Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng khi Tết Nguyên đán đến gần cho thấy, số ngân hàng chạy đua tăng lãi suất tháng vừa qua giảm đi đáng kể, song mức độ tăng vẫn khá cao, có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3% ở kỳ hạn ngắn. Giới phân tích cho rằng có nhiều nhân tố gây áp lực đẩy tăng lãi suất huy động năm 2025.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025
Biểu đồ tư liệu.

Nhìn lại biến động lãi suất tiết kiệm tháng vừa qua, chỉ có 9/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 2 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 2 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3%

Khảo sát của TBTCVN về sự biến động lãi suất cho thấy, đầu năm 2025, ABBank bất ngờ tăng mạnh lãi suất tiết kiệm lên tới 1,3% với kỳ hạn 9 tháng lên mức 5,5%/năm; đồng thời, tăng 0,8% kỳ hạn 6 tháng lên mức 5,4%/năm. Các kỳ hạn tháng 12 tháng và 3 tháng có mức tăng ít hơn, lần lượt tăng 0,3% và 0,2%. Trái lại, ở kỳ hạn dài hơn 24 - 36 tháng, ngân hàng giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống mức 5,3%/năm.

Tính đến cuối quý III/2024, ABBank là ngân hàng đuối nhất toàn ngành trong thực hiện kế hoạch về lợi nhuận khi chỉ hoàn thành 18% và ghi nhận lỗ trước thuế 343 tỷ đồng. Lợi nhuận nhà băng này cũng đi lùi nhiều năm qua sau khi đạt đỉnh vào năm 2021. Dư nợ cho vay khách hàng ABBank khiêm tốn đạt trên 97 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng chững lại rõ rệt so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, Eximbank tăng 0,4-0,5% ở các kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng gửi tại quầy lên mức: 3,5%/năm; 5,2%/năm và 5,4%/năm. Nam A Bank tăng 0,4% kỳ hạn 1-3 tháng tại quầy lên mức 4-4,3%/năm; với số tiền lớn hơn 500 tỷ, lãi suất cao nhất tại nhà băng này là 6%/năm kỳ hạn 36 tháng.

Các ngân hàng còn lại tăng nhẹ lãi suất với chỉ từ 0,05-0,3%/năm. Còn nhóm các ngân hàng quốc doanh không biến động lãi suất trong tháng vừa qua.

Ở chiều ngược lại, SeABank bất ngờ giảm mạnh 0,45 - 0,65%/năm kỳ hạn 1 -9 tháng xuống còn 2,95-4,29%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 5,75%/năm kỳ hạn 24 - 36 tháng tại quầy, với hình thức gửi có kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. Đặc biệt, với số tiền từ 2.000 tỷ đồng trở lên, PVCombank giảm 0,5% kỳ hạn 12 - 13 tháng tại quầy xuống còn 9%/năm.

Cùng với ABBank, NCB đồng thời tăng và giảm nhẹ lãi suất 0,1 - 0,2% các kỳ hạn trong tháng.

Mức tăng lãi suất huy động trong tầm kiểm soát

"Thời gian qua, một số ngân hàng nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất huy động đảm bảo thanh khoản tuỳ thời điểm, song mức tăng vẫn nằm trong tầm theo dõi, kiểm soát của NHNN và chưa cần phải tác động chính sách. NHNN cũng chưa thấy tình trạng lãi suất huy động tăng quá cao, gây mất cân bằng hoặc chênh lệch giữa các ngân hàng dẫn tới tình trạng tiền gửi từ ngân hàng này “chạy” sang ngân hàng khác".

Còn phân chia theo kỳ hạn, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/12 là 4,05%/năm được áp dụng tại CBBank, đứng thứ hai là DongABank với mức lãi suất 4,04%/năm, tiếp đó là NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank sau khi chuyển giao bắt buộc về MB) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 là 5,65%/năm được áp dụng tại CBBank. Ngân hàng DongABank áp dụng mức lãi suất 5,47%/năm, mức cao thứ hai hệ thống. Đứng top ba là ABBank với lãi suất 5,4%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm; Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Ngoài ra, tại một số nhà băng cũng đang áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" kỳ hạn 12-13 tháng. Chẳng hạn, với số tiền gửi trên 200 tỷ đồng, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất trên 7%/năm gồm MSB niêm yết 7%; 8% khi gửi trên 500 tỷ đồng; DongABank 7,5% khi gửi trên 200 tỷ đồng; lãi suất PVCombank là 9% khi gửi trên 2.000 tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng trung bình 0,71% năm 2024

Nhìn lại diễn biến mặt bằng lãi suất cả năm 2024, chia sẻ gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, lãi suất huy động tăng bình quân 0,71% so với cuối năm 2023. Còn lãi suất cho vay giảm bình quân 0,59%, riêng các ngân hàng thương mại Nhà nước big 4 có trách nhiệm thực hiện chính sách nhiều hơn, mức giảm lãi suất khoảng gần 1%.

Về việc một số ngân hàng ưu đãi lãi suất cho khách hàng ưu tiên, áp dụng chính sách huy động khác nhau giữa các chi nhánh, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, về nguyên tắc, lãi suất huy động do cung cầu thị trường quyết định. Tuy nhiên, NHNN có thông tư quy định các tổ chức tín dụng khi nhận tiền gửi của khách hàng phải có quy trình nội bộ chặt chẽ và có hướng dẫn thống nhất trong nội bộ.

Cũng trong năm 2024, NHNN truyền đi thông điệp tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao; giữ ổn định lãi suất tiền gửi và tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Năm 2025, dự báo mặt bằng lãi suất huy động tăng 0,2 - 0,5 điểm %/năm

Thống kê của Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho thấy, tính chung năm 2024, 23 ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng, với mức tăng lớn nhất là 0,8 %/năm tại MSB. CBBank và VPBank lần lượt đứng sau với mức tăng 0,75 %/năm và 0,7 %/năm. Lãi suất huy động cao nhất chốt năm 2024 của kỳ hạn 6-12 tháng là 5,8%/năm được áp dụng tại Ngân hàng An Bình; tiếp theo là NCB với 5,55%/năm; BVBank, Eximbank, Vietbank, VietABank… cùng 5,2%/năm.

Việc lãi suất bình quân liên ngân hàng tăng cao từ quý II/2024 tác động đến chi phí vay vốn của các ngân hàng, kéo theo việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Cùng với đó, việc tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn tạo áp lực ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để đảm bảo nguồn vốn, từ đó, nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh tăng cao cuối năm 2024. Xu hướng tăng trưởng của thị trường chứng khoán, bất động sản, thị trường vàng cũng tăng sức ép cạnh tranh với kênh tiền gửi, dẫn đến các ngân hàng tăng lãi suất huy động.

Dự báo mặt bằng lãi suất năm 2024, Viện Kinh tế - Tài chính cho rằng, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 được nâng lên mức 16%, cao hơn con số thực hiện năm 2024, dẫn đến nhu cầu tăng tốc độ huy động vốn, gây áp lực tăng lãi suất huy động.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, tỷ giá năm 2025 rất khó lường, năm 2022, chỉ số DXY đạt đỉnh 113 điểm, hiện DXY thấp hơn nhiều nhưng tỷ giá USD/VND đã vượt đỉnh cũ, mức độ biến động tỷ giá cao cũng dẫn đến tâm lý kỳ vọng và ảnh hưởng đến công điều hành.

Bên cạnh đó, nợ xấu vẫn hiện hữu trong năm 2025 khiến các ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục tăng lãi suất huy động để đảm bảo nhu cầu thanh khoản hoạt động. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản, vàng, tiền ảo tiếp diễn trong năm 2025 dẫn đến nhu cầu tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Bởi vậy, Viện Kinh tế - Tài chính dự báo mặt bằng lãi suất huy động bình quân trong năm 2025 khả năng tăng 0,2-0,5 điểm %/năm so với mức bình quân năm 2024 (4,98%/năm).

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼150K 15,050 ▼150K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼150K 15,000 ▼150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼150K 16,050 ▼150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼150K 16,000 ▼150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼150K 15,980 ▼150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼2000K 162,000 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼200K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼150K 16,200 ▼150K
NL 99.90 14,550 ▼150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600 ▼150K
Trang sức 99.9 15,390 ▼150K 16,090 ▼150K
Trang sức 99.99 15,400 ▼150K 16,100 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼2K 16,202 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼2K 16,203 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▼18K 1,615 ▼18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▼18K 1,616 ▼18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▼18K 160 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▼1782K 158,416 ▼1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▼1350K 120,162 ▼1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▼1224K 108,961 ▼1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼81072K 9,776 ▼89082K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▼1050K 93,439 ▼1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▼750K 66,877 ▼750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1454K 162 ▼1476K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼2K 162 ▼1473K
Cập nhật: 20/05/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18202 18477 19055
CAD 18635 18913 19529
CHF 32739 33124 33771
CNY 0 3830 3922
EUR 29962 30235 31261
GBP 34527 34919 35863
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15076 15664
SGD 20035 20318 20839
THB 722 785 838
USD (1,2) 26097 0 0
USD (5,10,20) 26139 0 0
USD (50,100) 26167 26187 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,151 26,151 26,391
USD(1-2-5) 25,105 - -
USD(10-20) 25,105 - -
EUR 30,030 30,054 31,321
JPY 161.1 161.39 170.19
GBP 34,623 34,717 35,724
AUD 18,345 18,411 19,005
CAD 18,784 18,844 19,435
CHF 32,939 33,041 33,837
SGD 20,109 20,172 20,854
CNY - 3,791 3,915
HKD 3,295 3,305 3,424
KRW 16.07 16.76 18.14
THB 767.13 776.6 827.76
NZD 15,002 15,141 15,503
SEK - 2,750 2,833
DKK - 4,019 4,138
NOK - 2,789 2,873
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,183.51 - 6,941.47
TWD 750.36 - 904.13
SAR - 6,899.77 7,228.26
KWD - 83,539 88,407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,131 26,151 26,391
EUR 29,994 30,114 31,292
GBP 34,644 34,783 35,788
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,789 32,921 33,847
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,338 18,412 18,999
SGD 20,187 20,268 20,846
THB 786 789 823
CAD 18,799 18,874 19,445
NZD 15,089 15,620
KRW 16.72 18.34
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18356 18456 19379
CAD 18811 18911 19927
CHF 32961 32991 34574
CNY 3809.5 3834.5 3969.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30119 30149 31875
GBP 34788 34838 36607
HKD 0 3355 0
JPY 162.36 162.86 173.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20174 20304 21036
THB 0 749.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16200000
SBJ 14000000 14000000 16200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,185 26,235 26,391
USD20 26,185 26,235 26,391
USD1 23,879 26,235 26,391
AUD 18,391 18,491 19,608
EUR 30,264 30,264 31,687
CAD 18,753 18,853 20,167
SGD 20,245 20,395 21,320
JPY 162.69 164.19 168.78
GBP 34,668 35,018 36,160
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/05/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80