Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Ánh Tuyết
Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
aa
Đại hội đồng cổ đông Sacombank: Lợi nhuận tiếp đà tăng tốc, cổ tức sắp tái xuất sau 9 năm
Cổ phiếu của Sacombank tăng trần sau thông tin sắp đổi tên thành Ngân hàng Sài Gòn Tài Lộc Sacombank trước “ngã rẽ lớn”, trình Đại hội đồng cổ đông kế hoạch đổi tên, dời trụ sở

Mục tiêu lãi 8.100 tỷ đồng, xin quyền chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh

Hội đồng Quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - mã Ck: STB) vừa ban hành Nghị quyết số 23/2026/NQ-HĐQT, thông qua các tài liệu trình Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) dự kiến tổ chức ngày 22/4 tại Phú Thọ.

Theo đó, ĐHĐCĐ sẽ xem xét báo cáo của HĐQT về kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng năm 2026; thông qua phương án phân phối lợi nhuận năm 2025 và kế hoạch năm 2026; đồng thời xem xét tờ trình miễn nhiệm thành viên HĐQT. Trước đó, Sacombank đã trình đại hội các nội dung mang tính "bước ngoặt" về thay đổi địa điểm trụ sở chính, đổi tên, gia hạn Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập... chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới.

Năm 2026, Sacombank đặt mục tiêu kiểm soát tỷ lệ nợ xấu nội bảng dưới 4,5%; lợi nhuận trước thuế đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; đồng thời đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đánh giá của Chủ tịch HĐQT Sacombank Dương Công Minh, xung đột vũ trang và căng thẳng địa chính trị ngày càng leo thang trên thế giới, tạo ra những diễn biến phức tạp, bất khả kháng đối với nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều này có khả năng phát sinh các tác động kém tích cực và khó dự báo đến quá trình thực hiện kế hoạch kinh doanh của Sacombank.

Do đó, nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt trong công tác quản trị điều hành, kịp thời thích ứng với diễn biến thị trường, HĐQT trình ĐHĐCĐ xem xét ủy quyền cho HĐQT được chủ động điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, trên cơ sở phù hợp với tình hình thực tế và quy định pháp luật đảm bảo sự tăng trưởng ổn định, bền vững và mang lại hiệu quả cao nhất cho ngân hàng.

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%,
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại báo cáo này, HĐQT trình ĐHĐCĐ thông qua các mục tiêu kinh doanh trọng tâm năm 2026 của Sacombank, gồm: tổng tài sản đạt 1.010.300 tỷ đồng, tăng 10%; dư nợ tín dụng đạt 699.400 tỷ đồng, tăng 12%, hoặc không vượt hạn mức Ngân hàng Nhà nước phê duyệt.

Cùng với đó, Sacombank đặt mục tiêu tổng huy động đạt 921.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 10% và điều hành linh hoạt theo tăng trưởng tín dụng.

Về định hướng chiến lược, báo cáo của Tổng Giám đốc nêu rõ 4 định hướng triển khai năm 2026. Trong đó, tập trung nâng cao vị thế và tối ưu hóa hiệu quả tài chính, với mục tiêu trọng tâm là nâng mức xếp hạng tổ chức tín dụng theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước để khẳng định năng lực quản trị rủi ro và tính minh bạch.

"Đẩy mạnh quy mô, đồng thời chú trọng kiểm soát chất lượng tài sản và quyết liệt tối ưu hóa chi phí vận hành nhằm đảm bảo mục tiêu lợi nhuận" - lãnh đạo Sacombank nêu rõ.

Giữ lại hơn 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Về phương án phân phối lợi nhuận, trong tờ trình ĐHĐCĐ, Sacombank dự kiến trích lập các quỹ bổ sung vốn điều lệ, dự phòng tài chính, với tổng giá trị 1.168,9 tỷ đồng. Sau khi trích lập, lợi nhuận còn lại đạt 4.770,1 tỷ đồng. Cộng với lợi nhuận giữ lại các năm trước 25.355,1 tỷ đồng, tổng lợi nhuận giữ lại lũy kế của Sacombank lên tới 30.125,2 tỷ đồng. Điều này cho thấy, Sacombank tiếp tục ưu tiên tích lũy vốn và củng cố nền tảng tài chính thay vì chia cổ tức, tạo dư địa cho xử lý tồn đọng và tăng trưởng trong các năm tới

Cũng theo báo cáo của HĐQT, năm 2025, Sacombank đã hoàn thành hầu hết các chỉ tiêu tài chính mà ĐHĐCĐ giao. Trong đó, các chỉ tiêu an toàn được kiểm soát tuân thủ đúng quy định; các chỉ tiêu quy mô tổng tài sản, tổng huy động và dư nợ tín dụng đạt từ 102% đến 114% kế hoạch. Lợi nhuận trước trích lập dự phòng rủi ro đạt 19.012 tỷ đồng, tăng 29,4% so với năm trước.

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%,
Nguồn: Sacombank.

Riêng chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế hợp nhất năm 2025 đạt 52% kế hoạch được ĐHĐCĐ giao, đạt 7.628 tỷ đồng. Kết quả này chịu tác động chủ yếu từ việc Sacombank chủ động tăng mạnh chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của ngân hàng, nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các tài sản tồn đọng.

"Đây là bước đi chiến lược, đặt trọng tâm vào chất lượng tài sản và sự phát triển bền vững trong trung và dài hạn, thay vì chỉ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận ngắn hạn" - lãnh đạo Sacombank nhấn mạnh.

Liên quan đến tình hình thực hiện Đề án tái cơ cấu sau sáp nhập, báo cáo của Ban kiểm soát Sacombank cho thấy, về dự phòng rủi ro tín dụng, đến ngày 31/12/2022, ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng rủi ro tín dụng cho các khoản cho vay trong phạm vi Đề án. Trong năm 2025, ngân hàng đã hoàn tất việc thu hồi khoản cho vay thuộc khoản mục cho vay khách hàng và hoàn nhập khoản dự phòng rủi ro tín dụng tương ứng đã trích lập.

Về dự phòng rủi ro trái phiếu đặc biệt do Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) phát hành thuộc Đề án, đến ngày 31/12/2023, ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng trái phiếu này.

Các tài sản tồn đọng, tài sản nhận cấn trừ nợ, đến ngày 31/12/2025, ngân hàng đã thu hồi một phần các tài sản tồn đọng, tài sản nhận cấn trừ thuộc Đề án thông qua việc chuyển nhượng quyền hoặc tài sản đảm bảo cho nghĩa vụ thực hiện quyền gắn liền với các tài sản này cho bên thứ ba. Ngân hàng đã thực hiện trích lập đầy đủ dự phòng cho số dư còn lại của các tài sản này tại ngày 31/12/2025 và 31/12/2024.

Ngoài ra, trên cơ sở đơn từ nhiệm chức danh thành viên HĐQT của bà Nguyễn Đức Thạch Diễm, HĐQT trình ĐHĐCĐ thường niên năm tài chính 2025 thông qua việc miễn nhiệm chức vụ thành viên HĐQT Sacombank nhiệm kỳ 2022 - 2026 đối với bà Nguyễn Đức Thạch Diễm kể từ thời điểm kết thúc phiên họp ĐHĐCĐ năm tài chính 2025 của Sacombank./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Kim TT/AVPL 17,380 ▲180K 17,680 ▲180K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Nguyên Liệu 99.99 15,920 ▼30K 16,120 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,870 ▼30K 16,070 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 ▼30K 17,170 ▼30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 ▼30K 17,120 ▼30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 ▼30K 17,100 ▼30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 ▲1800K 176,700 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 17,370 ▲180K 17,670 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 ▲180K 17,650 ▲180K
NL 99.90 15,870 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900 ▲100K
Trang sức 99.9 16,840 ▲180K 17,540 ▲180K
Trang sức 99.99 16,850 ▲180K 17,550 ▲180K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 ▲18K 17,672 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 ▲18K 17,673 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 ▲18K 1,765 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 ▲18K 1,766 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 ▲18K 175 ▼1557K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 ▲1782K 173,267 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 ▲1350K 131,413 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 ▲1224K 119,162 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 ▲1098K 106,911 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 ▲1049K 102,185 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 ▲750K 73,132 ▲750K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 ▲18K 1,767 ▲18K
Cập nhật: 01/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/04/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80