Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Ánh Tuyết
Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
aa
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm
Cổ phiếu của Sacombank tăng trần sau thông tin sắp đổi tên thành Ngân hàng Sài Gòn Tài Lộc Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở

Mục tiêu lãi 8.100 tỷ đồng, xin quyền chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh

Hội đồng Quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) vừa ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐQT, thông qua các tài liệu trình Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) dự kiến tổ chức ngày 22/4 tại Phú Thọ.

Theo đó, ĐHĐCĐ sẽ xem xét báo cáo của HĐQT về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026; thông qua phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 và kế hoạch năm 2026; đồng thời xem xét tờ trình miễn nhiệm thành viên HĐQT. Trước đó, Sacombank đã trình đại hội các nội dung mang tính "bước ngoặt" về thay đổi địa điểm trụ sở chính, đổi tên, gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập... chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.

Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 4,5%; lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; đồng thời đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đánh giá của Chủ tịch HĐQT Sacombank Dương Công Minh, xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị ngày càng leo thang trên thế giới, tạo ra những diễn biến phức tạp, bất khả kháng đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều này có khả năng phát sinh các tác động kém tích cực và khó dự báo đến quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Sacombank.

Do đó, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác quản trị điều hành, kịp thời thích ứng với diễn biến thị trường, HĐQT trình ĐHĐCĐ xem xét ủy quyền cho HĐQT được chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế và quy định pháp luật đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng.

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%,
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại báo cáo này, HĐQT trình ĐHĐCĐ thông qua các mục tiêu kinh doanh trọng tâm năm 2026 của Sacombank, gồm: tổng tài sản đạt 1.010.300 tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12%, hoặc không vượt hạn mức Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.

Cùng với đó, Sacombank đặt mục tiêu tổng huy động đạt 921.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 10% và điều hành linh hoạt theo tăng trưởng tín dụng.

Về định hướng chiến lược, báo cáo của Tổng Giám đốc nêu rõ 4 định hướng triển khai năm 2026. Trong đó, tập trung nâng cao vị thế và tối ưu hóa hiệu quả tài chính, với mục tiêu trọng tâm là nâng mức xếp hạng tổ chức tín dụng theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước để khẳng định năng lực quản trị rủi ro và tính minh bạch.

"Đẩy mạnh quy mô, đồng thời chú trọng kiểm soát chất lượng tài sản và quyết liệt tối ưu hóa chi phí vận hành nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận" - lãnh đạo Sacombank nêu rõ.

Giữ lại hơn 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Về phương án phân phối lợi nhuận, trong tờ trình ĐHĐCĐ, Sacombank dự kiến trích lập các quỹ bổ sung vốn điều lệ, dự phòng tài chính, với tổng giá trị 1.168,9 tỷ đồng. Sau khi trích lập, lợi nhuận còn lại đạt 4.770,1 tỷ đồng. Cộng với lợi nhuận giữ lại các năm trước 25.355,1 tỷ đồng, tổng lợi nhuận giữ lại lũy kế của Sacombank lên tới 30.125,2 tỷ đồng. Điều này cho thấy, Sacombank tiếp tục ưu tiên tích lũy vốn và củng cố nền tảng tài chính thay vì chia cổ tức, tạo dư địa cho xử lý tồn đọng và tăng trưởng trong các năm tới

Cũng theo báo cáo của HĐQT, năm 2025, Sacombank đã hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu tài chính mà ĐHĐCĐ giao. Trong đó, các chỉ tiêu an toàn được kiểm soát tuân thủ đúng quy định; các chỉ tiêu quy mô tổng tài sản, tổng huy động và dư nợ tín dụng đạt từ 102% đến 114% kế hoạch. Lợi nhuận trước trích lập dự phòng rủi ro đạt 19.012 tỷ đồng, tăng 29,4% so với năm trước.

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%,
Nguồn: Sacombank.

Riêng chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2025 đạt 52% kế hoạch được ĐHĐCĐ giao, đạt 7.628 tỷ đồng. Kết quả này chịu tác động chủ yếu từ việc Sacombank chủ động tăng mạnh chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của ngân hàng, nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các tài sản tồn đọng.

"Đây là bước đi chiến lược, đặt trọng tâm vào chất lượng tài sản và sự phát triển bền vững trong trung và dài hạn, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn" - lãnh đạo Sacombank nhấn mạnh.

Liên quan đến tình hình thực hiện Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập, báo cáo của Ban kiểm soát Sacombank cho thấy, về dự phòng rủi ro tín dụng, đến ngày 31/12/2022, ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro tín dụng cho các khoản cho vay trong phạm vi Đề án. Trong năm 2025, ngân hàng đã hoàn tất việc thu hồi khoản cho vay thuộc khoản mục cho vay khách hàng và hoàn nhập khoản dự phòng rủi ro tín dụng tương ứng đã trích lập.

Về dự phòng rủi ro trái phiếu đặc biệt do Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) phát hành thuộc Đề án, đến ngày 31/12/2023, ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng trái phiếu này.

Các tài sản tồn đọng, tài sản nhận cấn trừ nợ, đến ngày 31/12/2025, ngân hàng đã thu hồi một phần các tài sản tồn đọng, tài sản nhận cấn trừ thuộc Đề án thông qua việc chuyển nhượng quyền hoặc tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ thực hiện quyền gắn liền với các tài sản này cho bên thứ ba. Ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng cho số dư còn lại của các tài sản này tại ngày 31/12/2025 và 31/12/2024.

Ngoài ra, trên cơ sở đơn từ nhiệm chức danh thành viên HĐQT của bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, HĐQT trình ĐHĐCĐ thường niên năm tài chính 2025 thông qua việc miễn nhiệm chức vụ thành viên HĐQT Sacombank nhiệm kỳ 2022 - 2026 đối với bà Nguyễn Đức Thạch Diễm kể từ thời điểm kết thúc phiên họp ĐHĐCĐ năm tài chính 2025 của Sacombank./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026 - Golden Dragon Awards 2026, với danh hiệu “Tiên phong trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm” (Pioneer in Innovation of Insurance Products).
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,130 16,380
Miếng SJC Nghệ An 16,130 16,380
Miếng SJC Thái Bình 16,130 16,380
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,060 ▲10K 16,360 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,060 ▲10K 16,360 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,060 ▲10K 16,360 ▲10K
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,550 ▲10K 16,250 ▲10K
Trang sức 99.99 15,560 ▲10K 16,260 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18288 18564 19136
CAD 18639 18917 19533
CHF 32899 33284 33919
CNY 0 3834 3926
EUR 30052 30326 31352
GBP 34548 34940 35881
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15127 15709
SGD 20046 20329 20856
THB 723 786 840
USD (1,2) 26089 0 0
USD (5,10,20) 26131 0 0
USD (50,100) 26159 26179 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,389
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,240 30,264 31,548
JPY 161.64 161.93 170.83
GBP 34,814 34,908 35,931
AUD 18,543 18,610 19,214
CAD 18,856 18,917 19,516
CHF 33,223 33,326 34,137
SGD 20,214 20,277 20,975
CNY - 3,811 3,936
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.23 16.93 18.33
THB 772.98 782.53 833.61
NZD 15,137 15,278 15,654
SEK - 2,761 2,845
DKK - 4,047 4,168
NOK - 2,802 2,887
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,211.55 - 6,977.15
TWD 754.53 - 908.9
SAR - 6,919.88 7,252.25
KWD - 83,792 88,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26389
AUD 18469 18569 19495
CAD 18818 18918 19932
CHF 33146 33176 34751
CNY 3816.3 3841.3 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30231 30261 31987
GBP 34849 34899 36659
HKD 0 3355 0
JPY 162.27 162.77 173.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15230 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20207 20337 21070
THB 0 753.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,180 26,230 26,389
USD20 26,180 26,230 26,389
USD1 23,877 26,230 26,389
AUD 18,543 18,643 19,759
EUR 30,387 30,387 31,810
CAD 18,764 18,864 20,180
SGD 20,289 20,439 21,265
JPY 162.73 164.23 168.87
GBP 34,759 35,109 35,987
XAU 16,128,000 0 16,382,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80