Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát biểu lãi suất tiết kiệm tại nhiều ngân hàng khi Tết Nguyên đán đến gần cho thấy, số ngân hàng chạy đua tăng lãi suất tháng vừa qua giảm đi đáng kể, song mức độ tăng vẫn khá cao, có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3% ở kỳ hạn ngắn. Giới phân tích cho rằng có nhiều nhân tố gây áp lực đẩy tăng lãi suất huy động năm 2025.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025
Biểu đồ tư liệu.

Nhìn lại biến động lãi suất tiết kiệm tháng vừa qua, chỉ có 9/36 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, 2 ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất, 2 ngân hàng đồng thời tăng và giảm lãi suất ở một số kỳ hạn.

Có ngân hàng tăng lãi suất đột biến 1,3%

Khảo sát của TBTCVN về sự biến động lãi suất cho thấy, đầu năm 2025, ABBank bất ngờ tăng mạnh lãi suất tiết kiệm lên tới 1,3% với kỳ hạn 9 tháng lên mức 5,5%/năm; đồng thời, tăng 0,8% kỳ hạn 6 tháng lên mức 5,4%/năm. Các kỳ hạn tháng 12 tháng và 3 tháng có mức tăng ít hơn, lần lượt tăng 0,3% và 0,2%. Trái lại, ở kỳ hạn dài hơn 24 - 36 tháng, ngân hàng giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống mức 5,3%/năm.

Tính đến cuối quý III/2024, ABBank là ngân hàng đuối nhất toàn ngành trong thực hiện kế hoạch về lợi nhuận khi chỉ hoàn thành 18% và ghi nhận lỗ trước thuế 343 tỷ đồng. Lợi nhuận nhà băng này cũng đi lùi nhiều năm qua sau khi đạt đỉnh vào năm 2021. Dư nợ cho vay khách hàng ABBank khiêm tốn đạt trên 97 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng chững lại rõ rệt so với mặt bằng chung toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, Eximbank tăng 0,4-0,5% ở các kỳ hạn 1 tháng, 6 tháng và 12 tháng gửi tại quầy lên mức: 3,5%/năm; 5,2%/năm và 5,4%/năm. Nam A Bank tăng 0,4% kỳ hạn 1-3 tháng tại quầy lên mức 4-4,3%/năm; với số tiền lớn hơn 500 tỷ, lãi suất cao nhất tại nhà băng này là 6%/năm kỳ hạn 36 tháng.

Các ngân hàng còn lại tăng nhẹ lãi suất với chỉ từ 0,05-0,3%/năm. Còn nhóm các ngân hàng quốc doanh không biến động lãi suất trong tháng vừa qua.

Ở chiều ngược lại, SeABank bất ngờ giảm mạnh 0,45 - 0,65%/năm kỳ hạn 1 -9 tháng xuống còn 2,95-4,29%/năm. Hiện mức cao nhất ở ngân hàng này là 5,75%/năm kỳ hạn 24 - 36 tháng tại quầy, với hình thức gửi có kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ. Đặc biệt, với số tiền từ 2.000 tỷ đồng trở lên, PVCombank giảm 0,5% kỳ hạn 12 - 13 tháng tại quầy xuống còn 9%/năm.

Cùng với ABBank, NCB đồng thời tăng và giảm nhẹ lãi suất 0,1 - 0,2% các kỳ hạn trong tháng.

Mức tăng lãi suất huy động trong tầm kiểm soát

"Thời gian qua, một số ngân hàng nhỏ điều chỉnh tăng lãi suất huy động đảm bảo thanh khoản tuỳ thời điểm, song mức tăng vẫn nằm trong tầm theo dõi, kiểm soát của NHNN và chưa cần phải tác động chính sách. NHNN cũng chưa thấy tình trạng lãi suất huy động tăng quá cao, gây mất cân bằng hoặc chênh lệch giữa các ngân hàng dẫn tới tình trạng tiền gửi từ ngân hàng này “chạy” sang ngân hàng khác".

Còn phân chia theo kỳ hạn, với kỳ hạn 1 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tính đến ngày 10/12 là 4,05%/năm được áp dụng tại CBBank, đứng thứ hai là DongABank với mức lãi suất 4,04%/năm, tiếp đó là NamABank và MBV (chuyển đổi từ OceanBank sau khi chuyển giao bắt buộc về MB) cùng niêm yết lãi suất 4%/năm.

Tại các ngân hàng thương mại lớn, mức lãi suất cao nhất thuộc về VPBank với lãi suất 3,7%/năm. Các “ông lớn” ngân hàng quốc doanh niêm yết lãi suất kỳ hạn 1 tháng ở mức 1,6 - 2,2%/năm, trong đó, Agribank đứng đầu với lãi suất 2,2%/năm.

Với kỳ hạn phổ biến được người dân lựa chọn 6 tháng, lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 1/2025 là 5,65%/năm được áp dụng tại CBBank. Ngân hàng DongABank áp dụng mức lãi suất 5,47%/năm, mức cao thứ hai hệ thống. Đứng top ba là ABBank với lãi suất 5,4%/năm. Lãi suất tiết kiệm thấp nhất kỳ hạn 6 tháng vẫn được áp dụng tại nhóm big 4, dao động từ 2,9 - 3,5%/năm, trong đó, Agribank vẫn giữ vững ngôi đầu.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietinbank, BIDV và Agribank áp dụng lãi suất 4,7%/năm; Vietcombank niêm yết lãi suất huy động thấp hơn, ở mức 4,6%/năm, không đổi so với tháng trước.

Ngoài ra, tại một số nhà băng cũng đang áp dụng chính sách lãi suất đặc biệt khi gửi số tiền "khủng" kỳ hạn 12-13 tháng. Chẳng hạn, với số tiền gửi trên 200 tỷ đồng, có 4 ngân hàng duy trì mức lãi suất trên 7%/năm gồm MSB niêm yết 7%; 8% khi gửi trên 500 tỷ đồng; DongABank 7,5% khi gửi trên 200 tỷ đồng; lãi suất PVCombank là 9% khi gửi trên 2.000 tỷ đồng.

Lãi suất huy động tăng trung bình 0,71% năm 2024

Nhìn lại diễn biến mặt bằng lãi suất cả năm 2024, chia sẻ gần đây, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết, lãi suất huy động tăng bình quân 0,71% so với cuối năm 2023. Còn lãi suất cho vay giảm bình quân 0,59%, riêng các ngân hàng thương mại Nhà nước big 4 có trách nhiệm thực hiện chính sách nhiều hơn, mức giảm lãi suất khoảng gần 1%.

Về việc một số ngân hàng ưu đãi lãi suất cho khách hàng ưu tiên, áp dụng chính sách huy động khác nhau giữa các chi nhánh, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, về nguyên tắc, lãi suất huy động do cung cầu thị trường quyết định. Tuy nhiên, NHNN có thông tư quy định các tổ chức tín dụng khi nhận tiền gửi của khách hàng phải có quy trình nội bộ chặt chẽ và có hướng dẫn thống nhất trong nội bộ.

Cũng trong năm 2024, NHNN truyền đi thông điệp tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, không điều chỉnh tăng hoặc giảm lãi suất điều hành trong bối cảnh lãi suất thế giới vẫn neo ở mức cao; giữ ổn định lãi suất tiền gửi và tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, qua đó có điều kiện để hỗ trợ nền kinh tế.

Năm 2025, dự báo mặt bằng lãi suất huy động tăng 0,2 - 0,5 điểm %/năm

Thống kê của Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) cho thấy, tính chung năm 2024, 23 ngân hàng thương mại trong nước tăng lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng, với mức tăng lớn nhất là 0,8 %/năm tại MSB. CBBank và VPBank lần lượt đứng sau với mức tăng 0,75 %/năm và 0,7 %/năm. Lãi suất huy động cao nhất chốt năm 2024 của kỳ hạn 6-12 tháng là 5,8%/năm được áp dụng tại Ngân hàng An Bình; tiếp theo là NCB với 5,55%/năm; BVBank, Eximbank, Vietbank, VietABank… cùng 5,2%/năm.

Việc lãi suất bình quân liên ngân hàng tăng cao từ quý II/2024 tác động đến chi phí vay vốn của các ngân hàng, kéo theo việc điều chỉnh tăng lãi suất huy động. Cùng với đó, việc tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn tạo áp lực ngân hàng phải tăng lãi suất huy động để đảm bảo nguồn vốn, từ đó, nâng cao năng lực tài chính, đáp ứng nhu cầu tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh tăng cao cuối năm 2024. Xu hướng tăng trưởng của thị trường chứng khoán, bất động sản, thị trường vàng cũng tăng sức ép cạnh tranh với kênh tiền gửi, dẫn đến các ngân hàng tăng lãi suất huy động.

Dự báo mặt bằng lãi suất năm 2024, Viện Kinh tế - Tài chính cho rằng, chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2025 được nâng lên mức 16%, cao hơn con số thực hiện năm 2024, dẫn đến nhu cầu tăng tốc độ huy động vốn, gây áp lực tăng lãi suất huy động.

Theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, tỷ giá năm 2025 rất khó lường, năm 2022, chỉ số DXY đạt đỉnh 113 điểm, hiện DXY thấp hơn nhiều nhưng tỷ giá USD/VND đã vượt đỉnh cũ, mức độ biến động tỷ giá cao cũng dẫn đến tâm lý kỳ vọng và ảnh hưởng đến công điều hành.

Bên cạnh đó, nợ xấu vẫn hiện hữu trong năm 2025 khiến các ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục tăng lãi suất huy động để đảm bảo nhu cầu thanh khoản hoạt động. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ các kênh đầu tư chứng khoán, bất động sản, vàng, tiền ảo tiếp diễn trong năm 2025 dẫn đến nhu cầu tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm. Bởi vậy, Viện Kinh tế - Tài chính dự báo mặt bằng lãi suất huy động bình quân trong năm 2025 khả năng tăng 0,2-0,5 điểm %/năm so với mức bình quân năm 2024 (4,98%/năm).

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

(TBTCO) - Thời điểm hiện tại, dù lãi suất huy động được niêm yết cao nhất chỉ quanh 7%/năm, song nhiều ngân hàng "đua ngầm" cộng lãi, cộng thưởng, đưa lãi suất tiết kiệm ưu đãi lên tới 12%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mặt bằng lãi suất đã gần đỉnh, nhưng khó giảm trong nửa cuối năm 2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,900
Hà Nội - PNJ 140,000 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,900
Miền Tây - PNJ 140,000 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,400
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 09/08/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18254 18833
CAD 18254 18530 19155
CHF 31764 32145 32806
CNY 0 3840 3940
EUR 29646 29868 30949
GBP 34531 34923 35875
HKD 0 3208 3411
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15128 15714
SGD 19945 20227 20812
THB 707 771 825
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 09/08/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80