Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
aa

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất liên ngân hàng hạ về 6-8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn

Trong tuần qua từ ngày 6/4 đến ngày 10/4, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận trạng thái điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, với xu hướng chuyển sang hút ròng khi khối lượng đáo hạn gia tăng.

Cụ thể, tổng khối lượng trúng thầu đạt khoảng 70.369,25 tỷ đồng, chủ yếu ở các kỳ hạn 14 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới khoảng 136.627 tỷ đồng, vượt xa lượng bơm mới. Qua đó, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trong tuần.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc
Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng. Ảnh tư liệu.

So với tuần trước khi hệ thống được bơm ròng khoảng 110 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản, diễn biến tuần này cho thấy áp lực thanh khoản đã hạ nhiệt, tạo điều kiện để cơ quan điều hành chủ động rút bớt tiền về, đồng thời vẫn giữ cân bằng thị trường nhằm kiểm soát lãi suất liên ngân hàng và giảm áp lực lên tỷ giá.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động trái chiều giữa các kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm 0,5 điểm phần trăm xuống 5,79%, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,11 điểm phần trăm lên 6,27%. Ngược lại, kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng lần lượt giảm 0,13 và 0,28 điểm phần trăm, xuống 6,43% và 7,49%; riêng kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ 0,14 điểm phần trăm lên 7,85%.

Về doanh số, thanh khoản thị trường không biến động đáng kể, với doanh số cho vay qua đêm dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước, tính tới 24/3, tín dụng tăng 2,15% so với cuối năm 2025, thấp hơn so với cùng kỳ 2,28%, nhưng so với huy động vốn của các tổ chức tín dụng chỉ tăng 0.44% cho thấy áp lực thanh khoản vẫn khá cao tại các ngân hàng thương mại. Điều này cũng thể hiện qua làn sóng tăng lãi suất huy động mới vào cuối tháng 3.

"Nhìn chung, áp lực thanh khoản nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mặt bằng lãi suất tăng trong thời gian tới, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới có thể quay lại xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ do rủi ro lạm phát gia tăng" - Chứng khoán Yuanta nhận định.

Theo ghi nhận của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, tuần từ ngày 23 - 27/3 là tuần tăng lãi suất huy động mạnh nhất kể từ giữa tháng 12/2025 với đà tăng trải đều ở cả ngân hàng lớn, nhỏ cũng như ngân hàng nước ngoài.

Dự đoán một số yếu tố có thể gây áp lực lên lãi suất qua đêm trong ngắn hạn, theo Công ty Cổ phần Chứng khoán Vietcap, khoảng 312 nghìn tỷ đồng hợp đồng repo OMO sẽ đáo hạn trong tháng 4 và có thể sẽ gây áp lực lên thanh khoản.

Cùng với đó, khả năng tiếp tục gia tăng của lãi suất huy động tại các ngân hàng trong đầu tháng 4, một số ngân hàng đã ghi nhận mức lãi suất cao, bao gồm: PGBank, BVBank, OCB và BacABank với mức lãi suất huy động phổ biến 7%/năm; ngân hàng số Vikki Bank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 9,3%/năm; ngân hàng số Cake by VPBank có thể sở hữu mức lãi suất huy động lên tới 8,7%/năm.

Dù vậy, đà tăng lãi suất được kỳ vọng sẽ chững lại sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng chiều 9/4. Tuy nhiên, để mặt bằng lãi suất thực sự giảm, vấn đề thanh khoản của hệ thống vẫn cần được giải quyết sớm.

Tỷ giá USD ngân hàng “lặng sóng”, nhiều ngoại tệ tăng mạnh

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến đồng pha giữa thị trường chính thức và thị trường tự do. Tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố nhìn chung biến động hẹp, tăng giảm khoảng 2 - 4 đồng/phiên và chốt tuần ở mức 25.105 VND/USD, tăng nhẹ 7 đồng so với tuần trước, cho thấy định hướng điều hành vẫn ổn định.

Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD lao dốc

Chốt phiên ngày 10/4, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại biến động nhẹ và phân hóa giữa các nhà băng. Cụ thể, Agribank niêm yết 26.110 - 26.360 VND/USD, tăng 3 đồng hai chiều. Ngược lại, BIDV điều chỉnh giảm chiều mua, đưa tỷ giá về 26.130 - 26.360 VND/USD, giảm 7 đồng mua vào nhưng tăng 3 đồng bán ra.

Tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, Sacombank niêm yết 26.220 - 26.360 VND/USD, tăng 1 đồng chiều mua và 3 đồng chiều bán; Techcombank tăng mạnh hơn ở chiều mua, lên 26.136 - 26.360 VND/USD, tăng 9 đồng mua và 3 đồng bán. Nhìn chung, tỷ giá USD trong hệ thống ngân hàng biến động hẹp, chủ yếu tăng nhẹ ở chiều bán ra, phản ánh xu hướng ổn định của thị trường ngoại hối.

Tỷ giá USD tự do giảm sâu 700 đồng, tín hiệu hạ nhiệt sau đà tăng nóng

Tuần qua, tỷ giá USD tự do quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, giảm mạnh tổng cộng khoảng 700 đồng, tiếp đà giảm 450 đồng của tuần trước. Điều này cho thấy áp lực đầu cơ suy yếu, đồng USD trên thị trường tự do đang hạ nhiệt rõ rệt sau giai đoạn tăng nóng.

Theo quan sát của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta Việt Nam, để hỗ trợ tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục thực hiện nghiệp vụ bán USD kỳ hạn 180 ngày (có hủy ngang) vào ngày 24/3 cho các tổ chức tín dụng có trạng thái ngoại tệ âm, đây là lần thứ hai Ngân hàng Nhà nước sử dụng công cụ này trong năm 2026.

Trong năm 2025, Ngân hàng Nhà nước đã 5 lần sử dụng công cụ này, trong đó, khoảng 3 tỷ USD bán kỳ hạn đã tới hạn trong tháng 3 và có thể đã được thực hiện một phần trong vài tuần qua.

Dù vậy, nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, áp lực tỷ giá vẫn còn cao trong ngắn hạn do đồng USD khả năng tiếp tục tăng khi căng thẳng địa chính trị Trung Đông chưa hạ nhiệt và giá dầu leo thang, đồng thời khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục trì hoãn giảm lãi suất. "Cán cân thương mại trong nước liên tục thâm hụt những tháng gần đây, 3 tháng 2026 đã nhập siêu 3,64 tỷ USD" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Trong tuần qua, chỉ số DXY ghi nhận xu hướng điều chỉnh giảm nhẹ, hiện quanh mức 98,68 điểm, giảm khoảng 1,55% so với tuần trước. Diễn biến này cho thấy đồng USD suy yếu tương đối trong ngắn hạn, dù trước đó đã có nhịp phục hồi lên vùng trên 100 điểm.

Theo số liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ, lạm phát hàng năm trong tháng 3 đã tăng lên 3,3%, từ mức 2,4% của tháng 2 và mức cao nhất kể từ tháng 5/2024, cho thấy áp lực giá đang quay trở lại. Động lực chính đến từ giá năng lượng, khi dầu thô tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông. Đây được coi là dữ liệu quan trọng định hình kỳ vọng chính sách của Fed trong ngắn hạn.

Với các ngoại tệ khác, tỷ giá EUR tiếp tục tăng mạnh. Tại Vietcombank, tỷ giá đạt 29.984,4 - 31.565,13 VND/EUR, tăng 378,7 đồng chiều mua và 398,7 đồng chiều bán. Tỷ giá GBP cũng ghi nhận xu hướng tăng rõ nét; BIDV ở mức 34.783 - 35.875 VND/GBP, tăng 452 đồng và 472 đồng, phản ánh sức mạnh của đồng bảng Anh.

Đối với đồng CNY, tỷ giá tiếp tục xu hướng tăng. Tại Vietcombank, đồng Nhân dân tệ ở mức 3.756,47 - 3.915,93 VND/CNY, tăng 24,8 đồng chiều mua và 25,9 đồng chiều bán; tại BIDV, tỷ giá bán ra ở mức 3.912 VND/CNY, tăng khoảng 24 đồng so với cuối tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/09/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30