Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
aa

Mỗi doanh nghiệp chọn một “lối đi” riêng

Tổng hợp số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) giai đoạn từ năm 2020 đến hết tháng 1/2026 cho thấy, cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đang có sự dịch chuyển rõ rệt. Trong đó, tỷ trọng phí bảo hiểm sức khỏe tăng mạnh từ 32,24% lên 41,96%, duy trì vị trí trụ cột của thị trường, thay vì ngang bằng bảo hiểm xe cơ giới như trước đây.

Ngược lại, bảo hiểm xe cơ giới giảm từ 30,53% xuống 21,84%, phản ánh mức độ cạnh tranh cao và đà tăng trưởng chậm lại. Bảo hiểm cháy nổ tăng tỷ trọng từ 11,34% lên 15,4%. Ngoài ra, các nghiệp vụ khác chiếm tỷ trọng nhỏ.

Báo cáo tài chính năm 2025 do các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết công bố cũng thể hiện cơ cấu nghiệp vụ và sự khác biệt rõ về chiến lược tại mỗi doanh nghiệp.

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và
Đồ họa: Ánh Tuyết

Đơn cử, Bảo hiểm DBV tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ xe cơ giới, với doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2025 đạt 2.627 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn (63%). Tiếp đến là bảo hiểm con người với hơn 736 tỷ đồng (17,6%); bảo hiểm cháy nổ đạt gần 360 tỷ đồng (8,6%).

Bảo hiểm MB (MIC) duy trì danh mục đa trụ cột, với quy mô lớn ở bảo hiểm xe cơ giới, đạt 1.754 tỷ đồng (32%); phí bảo hiểm con người đạt 1.652,7 tỷ đồng (30,2%); đồng thời có quy mô đáng kể ở bảo hiểm tài sản, với 837 tỷ đồng (15,3%)...

"Chúng tôi phát triển các sản phẩm và giải pháp bảo hiểm hướng tới bảo vệ tài sản, con người và cộng đồng trước các rủi ro khí hậu, thiên tai, tai nạn và biến động xã hội" - lãnh đạo MIC nhấn mạnh.

Nhận định về những phân khúc bảo hiểm phi nhân thọ có khả năng tăng trưởng khả quan trong năm 2026, lãnh đạo Bảo hiểm DBV cho rằng, khi quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, nhu cầu quản trị rủi ro của doanh nghiệp và người dân cũng sẽ gia tăng. Theo đó, các mảng nổi bật gồm: bảo hiểm xe cơ giới, tài sản - kỹ thuật, bảo hiểm sức khỏe cùng các sản phẩm liên quan đến chuỗi cung ứng, logistics và hạ tầng.

Trong khi đó, lãnh đạo Bảo hiểm BSH kỳ vọng, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ sẽ chứng kiến “cú hích” rõ rệt năm nay, khi nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng. Theo đó, bảo hiểm con người và phúc lợi sức khỏe tiếp tục nổi bật, bởi đây là phân khúc có “cầu thật” và tỷ trọng lớn, phản ánh ưu tiên của doanh nghiệp đối với năng suất và ổn định nhân sự.

Có sản phẩm "mồi" để dẫn khách

Dù bảo hiểm sức khỏe vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 30 - 40% toàn ngành, nhưng giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt rõ rệt, có đơn vị chỉ duy trì 10 - 20% để tập trung vào nghiệp vụ khác, trong khi có doanh nghiệp đẩy tỷ trọng lên tới 66%.

Lý giải sự khác biệt này, theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Đào tạo bảo hiểm và quản trị rủi ro tài chính, trong thực tế, cơ cấu nghiệp vụ bảo hiểm phụ thuộc vào chiến lược và kênh bán hàng của mỗi doanh nghiệp.

Nhu cầu tăng cả lượng và chất, bảo hiểm con người dẫn dắt

Lãnh đạo Bảo hiểm BSH cho rằng, nhu cầu bảo vệ năm 2026 dự kiến dịch chuyển mạnh cả về lượng lẫn chất khi tổng tài sản và số tiền bảo hiểm tăng lên; đồng thời, khách hàng đòi hỏi phạm vi bảo hiểm rộng hơn, điều khoản minh bạch hơn và bồi thường nhanh hơn. Năm 2025, phí bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng khoảng 10,1%, riêng nhóm bảo hiểm sức khỏe/tai nạn con người chiếm khoảng 36% cơ cấu doanh thu. Điều này cho thấy, thị trường vẫn ưu tiên các nghiệp vụ bám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu an sinh của lực lượng lao động.

Theo đó, nếu doanh nghiệp có hệ thống phân phối rộng và hợp tác tốt, đặc biệt với các ngân hàng hoặc hệ sinh thái lớn, thì sẽ khai thác mạnh mảng bán lẻ. Đơn cử, OPES tận dụng vào tệp khách hàng trong hệ sinh thái của VPBank để phát triển các sản phẩm bảo hiểm cá nhân như bảo hiểm xe ô tô, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sức khỏe. Ngược lại, những doanh nghiệp không có kênh bán lẻ mạnh thường tập trung vào mảng dự án.

Cũng theo vị chuyên gia này, kinh doanh bảo hiểm sức khỏe là nghiệp vụ lỗ tại nhiều doanh nghiệp, nhưng vẫn được duy trì như “sản phẩm dẫn”. Chẳng hạn, một nhà máy có 1.000 lao động, mỗi người đóng phí khoảng 2,5 triệu đồng, tổng phí bảo hiểm sức khỏe chỉ khoảng 2,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhà máy đó có giá trị tài sản lên tới hàng trăm tỷ đồng; nếu mua bảo hiểm tài sản, thì doanh nghiệp bảo hiểm thu thêm vài tỷ đồng, trong khi rủi ro bồi thường lại thấp hơn.

Bên cạnh đó, bảo hiểm cháy nổ thường có biên lợi nhuận cao, do quy định nghiêm ngặt về phòng cháy, chữa cháy, nên doanh nghiệp bảo hiểm cũng giảm rủi ro.

"Dù mảng sức khỏe có thể bồi thường tới 130%, doanh nghiệp vẫn bù được nhờ lợi nhuận từ bảo hiểm tài sản" - ông Đán nêu rõ thực tế.

Về vấn đề này, một lãnh đạo doanh nghiệp phi nhân thọ từng giãi bày, trước đây, nhiều công ty bảo hiểm, đặc biệt là nhóm quy mô nhỏ, thường cạnh tranh bằng việc giảm phí, kể cả chấp nhận kinh doanh những mảng có biên lợi nhuận thấp. Cách làm này giống như “xây lâu đài trên cát”. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tái cấu trúc để xây dựng lại nền móng thật sự vững chắc, dù việc triển khai sẽ tốn kém và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Ông Đán chia sẻ, bảo hiểm xe cơ giới và tai nạn con người dễ biến động, thậm chí thua lỗ nếu không kiểm soát tốt. Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm cần xây dựng chiến lược riêng, kết hợp các nghiệp vụ để cân bằng giữa tăng trưởng và lợi nhuận.

Theo đó, doanh nghiệp sẽ chấp nhận có những nghiệp vụ lỗ và sử dụng chúng như “sản phẩm dẫn” để tiếp cận, từ đó, khai thác các sản phẩm có biên lợi nhuận cao hơn./.

Nhận diện động lực tăng trưởng chính của thị trường bảo hiểm

Nhìn lại động lực đằng sau đà tăng các loại bảo hiểm năm vừa qua, có thể thấy, các nghiệp vụ bảo hiểm cá nhân vẫn tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của thị trường, đặc biệt là sự hồi phục mạnh mẽ của nghiệp vụ xe cơ giới, với tốc độ tăng trưởng hơn 12% theo số liệu của theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam. Đây là mức tăng trưởng cao nhất của nghiệp vụ này kể từ năm 2019, nhờ sự phục hồi tích cực của thị trường xe Việt Nam khi tổng lượng xe bán ra của năm 2025 tăng đến hơn 22% so với năm 2024.

Các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, kỹ thuật vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá tốt, khoảng 11%. Việc áp dụng Nghị định số 105/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ từ tháng 7/2025 đã tạo tác động tích cực lên doanh thu nghiệp vụ tài sản trong năm 2025 và được kỳ vọng sẽ tạo những chuyển biến tốt hơn trong năm 2026.

Về tỷ trọng, cơ cấu doanh thu tiếp tục tập trung vào một số nghiệp vụ chủ lực. Trong đó, bảo hiểm con người chiếm tỷ trọng lớn nhất (36%), tiếp đến là tài sản và kỹ thuật (27%), xe cơ giới (23,8%). Ba mảng này chiếm tới gần 87% toàn thị trường. Các nghiệp vụ còn lại có quy mô nhỏ hơn, như: bảo hiểm tàu (4,3%), trách nhiệm (2,7%), hàng hóa (3,8%), hàng không (1,1%), bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm bảo lãnh...

Theo đánh giá của lãnh đạo Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), việc ứng dụng công nghệ, phát triển các sản phẩm đổi mới sáng tạo và các mô hình bảo hiểm tích hợp được kỳ vọng sẽ là những động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng của thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,750
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 14,640
Trang sức 99.99 13,950 14,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 148
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 1,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 146
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 144,554
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 109,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 9,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 89,219
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 85,277
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 61,038
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 16/07/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80