0,3% lên

5,6%/năm. Riêng Vikki Bank (trước là DongA Bank) tăng lãi suất hầu hết các kỳ hạn: kỳ hạn 1 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,3%); 3 tháng lên 4,4%/năm (tăng 0,1%); 6 tháng tăng lên 5,6% (0,05%); 12 tháng lên 5,9%/năm (tăng 0,1%). Với kỳ hạn 24 tháng, lãi suất lại giảm 0,2%, mất mốc 6%/năm, về còn 5,9%/năm.

Duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý

Trao đổi gần đây, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, vừa qua tranh thủ giai đoạn đầu năm sau Tết Âm lịch, một số ngân hàng có điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở một số kỳ hạn để hút dòng tiền nhàn rỗi. Tuy nhiên, theo định hướng chung, mục tiêu là hỗ trợ nền kinh tế, do đó cần duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý để giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp và người vay.

Trước chỉ đạo này, nhiều ngân hàng đã nhanh chóng điều chỉnh giảm lãi suất huy động. Tính đến nay, đã có 12 ngân hàng thực hiện điều chỉnh, trong đó một số đơn vị giảm tới 0,7%/năm. Đồng thời, nhiều ngân hàng cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi, đặc biệt là cho vay tiêu dùng, vay mua nhà ở xã hội dành cho người có thu nhập thấp, góp phần kích thích thị trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

Cũng theo ghi nhận của Ngân hàng UOB, mặt bằng lãi suất VND năm 2024 tăng khoảng 0,5 - 1% do nhu cầu vốn gia tăng nhằm hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế 7%. Các ngân hàng thương mại lớn tiếp tục duy trì lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng quanh mức 4,8 - 5%, trong khi một số ngân hàng khác ổn định ở mức 5,5% trong những tháng gần đây. Mức lãi suất này được đánh giá là phù hợp trong bối cảnh VND mất giá khoảng 5% so với USD trong năm 2024.

Bước sang năm 2025, thị trường ghi nhận một số ngân hàng thương mại điều chỉnh tăng lãi suất huy động, tuy nhiên đây chỉ là diễn biến cục bộ và nhanh chóng giảm trở lại sau khi có chỉ đạo từ Thủ tướng Chính phủ.

Với mục tiêu tăng trưởng 8% trong năm nay, Chính phủ đã đề ra nhiều giải pháp thúc đẩy nền kinh tế, bao gồm đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, mở rộng thị trường xuất khẩu và thu hút FDI vào lĩnh vực công nghệ. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng đang xem xét các biện pháp mở rộng tín dụng để hỗ trợ nền kinh tế.

Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ Ngân hàng UOB Việt Nam cho rằng, Việt Nam hiện là một trong những thị trường đang phát triển có nhiều lợi thế nhờ cơ cấu dân số trẻ, nền kinh tế vĩ mô ổn định và thương mại quốc tế đa dạng. Đây chính là nền tảng quan trọng để duy trì sự ổn định của lãi suất và tỷ giá trong trung và dài hạn. Trong trường hợp lãi suất USD toàn cầu giảm, kinh tế thế giới phục hồi mạnh hơn và dòng vốn đầu tư quay trở lại các thị trường mới nổi khi căng thẳng địa chính trị lắng dịu, những áp lực này có thể được cân bằng.

Duy trì mục tiêu giảm lãi suất, tăng thanh khoản cho thị trường

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm nay, hướng tới mức hai con số nhằm tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo, theo Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú, ở góc độ ngành ngân hàng, đây là nhiệm vụ rất lớn nhằm cung ứng vốn cho nền kinh tế, đặc biệt là giúp các doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Ngành ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 16% trong năm nay, đồng nghĩa với việc dư nợ tăng thêm khoảng 2,5 triệu tỷ đồng. Nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt 8%, tổng nguồn vốn cần bổ sung sẽ còn lớn hơn.

Cũng theo Phó Thống đốc, mở rộng đầu tư chỉ khả thi khi giảm chi phí vốn. Trong năm 2024, mặt bằng lãi suất giảm trung bình khoảng 1,1% so với cuối năm 2023, những ngân hàng quốc doanh thậm chí giảm tới 1,6%. Tính chung toàn hệ thống, mức giảm trung bình đạt 1,4%. Riêng trong 2 tháng đầu năm 2025, theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cũng như của ngành Ngân hàng, các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất theo hướng ổn định. Sau đó, trên cơ sở tiết giảm chi phí của các ngân hàng thương mại một cách tích cực nhất, cao nhất, từ đó, có điều kiện giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại.

Để đạt được mục tiêu này, hệ thống ngân hàng cũng cần xoay vòng vốn nhanh hơn, tháo gỡ các vướng mắc trong giải ngân, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành để trình Chính phủ những giải pháp khơi thông nguồn vốn đang bị ách tắc tại các dự án.

Ngoài ra, tuần vừa qua, qua kênh thị trường mở, NHNN cũng chào mua giấy tờ có giá với nhiều kỳ hạn khác nhau, trong đó có kỳ hạn lên đến 91 ngày, nhằm bơm thanh khoản dài hạn hơn cho hệ thống ngân hàng, giúp các ngân hàng có thêm nguồn vốn kịp thời để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần hạ mặt bằng lãi suất. Từ ngày 5/3, NHNN cũng ngừng phát hành tín phiếu sau gần 5 tháng duy trì kênh hút thanh khoản này. Đây là tín hiệu mạnh mẽ về định hướng chính sách nhằm kéo giảm lãi suất trên thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80