Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
aa

PVI giữ ngôi đầu, DBV tăng tốc mạnh nhất nhóm top đầu

Đà tăng trưởng mạnh của Bảo hiểm DBV tiếp tục được duy trì trong quý I/2026 theo báo cáo tài chính mới công bố. Theo đó, DBV ghi nhận phí bảo hiểm gốc đạt 1.475 tỷ đồng, tăng mạnh 96% so với cùng kỳ, nối tiếp đà tăng trưởng 45% cả năm 2025. Song song với tăng trưởng kinh doanh, DBV cũng tăng tốc mở rộng mạng lưới hoạt động khi thành lập thêm 47 chi nhánh mới, trong đó có nhiều chi nhánh được chuyển giao, nâng tổng số lên 105 và trở thành doanh nghiệp sở hữu hệ thống chi nhánh lớn nhất thị trường.

Theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 16.140 tỷ đồng, tăng 9,88% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, DBV ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhất nhóm dẫn đầu, với doanh thu tăng 98,44%, qua đó nâng thị phần từ 4,74% lên 6,15% và vươn từ vị trí thứ 9 lên thứ 4 toàn thị trường trong 2 tháng đầu năm 2026.

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới
Nguồn: Tổng hợp từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong khi đó, VBI đạt doanh thu 829 tỷ đồng, tăng 33,78%, xếp thứ 5 về doanh thu phí bảo hiểm gốc dù thị phần giảm nhẹ.

Còn top 3 toàn thị trường không có sự xáo trộn, khi PVI tiếp tục dẫn đầu, nâng thị phần từ 16,9% lên 19,44% trong 2 tháng đầu năm 2026. Xếp sau là Bảo Việt với doanh thu 2.245 tỷ đồng, tăng 14,76%, chiếm 13,91% thị phần; còn Bảo Minh giữ vị trí thứ ba dù doanh thu giảm 3,9%, còn 8,26% thị phần.

Vị thế của PVI tiếp tục được củng cố sau một năm ghi nhận doanh thu vượt 1 tỷ USD và lợi nhuận trước thuế hơn 1.400 tỷ đồng - mức cao nhất lịch sử hoạt động. Theo đó, trong quý I/2026, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ hợp nhất của PVI đạt gần 8.200 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ và hoàn thành 28,4% kế hoạch năm.

Lợi thế giúp chiếm ưu thế tại các dự án lớn

Sở dĩ PVI luôn là lựa chọn ưu tiên của các nhà thầu, chủ đầu tư lớn và nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân hàng đầu tại Việt Nam, theo lãnh đạo Bảo hiểm PVI, đó là nhờ kinh nghiệm lâu năm, năng lực tài chính vững mạnh và uy tín quốc tế, với xếp hạng tín nhiệm A- (Xuất sắc) bởi AM Best, qua đó, tạo lợi thế lớn trong việc thu xếp bảo hiểm cho các dự án quy mô lớn.

Trong đó, phí bảo hiểm tiếp tục đóng vai trò chủ lực với 7.582,8 tỷ đồng, chiếm 92,5% tổng doanh thu; còn lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 714,3 tỷ đồng, tăng gần 69% so với cùng kỳ và hoàn thành 57% kế hoạch năm.

Chia sẻ gần đây, Tổng Giám đốc PVI Phạm Anh Đức bày tỏ, trong 5 năm gần đây, Bảo hiểm PVI luôn dẫn đầu thị trường cả về doanh thu lẫn hiệu quả hoạt động. Doanh nghiệp đặt mục tiêu tiếp tục duy trì vị thế này trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Trên thực tế, kể từ năm 2022 - thời điểm vượt Bảo hiểm Bảo Việt để dẫn đầu thị phần và doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ, PVI liên tục củng cố vị thế trên thị trường giữ khoảng cách đáng kể với nhóm phía sau. Đáng chú ý, chỉ riêng quý đầu năm, doanh thu phí bảo hiểm của PVI đã vượt tổng doanh thu cả năm doanh nghiệp đứng top 3 thị trường.

Chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, săn tìm cơ hội

Trong mùa Đại hội đồng cổ đông năm 2026, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm như: DBV, BIC, PTI... đều cho thấy xu hướng mở rộng nghiệp vụ và đẩy mạnh các mảng bảo hiểm ngoài truyền thống, đặc biệt là bảo hiểm công trình, kỹ thuật, nhằm đón đầu nhu cầu từ các dự án quy mô lớn sắp tới.

Trao đổi với phóng viên, đại diện Bảo hiểm DBV cho biết, trong cơ cấu doanh thu, bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng lớn nhất trên 60%, qua đó, giúp DBV duy trì vị thế dẫn đầu thị trường. Dù vậy, mảng này chịu áp lực bồi thường lớn, hiệu quả lợi nhuận không cao. Do đó, DBV định hướng duy trì mảng xe cơ giới; đồng thời, tập trung mở rộng các mảng có hiệu quả tốt hơn như: bảo hiểm cháy nổ, hay bảo hiểm tài sản cho nhà máy, công trình...

Trong báo cáo thường niên mới phát hành, DBV còn dự định mở rộng danh mục sản phẩm với các dòng bảo hiểm xe điện, xây dựng giỏ sản phẩm bán lẻ bảo hiểm sức khỏe cho kênh ngân hàng và các nền tảng công nghệ bảo hiểm (Insurtech); song song với đó là tập trung vào mảng bảo hiểm tài sản kỹ thuật cho các dự án lớn trong lĩnh vực năng lượng, giao thông và quốc phòng.

Bảo hiểm BIC cũng vừa thông qua chủ trương mở rộng sang các nghiệp vụ mới như bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm tử kỳ và dịch vụ phụ trợ. Theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, đây là bước đi chiến lược, hướng tới các mục tiêu trung dài hạn, giúp BIC đón đầu các xu hướng như: sự phát triển công nghiệp hàng không - vũ trụ; sự “lên ngôi” của các sản phẩm đơn giản, phí thấp, phân phối trên nền tảng số; hay việc tích hợp các dịch vụ phụ trợ, không ngừng gia tăng giá trị cho khách hàng.

“Trong ngắn hạn, BIC sẽ tập trung xây dựng nền tảng vững chắc để triển khai các lĩnh vực mới một cách bài bản và hiệu quả, đồng thời kỳ vọng các nghiệp vụ này sẽ nhanh chóng trở thành các cấu phần bổ trợ quan trọng giúp đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao năng lực cạnh tranh của BIC” - lãnh đạo BIC kỳ vọng.

Việc mở rộng hoạt động còn nhằm tạo điều kiện cho BIC tham gia các dự án lớn như: giàn khoan dầu khí, nhiệt điện hay thủy điện..., bởi doanh nghiệp chỉ có thể tham gia đấu thầu khi được cấp phép triển khai nghiệp vụ tương ứng và có hồ sơ năng lực phù hợp. Sau khi được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận chủ trương, mở rộng danh mục sản phẩm, tổng công ty sẽ xây dựng kế hoạch kinh doanh chi tiết, trình Bộ Tài chính phê duyệt trước khi chính thức triển khai.

Với PVI, các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, kỹ thuật và dự án tiếp tục là thế mạnh cốt lõi, đóng góp khoảng 60% doanh thu. Trong khi đó, các mảng bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người chiếm khoảng 40 - 45%. Hiện PVI tham gia hầu hết các dự án đầu tư lớn trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, từ đầu tư công, tư nhân đến vốn nước ngoài.

Trọng tâm của PVI là các dự án điện quy mô lớn, trong đó nổi bật có dự án điện hạt nhân, LNG... Bên cạnh lĩnh vực năng lượng, PVI cũng tập trung mạnh các dự án hạ tầng giao thông, đặc biệt các cao tốc và tuyến đường sắt trọng điểm như: dự án đường sắt đô thị kết nối trung tâm TP. Hồ Chí Minh đi Cần Giờ; đường sắt tốc độ cao Hà Nội - Quảng Ninh...

Nhiều nghiệp vụ bảo hiểm tăng thị phần

Cũng theo số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), ngoài các doanh nghiệp dẫn đầu, một số công ty ghi nhận tốc độ tăng trưởng đột biến như: Tasco với doanh thu 365 tỷ đồng, tăng 107,9% so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, một số doanh nghiệp ghi nhận doanh thu suy giảm mạnh như: BSH đạt 124 tỷ đồng, giảm 73,07%; VASS đạt 85 tỷ đồng, giảm 22,41%; SGI đạt 9 tỷ đồng, giảm 25,52%.

Xét theo cơ cấu nghiệp vụ, bảo hiểm sức khỏe tiếp tục dẫn đầu thị trường với doanh thu 6.316 tỷ đồng, chiếm 39,13% tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc. Trong khi đó, bảo hiểm xe cơ giới đạt 3.696 tỷ đồng, thu hẹp tỷ trọng xuống còn 22,9%. Ngược lại, nhiều nghiệp vụ khác gia tăng tỷ trọng đáng kể như bảo hiểm cháy nổ đạt 2.321 tỷ đồng, chiếm 14,38%, còn bảo hiểm tài sản đạt 1.468 tỷ đồng, tương ứng 9,1% tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc.

Ở chiều bồi thường, số tiền bồi thường bảo hiểm gốc toàn thị trường trong 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.198 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ bồi thường 32,21%, cao hơn cùng kỳ.

Thống kê của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, có 13 doanh nghiệp có tỷ lệ bồi thường cao hơn mức chung, trong đó BSH dẫn đầu với tỷ lệ bồi thường lên tới 152,67%, tiếp theo là Fubon 92,78% và UIC 66,44%.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80