Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng khi Tết Nguyên đán đến gần cho thấy, số ngân hàng chạy đua tăng lãi suất tháng vừa qua giảm đi đáng kể, song mức độ tăng vẫn khá cao, có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3% ở kỳ hạn ngắn. Giới phân tích cho rằng có nhiều nhân tố gây áp lực đẩy tăng lãi suất huy động năm 2025.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025
Biểu đồ tư liệu.

Nhìn lại biến động lãi suất tiết kiệm tháng vừa qua, chỉ có 9/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 2 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 2 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3%

Khảo sát của TBTCVN về sự biến động lãi suất cho thấy, đầu năm 2025, ABBank bất ngờ tăng mạnh lãi suất tiết kiệm lên tới 1,3% với kỳ hạn 9 tháng lên mức 5,5%/năm; đồng thời, tăng 0,8% kỳ hạn 6 tháng lên mức 5,4%/năm. Các kỳ hạn tháng 12 tháng và 3 tháng có mức tăng ít hơn, lần lượt tăng 0,3% và 0,2%. Trái lại, ở kỳ hạn dài hơn 24 - 36 tháng, ngân hàng giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống mức 5,3%/năm.

Tính đến cuối quý III/2024, ABBank là ngân hàng đuối nhất toàn ngành trong thực hiện kế hoạch về lợi nhuận khi chỉ hoàn thành 18% và ghi nhận lỗ trước thuế 343 tỷ đồng. Lợi nhuận nhà băng này cũng đi lùi nhiều năm qua sau khi đạt đỉnh vào năm 2021. Dư nợ cho vay khách hàng ABBank khiêm tốn đạt trên 97 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng chững lại rõ rệt so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, Eximbank tăng 0,4-0,5% ở các kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng gửi tại quầy lên mức: 3,5%/năm; 5,2%/năm và 5,4%/năm. Nam A Bank tăng 0,4% kỳ hạn 1-3 tháng tại quầy lên mức 4-4,3%/năm; với số tiền lớn hơn 500 tỷ, lãi suất cao nhất tại nhà băng này là 6%/năm kỳ hạn 36 tháng.

Các ngân hàng còn lại tăng nhẹ lãi suất với chỉ từ 0,05-0,3%/năm. Còn nhóm các ngân hàng quốc doanh không biến động lãi suất trong tháng vừa qua.

Ở chiều ngược lại, SeABank bất ngờ giảm mạnh 0,45 - 0,65%/năm kỳ hạn 1 -9 tháng xuống còn 2,95-4,29%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 5,75%/năm kỳ hạn 24 - 36 tháng tại quầy, với hình thức gửi có kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. Đặc biệt, với số tiền từ 2.000 tỷ đồng trở lên, PVCombank giảm 0,5% kỳ hạn 12 - 13 tháng tại quầy xuống còn 9%/năm.

Cùng với ABBank, NCB đồng thời tăng và giảm nhẹ lãi suất 0,1 - 0,2% các kỳ hạn trong tháng.

Mức tăng lãi suất huy động trong tầm kiểm soát

"Thời gian qua, một số ngân hàng nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất huy động đảm bảo thanh khoản tuỳ thời điểm, song mức tăng vẫn nằm trong tầm theo dõi, kiểm soát của NHNN và chưa cần phải tác động chính sách. NHNN cũng chưa thấy tình trạng lãi suất huy động tăng quá cao, gây mất cân bằng hoặc chênh lệch giữa các ngân hàng dẫn tới tình trạng tiền gửi từ ngân hàng này “chạy” sang ngân hàng khác".

Còn phân chia theo kỳ hạn, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/12 là 4,05%/năm được áp dụng tại CBBank, đứng thứ hai là DongABank với mức lãi suất 4,04%/năm, tiếp đó là NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank sau khi chuyển giao bắt buộc về MB) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 là 5,65%/năm được áp dụng tại CBBank. Ngân hàng DongABank áp dụng mức lãi suất 5,47%/năm, mức cao thứ hai hệ thống. Đứng top ba là ABBank với lãi suất 5,4%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm; Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Ngoài ra, tại một số nhà băng cũng đang áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" kỳ hạn 12-13 tháng. Chẳng hạn, với số tiền gửi trên 200 tỷ đồng, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất trên 7%/năm gồm MSB niêm yết 7%; 8% khi gửi trên 500 tỷ đồng; DongABank 7,5% khi gửi trên 200 tỷ đồng; lãi suất PVCombank là 9% khi gửi trên 2.000 tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng trung bình 0,71% năm 2024

Nhìn lại diễn biến mặt bằng lãi suất cả năm 2024, chia sẻ gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, lãi suất huy động tăng bình quân 0,71% so với cuối năm 2023. Còn lãi suất cho vay giảm bình quân 0,59%, riêng các ngân hàng thương mại Nhà nước big 4 có trách nhiệm thực hiện chính sách nhiều hơn, mức giảm lãi suất khoảng gần 1%.

Về việc một số ngân hàng ưu đãi lãi suất cho khách hàng ưu tiên, áp dụng chính sách huy động khác nhau giữa các chi nhánh, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, về nguyên tắc, lãi suất huy động do cung cầu thị trường quyết định. Tuy nhiên, NHNN có thông tư quy định các tổ chức tín dụng khi nhận tiền gửi của khách hàng phải có quy trình nội bộ chặt chẽ và có hướng dẫn thống nhất trong nội bộ.

Cũng trong năm 2024, NHNN truyền đi thông điệp tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao; giữ ổn định lãi suất tiền gửi và tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Năm 2025, dự báo mặt bằng lãi suất huy động tăng 0,2 - 0,5 điểm %/năm

Thống kê của Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho thấy, tính chung năm 2024, 23 ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng, với mức tăng lớn nhất là 0,8 %/năm tại MSB. CBBank và VPBank lần lượt đứng sau với mức tăng 0,75 %/năm và 0,7 %/năm. Lãi suất huy động cao nhất chốt năm 2024 của kỳ hạn 6-12 tháng là 5,8%/năm được áp dụng tại Ngân hàng An Bình; tiếp theo là NCB với 5,55%/năm; BVBank, Eximbank, Vietbank, VietABank… cùng 5,2%/năm.

Việc lãi suất bình quân liên ngân hàng tăng cao từ quý II/2024 tác động đến chi phí vay vốn của các ngân hàng, kéo theo việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Cùng với đó, việc tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn tạo áp lực ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để đảm bảo nguồn vốn, từ đó, nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh tăng cao cuối năm 2024. Xu hướng tăng trưởng của thị trường chứng khoán, bất động sản, thị trường vàng cũng tăng sức ép cạnh tranh với kênh tiền gửi, dẫn đến các ngân hàng tăng lãi suất huy động.

Dự báo mặt bằng lãi suất năm 2024, Viện Kinh tế - Tài chính cho rằng, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 được nâng lên mức 16%, cao hơn con số thực hiện năm 2024, dẫn đến nhu cầu tăng tốc độ huy động vốn, gây áp lực tăng lãi suất huy động.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, tỷ giá năm 2025 rất khó lường, năm 2022, chỉ số DXY đạt đỉnh 113 điểm, hiện DXY thấp hơn nhiều nhưng tỷ giá USD/VND đã vượt đỉnh cũ, mức độ biến động tỷ giá cao cũng dẫn đến tâm lý kỳ vọng và ảnh hưởng đến công điều hành.

Bên cạnh đó, nợ xấu vẫn hiện hữu trong năm 2025 khiến các ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục tăng lãi suất huy động để đảm bảo nhu cầu thanh khoản hoạt động. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản, vàng, tiền ảo tiếp diễn trong năm 2025 dẫn đến nhu cầu tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Bởi vậy, Viện Kinh tế - Tài chính dự báo mặt bằng lãi suất huy động bình quân trong năm 2025 khả năng tăng 0,2-0,5 điểm %/năm so với mức bình quân năm 2024 (4,98%/năm).

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

(TBTCO) - BIDV vừa lên tiếng và khẳng định tiếp tục đồng hành, thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, bền vững của thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh xuất hiện thông tin tạm dừng tiếp cận dự án bất động sản mới, khi room tín dụng bị siết chặt và lãi suất cho vay tại nhiều ngân hàng quốc doanh đã lên khoảng 14%/năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17858 18132 18710
CAD 18577 18854 19471
CHF 32728 33113 33762
CNY 0 3470 3830
EUR 29944 30217 31245
GBP 34523 34915 35849
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15044 15632
SGD 20057 20340 20867
THB 722 786 839
USD (1,2) 26083 0 0
USD (5,10,20) 26124 0 0
USD (50,100) 26152 26172 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26359
AUD 18049 18149 19074
CAD 18761 18861 19872
CHF 32977 33007 34594
CNY 3760.2 3785.2 3920.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30124 30154 31879
GBP 34825 34875 36635
HKD 0 3355 0
JPY 162.43 162.93 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15156 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20219 20349 21083
THB 0 752.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17400000 17400000 18200000
SBJ 15000000 15000000 18200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 16:30