Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
aa

Mỗi doanh nghiệp chọn một “lối đi” riêng

Tổng hợp số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) giai đoạn từ năm 2020 đến hết tháng 1/2026 cho thấy, cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ đang có sự dịch chuyển rõ rệt. Trong đó, tỷ trọng phí bảo hiểm sức khỏe tăng mạnh từ 32,24% lên 41,96%, duy trì vị trí trụ cột của thị trường, thay vì ngang bằng bảo hiểm xe cơ giới như trước đây.

Ngược lại, bảo hiểm xe cơ giới giảm từ 30,53% xuống 21,84%, phản ánh mức độ cạnh tranh cao và đà tăng trưởng chậm lại. Bảo hiểm cháy nổ tăng tỷ trọng từ 11,34% lên 15,4%. Ngoài ra, các nghiệp vụ khác chiếm tỷ trọng nhỏ.

Báo cáo tài chính năm 2025 do các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết công bố cũng thể hiện cơ cấu nghiệp vụ và sự khác biệt rõ về chiến lược tại mỗi doanh nghiệp.

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và
Đồ họa: Ánh Tuyết

Đơn cử, Bảo hiểm DBV tập trung chủ yếu vào nghiệp vụ xe cơ giới, với doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2025 đạt 2.627 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn (63%). Tiếp đến là bảo hiểm con người với hơn 736 tỷ đồng (17,6%); bảo hiểm cháy nổ đạt gần 360 tỷ đồng (8,6%).

Bảo hiểm MB (MIC) duy trì danh mục đa trụ cột, với quy mô lớn ở bảo hiểm xe cơ giới, đạt 1.754 tỷ đồng (32%); phí bảo hiểm con người đạt 1.652,7 tỷ đồng (30,2%); đồng thời có quy mô đáng kể ở bảo hiểm tài sản, với 837 tỷ đồng (15,3%)...

"Chúng tôi phát triển các sản phẩm và giải pháp bảo hiểm hướng tới bảo vệ tài sản, con người và cộng đồng trước các rủi ro khí hậu, thiên tai, tai nạn và biến động xã hội" - lãnh đạo MIC nhấn mạnh.

Nhận định về những phân khúc bảo hiểm phi nhân thọ có khả năng tăng trưởng khả quan trong năm 2026, lãnh đạo Bảo hiểm DBV cho rằng, khi quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, nhu cầu quản trị rủi ro của doanh nghiệp và người dân cũng sẽ gia tăng. Theo đó, các mảng nổi bật gồm: bảo hiểm xe cơ giới, tài sản - kỹ thuật, bảo hiểm sức khỏe cùng các sản phẩm liên quan đến chuỗi cung ứng, logistics và hạ tầng.

Trong khi đó, lãnh đạo Bảo hiểm BSH kỳ vọng, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ sẽ chứng kiến “cú hích” rõ rệt năm nay, khi nền kinh tế duy trì đà tăng trưởng. Theo đó, bảo hiểm con người và phúc lợi sức khỏe tiếp tục nổi bật, bởi đây là phân khúc có “cầu thật” và tỷ trọng lớn, phản ánh ưu tiên của doanh nghiệp đối với năng suất và ổn định nhân sự.

Có sản phẩm "mồi" để dẫn khách

Dù bảo hiểm sức khỏe vẫn chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 30 - 40% toàn ngành, nhưng giữa các doanh nghiệp có sự khác biệt rõ rệt, có đơn vị chỉ duy trì 10 - 20% để tập trung vào nghiệp vụ khác, trong khi có doanh nghiệp đẩy tỷ trọng lên tới 66%.

Lý giải sự khác biệt này, theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Đào tạo bảo hiểm và quản trị rủi ro tài chính, trong thực tế, cơ cấu nghiệp vụ bảo hiểm phụ thuộc vào chiến lược và kênh bán hàng của mỗi doanh nghiệp.

Nhu cầu tăng cả lượng và chất, bảo hiểm con người dẫn dắt

Lãnh đạo Bảo hiểm BSH cho rằng, nhu cầu bảo vệ năm 2026 dự kiến dịch chuyển mạnh cả về lượng lẫn chất khi tổng tài sản và số tiền bảo hiểm tăng lên; đồng thời, khách hàng đòi hỏi phạm vi bảo hiểm rộng hơn, điều khoản minh bạch hơn và bồi thường nhanh hơn. Năm 2025, phí bảo hiểm phi nhân thọ ước tăng khoảng 10,1%, riêng nhóm bảo hiểm sức khỏe/tai nạn con người chiếm khoảng 36% cơ cấu doanh thu. Điều này cho thấy, thị trường vẫn ưu tiên các nghiệp vụ bám sát hoạt động sản xuất, kinh doanh và nhu cầu an sinh của lực lượng lao động.

Theo đó, nếu doanh nghiệp có hệ thống phân phối rộng và hợp tác tốt, đặc biệt với các ngân hàng hoặc hệ sinh thái lớn, thì sẽ khai thác mạnh mảng bán lẻ. Đơn cử, OPES tận dụng vào tệp khách hàng trong hệ sinh thái của VPBank để phát triển các sản phẩm bảo hiểm cá nhân như bảo hiểm xe ô tô, bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm sức khỏe. Ngược lại, những doanh nghiệp không có kênh bán lẻ mạnh thường tập trung vào mảng dự án.

Cũng theo vị chuyên gia này, kinh doanh bảo hiểm sức khỏe là nghiệp vụ lỗ tại nhiều doanh nghiệp, nhưng vẫn được duy trì như “sản phẩm dẫn”. Chẳng hạn, một nhà máy có 1.000 lao động, mỗi người đóng phí khoảng 2,5 triệu đồng, tổng phí bảo hiểm sức khỏe chỉ khoảng 2,5 tỷ đồng. Tuy nhiên, nhà máy đó có giá trị tài sản lên tới hàng trăm tỷ đồng; nếu mua bảo hiểm tài sản, thì doanh nghiệp bảo hiểm thu thêm vài tỷ đồng, trong khi rủi ro bồi thường lại thấp hơn.

Bên cạnh đó, bảo hiểm cháy nổ thường có biên lợi nhuận cao, do quy định nghiêm ngặt về phòng cháy, chữa cháy, nên doanh nghiệp bảo hiểm cũng giảm rủi ro.

"Dù mảng sức khỏe có thể bồi thường tới 130%, doanh nghiệp vẫn bù được nhờ lợi nhuận từ bảo hiểm tài sản" - ông Đán nêu rõ thực tế.

Về vấn đề này, một lãnh đạo doanh nghiệp phi nhân thọ từng giãi bày, trước đây, nhiều công ty bảo hiểm, đặc biệt là nhóm quy mô nhỏ, thường cạnh tranh bằng việc giảm phí, kể cả chấp nhận kinh doanh những mảng có biên lợi nhuận thấp. Cách làm này giống như “xây lâu đài trên cát”. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải tái cấu trúc để xây dựng lại nền móng thật sự vững chắc, dù việc triển khai sẽ tốn kém và tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Ông Đán chia sẻ, bảo hiểm xe cơ giới và tai nạn con người dễ biến động, thậm chí thua lỗ nếu không kiểm soát tốt. Mỗi doanh nghiệp bảo hiểm cần xây dựng chiến lược riêng, kết hợp các nghiệp vụ để cân bằng giữa tăng trưởng và lợi nhuận.

Theo đó, doanh nghiệp sẽ chấp nhận có những nghiệp vụ lỗ và sử dụng chúng như “sản phẩm dẫn” để tiếp cận, từ đó, khai thác các sản phẩm có biên lợi nhuận cao hơn./.

Nhận diện động lực tăng trưởng chính của thị trường bảo hiểm

Nhìn lại động lực đằng sau đà tăng các loại bảo hiểm năm vừa qua, có thể thấy, các nghiệp vụ bảo hiểm cá nhân vẫn tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của thị trường, đặc biệt là sự hồi phục mạnh mẽ của nghiệp vụ xe cơ giới, với tốc độ tăng trưởng hơn 12% theo số liệu của theo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam. Đây là mức tăng trưởng cao nhất của nghiệp vụ này kể từ năm 2019, nhờ sự phục hồi tích cực của thị trường xe Việt Nam khi tổng lượng xe bán ra của năm 2025 tăng đến hơn 22% so với năm 2024.

Các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, kỹ thuật vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng khá tốt, khoảng 11%. Việc áp dụng Nghị định số 105/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ từ tháng 7/2025 đã tạo tác động tích cực lên doanh thu nghiệp vụ tài sản trong năm 2025 và được kỳ vọng sẽ tạo những chuyển biến tốt hơn trong năm 2026.

Về tỷ trọng, cơ cấu doanh thu tiếp tục tập trung vào một số nghiệp vụ chủ lực. Trong đó, bảo hiểm con người chiếm tỷ trọng lớn nhất (36%), tiếp đến là tài sản và kỹ thuật (27%), xe cơ giới (23,8%). Ba mảng này chiếm tới gần 87% toàn thị trường. Các nghiệp vụ còn lại có quy mô nhỏ hơn, như: bảo hiểm tàu (4,3%), trách nhiệm (2,7%), hàng hóa (3,8%), hàng không (1,1%), bảo hiểm tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm bảo lãnh...

Theo đánh giá của lãnh đạo Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), việc ứng dụng công nghệ, phát triển các sản phẩm đổi mới sáng tạo và các mô hình bảo hiểm tích hợp được kỳ vọng sẽ là những động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng của thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,110 ▲100K 17,460 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 ▲100K 15,850 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,600 ▲100K 15,800 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▲100K 16,950 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▲100K 16,900 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▲100K 16,880 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 ▼100K 172,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,100 ▲100K 17,450 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 ▲100K 17,450 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 ▲100K 17,450 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 ▲100K 17,450 ▲150K
NL 99.90 15,670 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▲150K
Trang sức 99.9 16,640 ▲150K 17,340 ▲150K
Trang sức 99.99 16,650 ▲150K 17,350 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 171 ▲1K 17,452 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 171 ▲1K 17,453 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,708 ▲10K 1,743 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,708 ▲10K 1,744 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,688 ▲10K 1,728 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 ▲990K 171,089 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 ▲750K 129,763 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 ▲680K 117,666 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 ▲611K 105,569 ▲611K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 ▲583K 100,902 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 ▲417K 72,215 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 171 ▲1K 1,745 ▲10K
Cập nhật: 03/04/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17652 17925 18503
CAD 18383 18659 19274
CHF 32321 32704 33352
CNY 0 3470 3830
EUR 29744 30016 31047
GBP 34030 34420 35361
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14722 15310
SGD 19937 20220 20750
THB 721 784 838
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,864 29,888 31,127
JPY 160.48 160.77 169.46
GBP 34,213 34,306 35,285
AUD 17,863 17,928 18,497
CAD 18,561 18,621 19,186
CHF 32,556 32,657 33,419
SGD 20,059 20,121 20,791
CNY - 3,750 3,870
HKD 3,292 3,302 3,419
KRW 16.1 16.79 18.15
THB 769.68 779.19 829.89
NZD 14,726 14,863 15,206
SEK - 2,743 2,824
DKK - 3,997 4,112
NOK - 2,660 2,738
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,097.19 - 6,842.69
TWD 745.26 - 897.3
SAR - 6,894.82 7,218.2
KWD - 83,511 88,310
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26362
AUD 17844 17944 18872
CAD 18564 18664 19681
CHF 32569 32599 34189
CNY 3768.4 3793.4 3928.6
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29935 29965 31693
GBP 34337 34387 36150
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14839 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20100 20230 20965
THB 0 750.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,362
USD20 26,160 26,210 26,362
USD1 23,852 26,210 26,362
AUD 17,776 17,876 18,997
EUR 30,022 30,022 31,450
CAD 18,504 18,604 19,923
SGD 20,143 20,293 20,871
JPY 161.92 163.42 168.09
GBP 34,135 34,485 35,369
XAU 16,998,000 0 17,352,000
CNY 0 3,667 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/04/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80