Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
aa

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%
Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO, lãi suất qua đêm vọt lên hơn 11%

Trong tuần qua, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận diễn biến đảo chiều rõ nét khi Ngân hàng Nhà nước khởi đầu tuần với quy mô phát hành lên tới 90.000 tỷ đồng vào ngày 30/3 - mức cao kỷ lục trong lịch sử, sau đó giảm dần và chỉ còn 3.000 tỷ đồng vào ngày 3/4. Trong khi đó, lượng đáo hạn liên tục ở mức lớn, từ 58.966,87 tỷ đồng đầu tuần, thu hẹp dần về 8.516,56 tỷ đồng cuối tuần.

Theo đó, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 225.782 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 145.672,89 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4:
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng. Ảnh minh họa.
Tính chung tuần qua, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh khoảng 110.153,69 tỷ đồng. Diễn biến này trái ngược với giai đoạn trước đó, khi cơ quan điều hành chỉ bơm ròng "nhỏ giọt" vài nghìn tỷ, thậm chí từng hút ròng tới 240.000 tỷ đồng trong những tuần gần đây, trong bối cảnh thanh khoản co hẹp và room tín dụng dần cạn vào cuối quý I/2026.

Tuần qua, thị trường liên ngân hàng ghi nhận lãi suất qua đêm tăng vọt, đặc biệt phiên đầu tuần 30/3 lên tới 11,42%.

Gần phiên cuối tuần ngày 2/4, lãi suất liên ngân hàng qua đêm hạ nhiệt, song vẫn ở mức cao lên quanh 8,9%, tăng khoảng 4,27 điểm phần trăm so với cuối tuần trước).

Lãi suất 1 tuần tăng lên 8,45%, tăng 1,84 điểm phần trăm. Trong khi đó, các kỳ hạn dài hơn biến động trái chiều, như lãi suất 2 tuần giảm nhẹ còn 7%, giảm 0,85 điểm phần trăm.

Song song, doanh số giao dịch qua đêm tăng mạnh, đặc biệt phiên 31/3 gần 1,2 triệu tỷ đồng, so với mức 700 - 800 nghìn tỷ đồng trước đó.

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4:

Theo góc nhìn của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam, việc Ngân hàng Nhà nước quay lại bơm ròng từ tuần trước, dù với quy mô không lớn, cho thấy nhà điều hành đã bắt đầu phản ứng trước trạng thái căng thanh khoản cục bộ xuất hiện giữa tuần, thay vì tiếp tục rút mạnh như hai tuần trước đó.

"Nhìn chung, nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng trong tuần trước thời điểm kết thúc quý 1/2026 khiến thanh có phần căng thẳng cục bộ. Mặc dù Ngân hàng Nhà nước quay lại bơm ròng nhẹ, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng xu hướng rút ròng sẽ vẫn là chủ đạo trong năm 2026. Ngoài ra, việc tăng lãi suất trên thị trường có thể tiếp tục trong những tuần tới ở một vài ngân hàng" - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Trước động thái cuối quý I/2026, lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt, sức lãi suất huy động từ dân cư "nóng hầm hập", trao đổi với phóng viên, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cấp cao Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế, sau quý I, nhiều ngân hàng đã sử dụng gần hết hạn mức tín dụng được cấp ban đầu, hoặc ít nhất cũng đang tiến sát ngưỡng. Khi đó, họ có xu hướng chủ động “giảm tốc” giải ngân, đồng thời tích cực huy động vốn để chuẩn bị cho giai đoạn được nới room tín dụng trong quý II.

"Điều này làm giảm nhu cầu vay trên thị trường liên ngân hàng - vốn chủ yếu phục vụ mục đích thanh khoản ngắn hạn và kéo theo sự trầm lắng của thị trường 2" - ông Huân nhận định.

Bên cạnh đó, yếu tố kỳ vọng cũng đóng vai trò rất quan trọng. Các ngân hàng hiện không chỉ phản ứng với trạng thái hiện tại, mà còn đang “định vị trước” cho một chu kỳ tín dụng mới có thể tăng tốc trong các quý tới, đặc biệt khi các động lực tăng trưởng như đầu tư công, bất động sản và sản xuất đang dần quay trở lại.

Tỷ giá trung tâm miệt mài tăng 5 tuần, tỷ giá USD sụt mất mốc 28.000 đồng

Ngày 3/4, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.107 đồng, đi ngang so với phiên trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần và sàn lần lượt là 26.362 VND/USD và 23.852 VND/USD.

Trên thị trường tự do, tỷ giá VND/USD tăng 60 đồng chiều mua vào và 50 đồng chiều bán ra so với phiên trước, giao dịch phổ biến quanh 27.480 - 27.520 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4:

Tỷ giá USD tự do “hạ sốt”, đứt mạch tăng 5 tuần liên tiếp

Thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh theo hướng giảm sâu khoảng 450 đồng trong tuần xuống quanh 27.480 - 27.520 VND/USD, mất mốc 28.000 đồng, đảo chiều hoàn toàn so với mức tăng 220 đồng của tuần trước. Đồng thời, chấm dứt chuỗi 5 tuần tăng liên tiếp với tổng mức tăng khoảng 1.720 đồng. Diễn biến này cho thấy nhịp điều chỉnh rõ nét sau giai đoạn tăng nóng, qua đó, góp phần thu hẹp chênh lệch giữa thị trường chính thức và thị trường tự do.

Tính chung tuần qua, từ ngày 30/3 đến ngày 3/4, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng nhẹ. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng tổng cộng 7 đồng, nhích dần qua các phiên, song tăng 5 tuần liên tiếp, tương ứng tăng tới 63 đồng.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD biến động trái chiều khi tại Vietcombank tăng 7 đồng ở cả hai chiều, lên mức 26.112 - 26.362 VND/USD, trong khi BIDV ghi nhận chiều mua giảm 3 đồng nhưng bán ra tăng 7 đồng, lên 26.142 - 26.362 VND/USD.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - bật tăng trở lại trên ngưỡng 100 điểm, lên khoảng 100,14 điểm.

Chỉ số DXY tiếp tục duy trì xu hướng tăng trong bối cảnh những lo ngại mới về nguy cơ xung đột kéo dài tại Trung Đông, qua đó, củng cố nhu cầu nắm giữ tài sản an toàn như đồng USD.

Cùng thời điểm, Tổng thống Mỹ Donald Trump đăng tải trên mạng xã hội rằng Mỹ hoàn toàn có thể nhanh chóng kiểm soát lại eo biển Hormuz, khai thác dầu và thu về nguồn lợi lớn, qua đó, làm gia tăng thêm căng thẳng địa chính trị và hỗ trợ đà tăng của đồng bạc xanh.

Tâm điểm thị trường hiện dồn vào báo cáo việc làm tháng 3 của Mỹ, dự kiến công bố vào cuối ngày thứ 6, được xem là yếu tố then chốt định hình kỳ vọng chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed)./.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, đồng USD đang hướng tới tháng tăng mạnh nhất trong gần một năm qua, trong khi đồng yên suy yếu về vùng nhạy cảm và khả năng can thiệp từ phía Nhật Bản gia tăng. Trong khi đó, đồng EUR tiếp tục chịu áp lực khi khu vực này vẫn đang nhạy cảm với cú sốc năng lượng, trong khi lợi suất trái phiếu tăng làm gia tăng lo ngại về tăng trưởng. Đồng GBP dù có nhịp hồi trong tuần nhưng vẫn đang hướng tới tháng giảm mạnh nhất so với USD kể từ tháng 10, do dòng tiền phòng thủ chảy về đồng USD và thị trường điều chỉnh lại kỳ vọng chính sách của Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) theo hướng ít nới lỏng hơn trước.

Dù mức tăng và chênh lệch mua/bán của kênh chính thức vẫn tương đối hẹp, nhưng mức tăng của tỷ giá thị trường tự do khá lớn, hiện đã vượt mức đỉnh xác lập hồi tháng 11/2025, trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới ở mức cao.

"Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục can thiệp bằng việc bán USD kỳ hạn nếu áp lực tỷ giá tăng cao, sau lần can thiệp gần nhất vào tuần trước (24/3) khi tỷ giá tự do lên mức 27.950 VND/USD" - Chứng khoán Yuanta nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80