Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
aa

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất liên ngân hàng hạ về 6-8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn

Trong tuần qua từ ngày 6/4 đến ngày 10/4, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận trạng thái điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, với xu hướng chuyển sang hút ròng khi khối lượng đáo hạn gia tăng.

Cụ thể, tổng khối lượng trúng thầu đạt khoảng 70.369,25 tỷ đồng, chủ yếu ở các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới khoảng 136.627 tỷ đồng, vượt xa lượng bơm mới. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trong tuần.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc
Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng. Ảnh tư liệu.

So với tuần trước khi hệ thống được bơm ròng khoảng 110 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản, diễn biến tuần này cho thấy áp lực thanh khoản đã hạ nhiệt, tạo điều kiện để cơ quan điều hành chủ động rút bớt tiền về, đồng thời vẫn giữ cân bằng thị trường nhằm kiểm soát lãi suất liên ngân hàng và giảm áp lực lên tỷ giá.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 5,79%, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,27%. Ngược lại, kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng lần lượt giảm 0,13 và 0,28 điểm phần trăm, xuống 6,43% và 7,49%; riêng kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ 0,14 điểm phần trăm lên 7,85%.

Về doanh số, thanh khoản thị trường không biến động đáng kể, với doanh số cho vay qua đêm dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước, tính tới 24/3, tín dụng tăng 2,15% so với cuối năm 2025, thấp hơn so với cùng kỳ 2,28%, nhưng so với huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0.44% cho thấy áp lực thanh khoản vẫn khá cao tại các ngân hàng thương mại. Điều này cũng thể hiện qua làn sóng tăng lãi suất huy động mới vào cuối tháng 3.

"Nhìn chung, áp lực thanh khoản nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mặt bằng lãi suất tăng trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới có thể quay lại xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ do rủi ro lạm phát gia tăng" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tuần từ ngày 23 - 27/3 là tuần tăng lãi suất huy động mạnh nhất kể từ giữa tháng 12/2025 với đà tăng trải đều ở cả ngân hàng lớn, nhỏ cũng như ngân hàng nước ngoài.

Dự đoán một số yếu tố có thể gây áp lực lên lãi suất qua đêm trong ngắn hạn, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap, khoảng 312 nghìn tỷ đồng hợp đồng repo OMO sẽ đáo hạn trong tháng 4 và có thể sẽ gây áp lực lên thanh khoản.

Cùng với đó, khả năng tiếp tục gia tăng của lãi suất huy động tại các ngân hàng trong đầu tháng 4, một số ngân hàng đã ghi nhận mức lãi suất cao, bao gồm: PGBank, BVBank, OCB và BacABank với mức lãi suất huy động phổ biến 7%/năm; ngân hàng số Vikki Bank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 9,3%/năm; ngân hàng số Cake by VPBank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 8,7%/năm.

Dù vậy, đà tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ chững lại sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều 9/4. Tuy nhiên, để mặt bằng lãi suất thực sự giảm, vấn đề thanh khoản của hệ thống vẫn cần được giải quyết sớm.

Tỷ giá USD ngân hàng “lặng sóng”, nhiều ngoại tệ tăng mạnh

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến đồng pha giữa thị trường chính thức và thị trường tự do. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố nhìn chung biến động hẹp, tăng giảm khoảng 2 - 4 đồng/phiên và chốt tuần ở mức 25.105 VND/USD, tăng nhẹ 7 đồng so với tuần trước, cho thấy định hướng điều hành vẫn ổn định.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Chốt phiên ngày 10/4, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động nhẹ và phân hóa giữa các nhà băng. Cụ thể, Agribank niêm yết 26.110 - 26.360 VND/USD, tăng 3 đồng hai chiều. Ngược lại, BIDV điều chỉnh giảm chiều mua, đưa tỷ giá về 26.130 - 26.360 VND/USD, giảm 7 đồng mua vào nhưng tăng 3 đồng bán ra.

Tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, Sacombank niêm yết 26.220 - 26.360 VND/USD, tăng 1 đồng chiều mua và 3 đồng chiều bán; Techcombank tăng mạnh hơn ở chiều mua, lên 26.136 - 26.360 VND/USD, tăng 9 đồng mua và 3 đồng bán. Nhìn chung, tỷ giá USD trong hệ thống ngân hàng biến động hẹp, chủ yếu tăng nhẹ ở chiều bán ra, phản ánh xu hướng ổn định của thị trường ngoại hối.

Tỷ giá USD tự do giảm sâu 700 đồng, tín hiệu hạ nhiệt sau đà tăng nóng

Tuần qua, tỷ giá USD tự do quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, giảm mạnh tổng cộng khoảng 700 đồng, tiếp đà giảm 450 đồng của tuần trước. Điều này cho thấy áp lực đầu cơ suy yếu, đồng USD trên thị trường tự do đang hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn tăng nóng.

Theo quan sát của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta Việt Nam, để hỗ trợ tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện nghiệp vụ bán USD kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) vào ngày 24/3 cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm, đây là lần thứ hai Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ này trong năm 2026.

Trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần sử dụng công cụ này, trong đó, khoảng 3 tỷ USD bán kỳ hạn đã tới hạn trong tháng 3 và có thể đã được thực hiện một phần trong vài tuần qua.

Dù vậy, nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, áp lực tỷ giá vẫn còn cao trong ngắn hạn do đồng USD khả năng tiếp tục tăng khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông chưa hạ nhiệt và giá dầu leo thang, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. "Cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 3 tháng 2026 đã nhập siêu 3,64 tỷ USD" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Trong tuần qua, chỉ số DXY ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ, hiện quanh mức 98,68 điểm, giảm khoảng 1,55% so với tuần trước. Diễn biến này cho thấy đồng USD suy yếu tương đối trong ngắn hạn, dù trước đó đã có nhịp phục hồi lên vùng trên 100 điểm.

Theo số liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ, lạm phát hàng năm trong tháng 3 đã tăng lên 3,3%, từ mức 2,4% của tháng 2 và mức cao nhất kể từ tháng 5/2024, cho thấy áp lực giá đang quay trở lại. Động lực chính đến từ giá năng lượng, khi dầu thô tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Đây được coi là dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng chính sách của Fed trong ngắn hạn.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tiếp tục tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá đạt 29.984,4 - 31.565,13 VND/EUR, tăng 378,7 đồng chiều mua và 398,7 đồng chiều bán. Tỷ giá GBP cũng ghi nhận xu hướng tăng rõ nét; BIDV ở mức 34.783 - 35.875 VND/GBP, tăng 452 đồng và 472 đồng, phản ánh sức mạnh của đồng bảng Anh.

Đối với đồng CNY, tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng. Tại Vietcombank, đồng Nhân dân tệ ở mức 3.756,47 - 3.915,93 VND/CNY, tăng 24,8 đồng chiều mua và 25,9 đồng chiều bán; tại BIDV, tỷ giá bán ra ở mức 3.912 VND/CNY, tăng khoảng 24 đồng so với cuối tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

Bộ Tài chính và WB định hình danh mục vay vốn giai đoạn mới, hướng tới hiệu quả và sức lan tỏa

(TBTCO) - Bộ Tài chính và Ngân hàng Thế giới (WB) thống nhất xây dựng danh mục các dự án dự kiến vay vốn giai đoạn 2026 - 2030, ưu tiên các dự án hiệu quả, tạo sức lan tỏa. Đồng thời, đưa ra những định hướng đổi mới trong triển khai, bảo đảm an toàn nợ công và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18663
CAD 18135 18410 19029
CHF 31463 31842 32490
CNY 0 3848 3942
EUR 29288 29508 30592
GBP 34171 34562 35497
HKD 0 3228 3430
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14879 15464
SGD 19821 20103 20677
THB 699 762 815
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26150 26520
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,429 29,453 30,858
JPY 156.44 156.72 166.18
GBP 34,368 34,461 35,658
AUD 18,017 18,082 18,764
CAD 18,305 18,364 19,039
CHF 31,758 31,857 32,794
SGD 19,949 20,011 20,792
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.61 17.32 18.84
THB 746.29 755.51 809.03
NZD 14,864 15,002 15,445
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,075
NOK - 2,676 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,019.21 - 6,794.39
TWD 733.68 - 888.71
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26514
AUD 17997 18097 19020
CAD 18304 18404 19418
CHF 31703 31733 33315
CNY 3829.8 3854.8 3990.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34472 34522 36282
HKD 0 3355 0
JPY 157.19 157.69 168.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14984 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19976 20106 20838
THB 0 727.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80