Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng khi Tết Nguyên đán đến gần cho thấy, số ngân hàng chạy đua tăng lãi suất tháng vừa qua giảm đi đáng kể, song mức độ tăng vẫn khá cao, có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3% ở kỳ hạn ngắn. Giới phân tích cho rằng có nhiều nhân tố gây áp lực đẩy tăng lãi suất huy động năm 2025.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025
Biểu đồ tư liệu.

Nhìn lại biến động lãi suất tiết kiệm tháng vừa qua, chỉ có 9/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 2 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 2 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3%

Khảo sát của TBTCVN về sự biến động lãi suất cho thấy, đầu năm 2025, ABBank bất ngờ tăng mạnh lãi suất tiết kiệm lên tới 1,3% với kỳ hạn 9 tháng lên mức 5,5%/năm; đồng thời, tăng 0,8% kỳ hạn 6 tháng lên mức 5,4%/năm. Các kỳ hạn tháng 12 tháng và 3 tháng có mức tăng ít hơn, lần lượt tăng 0,3% và 0,2%. Trái lại, ở kỳ hạn dài hơn 24 - 36 tháng, ngân hàng giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống mức 5,3%/năm.

Tính đến cuối quý III/2024, ABBank là ngân hàng đuối nhất toàn ngành trong thực hiện kế hoạch về lợi nhuận khi chỉ hoàn thành 18% và ghi nhận lỗ trước thuế 343 tỷ đồng. Lợi nhuận nhà băng này cũng đi lùi nhiều năm qua sau khi đạt đỉnh vào năm 2021. Dư nợ cho vay khách hàng ABBank khiêm tốn đạt trên 97 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng chững lại rõ rệt so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, Eximbank tăng 0,4-0,5% ở các kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng gửi tại quầy lên mức: 3,5%/năm; 5,2%/năm và 5,4%/năm. Nam A Bank tăng 0,4% kỳ hạn 1-3 tháng tại quầy lên mức 4-4,3%/năm; với số tiền lớn hơn 500 tỷ, lãi suất cao nhất tại nhà băng này là 6%/năm kỳ hạn 36 tháng.

Các ngân hàng còn lại tăng nhẹ lãi suất với chỉ từ 0,05-0,3%/năm. Còn nhóm các ngân hàng quốc doanh không biến động lãi suất trong tháng vừa qua.

Ở chiều ngược lại, SeABank bất ngờ giảm mạnh 0,45 - 0,65%/năm kỳ hạn 1 -9 tháng xuống còn 2,95-4,29%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 5,75%/năm kỳ hạn 24 - 36 tháng tại quầy, với hình thức gửi có kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. Đặc biệt, với số tiền từ 2.000 tỷ đồng trở lên, PVCombank giảm 0,5% kỳ hạn 12 - 13 tháng tại quầy xuống còn 9%/năm.

Cùng với ABBank, NCB đồng thời tăng và giảm nhẹ lãi suất 0,1 - 0,2% các kỳ hạn trong tháng.

Mức tăng lãi suất huy động trong tầm kiểm soát

"Thời gian qua, một số ngân hàng nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất huy động đảm bảo thanh khoản tuỳ thời điểm, song mức tăng vẫn nằm trong tầm theo dõi, kiểm soát của NHNN và chưa cần phải tác động chính sách. NHNN cũng chưa thấy tình trạng lãi suất huy động tăng quá cao, gây mất cân bằng hoặc chênh lệch giữa các ngân hàng dẫn tới tình trạng tiền gửi từ ngân hàng này “chạy” sang ngân hàng khác".

Còn phân chia theo kỳ hạn, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/12 là 4,05%/năm được áp dụng tại CBBank, đứng thứ hai là DongABank với mức lãi suất 4,04%/năm, tiếp đó là NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank sau khi chuyển giao bắt buộc về MB) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 là 5,65%/năm được áp dụng tại CBBank. Ngân hàng DongABank áp dụng mức lãi suất 5,47%/năm, mức cao thứ hai hệ thống. Đứng top ba là ABBank với lãi suất 5,4%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm; Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Ngoài ra, tại một số nhà băng cũng đang áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" kỳ hạn 12-13 tháng. Chẳng hạn, với số tiền gửi trên 200 tỷ đồng, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất trên 7%/năm gồm MSB niêm yết 7%; 8% khi gửi trên 500 tỷ đồng; DongABank 7,5% khi gửi trên 200 tỷ đồng; lãi suất PVCombank là 9% khi gửi trên 2.000 tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng trung bình 0,71% năm 2024

Nhìn lại diễn biến mặt bằng lãi suất cả năm 2024, chia sẻ gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, lãi suất huy động tăng bình quân 0,71% so với cuối năm 2023. Còn lãi suất cho vay giảm bình quân 0,59%, riêng các ngân hàng thương mại Nhà nước big 4 có trách nhiệm thực hiện chính sách nhiều hơn, mức giảm lãi suất khoảng gần 1%.

Về việc một số ngân hàng ưu đãi lãi suất cho khách hàng ưu tiên, áp dụng chính sách huy động khác nhau giữa các chi nhánh, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, về nguyên tắc, lãi suất huy động do cung cầu thị trường quyết định. Tuy nhiên, NHNN có thông tư quy định các tổ chức tín dụng khi nhận tiền gửi của khách hàng phải có quy trình nội bộ chặt chẽ và có hướng dẫn thống nhất trong nội bộ.

Cũng trong năm 2024, NHNN truyền đi thông điệp tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao; giữ ổn định lãi suất tiền gửi và tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Năm 2025, dự báo mặt bằng lãi suất huy động tăng 0,2 - 0,5 điểm %/năm

Thống kê của Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho thấy, tính chung năm 2024, 23 ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng, với mức tăng lớn nhất là 0,8 %/năm tại MSB. CBBank và VPBank lần lượt đứng sau với mức tăng 0,75 %/năm và 0,7 %/năm. Lãi suất huy động cao nhất chốt năm 2024 của kỳ hạn 6-12 tháng là 5,8%/năm được áp dụng tại Ngân hàng An Bình; tiếp theo là NCB với 5,55%/năm; BVBank, Eximbank, Vietbank, VietABank… cùng 5,2%/năm.

Việc lãi suất bình quân liên ngân hàng tăng cao từ quý II/2024 tác động đến chi phí vay vốn của các ngân hàng, kéo theo việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Cùng với đó, việc tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn tạo áp lực ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để đảm bảo nguồn vốn, từ đó, nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh tăng cao cuối năm 2024. Xu hướng tăng trưởng của thị trường chứng khoán, bất động sản, thị trường vàng cũng tăng sức ép cạnh tranh với kênh tiền gửi, dẫn đến các ngân hàng tăng lãi suất huy động.

Dự báo mặt bằng lãi suất năm 2024, Viện Kinh tế - Tài chính cho rằng, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 được nâng lên mức 16%, cao hơn con số thực hiện năm 2024, dẫn đến nhu cầu tăng tốc độ huy động vốn, gây áp lực tăng lãi suất huy động.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, tỷ giá năm 2025 rất khó lường, năm 2022, chỉ số DXY đạt đỉnh 113 điểm, hiện DXY thấp hơn nhiều nhưng tỷ giá USD/VND đã vượt đỉnh cũ, mức độ biến động tỷ giá cao cũng dẫn đến tâm lý kỳ vọng và ảnh hưởng đến công điều hành.

Bên cạnh đó, nợ xấu vẫn hiện hữu trong năm 2025 khiến các ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục tăng lãi suất huy động để đảm bảo nhu cầu thanh khoản hoạt động. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản, vàng, tiền ảo tiếp diễn trong năm 2025 dẫn đến nhu cầu tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Bởi vậy, Viện Kinh tế - Tài chính dự báo mặt bằng lãi suất huy động bình quân trong năm 2025 khả năng tăng 0,2-0,5 điểm %/năm so với mức bình quân năm 2024 (4,98%/năm).

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00