Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
aa

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất liên ngân hàng hạ về 6-8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn

Trong tuần qua từ ngày 6/4 đến ngày 10/4, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận trạng thái điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, với xu hướng chuyển sang hút ròng khi khối lượng đáo hạn gia tăng.

Cụ thể, tổng khối lượng trúng thầu đạt khoảng 70.369,25 tỷ đồng, chủ yếu ở các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới khoảng 136.627 tỷ đồng, vượt xa lượng bơm mới. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trong tuần.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc
Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng. Ảnh tư liệu.

So với tuần trước khi hệ thống được bơm ròng khoảng 110 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản, diễn biến tuần này cho thấy áp lực thanh khoản đã hạ nhiệt, tạo điều kiện để cơ quan điều hành chủ động rút bớt tiền về, đồng thời vẫn giữ cân bằng thị trường nhằm kiểm soát lãi suất liên ngân hàng và giảm áp lực lên tỷ giá.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 5,79%, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,27%. Ngược lại, kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng lần lượt giảm 0,13 và 0,28 điểm phần trăm, xuống 6,43% và 7,49%; riêng kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ 0,14 điểm phần trăm lên 7,85%.

Về doanh số, thanh khoản thị trường không biến động đáng kể, với doanh số cho vay qua đêm dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước, tính tới 24/3, tín dụng tăng 2,15% so với cuối năm 2025, thấp hơn so với cùng kỳ 2,28%, nhưng so với huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0.44% cho thấy áp lực thanh khoản vẫn khá cao tại các ngân hàng thương mại. Điều này cũng thể hiện qua làn sóng tăng lãi suất huy động mới vào cuối tháng 3.

"Nhìn chung, áp lực thanh khoản nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mặt bằng lãi suất tăng trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới có thể quay lại xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ do rủi ro lạm phát gia tăng" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tuần từ ngày 23 - 27/3 là tuần tăng lãi suất huy động mạnh nhất kể từ giữa tháng 12/2025 với đà tăng trải đều ở cả ngân hàng lớn, nhỏ cũng như ngân hàng nước ngoài.

Dự đoán một số yếu tố có thể gây áp lực lên lãi suất qua đêm trong ngắn hạn, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap, khoảng 312 nghìn tỷ đồng hợp đồng repo OMO sẽ đáo hạn trong tháng 4 và có thể sẽ gây áp lực lên thanh khoản.

Cùng với đó, khả năng tiếp tục gia tăng của lãi suất huy động tại các ngân hàng trong đầu tháng 4, một số ngân hàng đã ghi nhận mức lãi suất cao, bao gồm: PGBank, BVBank, OCB và BacABank với mức lãi suất huy động phổ biến 7%/năm; ngân hàng số Vikki Bank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 9,3%/năm; ngân hàng số Cake by VPBank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 8,7%/năm.

Dù vậy, đà tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ chững lại sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều 9/4. Tuy nhiên, để mặt bằng lãi suất thực sự giảm, vấn đề thanh khoản của hệ thống vẫn cần được giải quyết sớm.

Tỷ giá USD ngân hàng “lặng sóng”, nhiều ngoại tệ tăng mạnh

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến đồng pha giữa thị trường chính thức và thị trường tự do. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố nhìn chung biến động hẹp, tăng giảm khoảng 2 - 4 đồng/phiên và chốt tuần ở mức 25.105 VND/USD, tăng nhẹ 7 đồng so với tuần trước, cho thấy định hướng điều hành vẫn ổn định.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Chốt phiên ngày 10/4, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động nhẹ và phân hóa giữa các nhà băng. Cụ thể, Agribank niêm yết 26.110 - 26.360 VND/USD, tăng 3 đồng hai chiều. Ngược lại, BIDV điều chỉnh giảm chiều mua, đưa tỷ giá về 26.130 - 26.360 VND/USD, giảm 7 đồng mua vào nhưng tăng 3 đồng bán ra.

Tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, Sacombank niêm yết 26.220 - 26.360 VND/USD, tăng 1 đồng chiều mua và 3 đồng chiều bán; Techcombank tăng mạnh hơn ở chiều mua, lên 26.136 - 26.360 VND/USD, tăng 9 đồng mua và 3 đồng bán. Nhìn chung, tỷ giá USD trong hệ thống ngân hàng biến động hẹp, chủ yếu tăng nhẹ ở chiều bán ra, phản ánh xu hướng ổn định của thị trường ngoại hối.

Tỷ giá USD tự do giảm sâu 700 đồng, tín hiệu hạ nhiệt sau đà tăng nóng

Tuần qua, tỷ giá USD tự do quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, giảm mạnh tổng cộng khoảng 700 đồng, tiếp đà giảm 450 đồng của tuần trước. Điều này cho thấy áp lực đầu cơ suy yếu, đồng USD trên thị trường tự do đang hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn tăng nóng.

Theo quan sát của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta Việt Nam, để hỗ trợ tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện nghiệp vụ bán USD kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) vào ngày 24/3 cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm, đây là lần thứ hai Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ này trong năm 2026.

Trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần sử dụng công cụ này, trong đó, khoảng 3 tỷ USD bán kỳ hạn đã tới hạn trong tháng 3 và có thể đã được thực hiện một phần trong vài tuần qua.

Dù vậy, nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, áp lực tỷ giá vẫn còn cao trong ngắn hạn do đồng USD khả năng tiếp tục tăng khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông chưa hạ nhiệt và giá dầu leo thang, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. "Cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 3 tháng 2026 đã nhập siêu 3,64 tỷ USD" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Trong tuần qua, chỉ số DXY ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ, hiện quanh mức 98,68 điểm, giảm khoảng 1,55% so với tuần trước. Diễn biến này cho thấy đồng USD suy yếu tương đối trong ngắn hạn, dù trước đó đã có nhịp phục hồi lên vùng trên 100 điểm.

Theo số liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ, lạm phát hàng năm trong tháng 3 đã tăng lên 3,3%, từ mức 2,4% của tháng 2 và mức cao nhất kể từ tháng 5/2024, cho thấy áp lực giá đang quay trở lại. Động lực chính đến từ giá năng lượng, khi dầu thô tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Đây được coi là dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng chính sách của Fed trong ngắn hạn.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tiếp tục tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá đạt 29.984,4 - 31.565,13 VND/EUR, tăng 378,7 đồng chiều mua và 398,7 đồng chiều bán. Tỷ giá GBP cũng ghi nhận xu hướng tăng rõ nét; BIDV ở mức 34.783 - 35.875 VND/GBP, tăng 452 đồng và 472 đồng, phản ánh sức mạnh của đồng bảng Anh.

Đối với đồng CNY, tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng. Tại Vietcombank, đồng Nhân dân tệ ở mức 3.756,47 - 3.915,93 VND/CNY, tăng 24,8 đồng chiều mua và 25,9 đồng chiều bán; tại BIDV, tỷ giá bán ra ở mức 3.912 VND/CNY, tăng khoảng 24 đồng so với cuối tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80