"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
aa
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng" Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép" Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tỷ giá “nóng” đầu tuần, USD tự do từng chạm 28.000 đồng

Tỷ giá trung tâm ngày 27/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm 2 đồng, xuống còn 25.100 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại dao động 23.845 - 26.355 VND/USD. Cùng chiều, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng hạ về 23.895 - 26.305 VND/USD.

Tính chung tuần qua, tỷ giá USD/VND biến động theo nhịp tăng đầu tuần và hạ nhiệt về cuối tuần. Đáng chú ý, ngày 23/3, cả tỷ giá chính thức và thị trường tự do đồng loạt tăng, trong đó tỷ giá USD chợ đen lên quanh 28.000 đồng, cho thấy áp lực tỷ giá gia tăng. Cùng thời điểm, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh hút ròng trên 25 nghìn tỷ đồng phiên đầu tuần.

Diễn biến này nhanh chóng tác động lên thị trường tiền tệ khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt vượt 8% phiên ngày 24/3, buộc Ngân hàng Nhà nước phải đảo chiều điều hành, chào thầu tích cực trên kênh thị trường mở (OMO) để hạ nhiệt thanh khoản.

Cùng ngày, theo thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế (Ngân hàng MSB), Ngân hàng Nhà nước thông báo bán ngoại tệ kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng, nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tỷ giá bán kỳ hạn ngày 24/3 lên tới 26.850 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 23-27/3: "Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%. Ảnh minh họa.

Tỷ giá USD tự do tăng ròng rã 5 tuần

Kết tuần, tỷ giá USD tự do về quanh 27.920 - 27.970 VND/USD (mua vào - bán ra), dù mất mốc 28.000 VND/USD, song vẫn tăng khoảng 220 đồng so với tuần trước và tiếp đà tăng ròng rã 5 tuần. Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, trong đó, chiều mua vào tăng mạnh hơn.

Tại các ngân hàng thương mại, đơn cử như Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.105 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng lần lượt 36 đồng ở chiều mua và 16 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.145 - 26.355 VND/USD, tăng tương ứng 30 đồng và 20 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng trở lại trên ngưỡng 100 điểm, lên khoảng 100,7 điểm.

Đồng USD tăng giá khi nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng, trong bối cảnh các tín hiệu trái chiều liên quan đến đàm phán giữa Mỹ và Iran. Nhà đầu tư cũng gia tăng kỳ vọng lạm phát có thể tăng trở lại, kéo theo khả năng các ngân hàng trung ương, bao gồm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), duy trì hoặc tăng lãi suất trong những tháng tới. Nhờ đó, chỉ số USD đã tăng 2,5% theo tháng.

Theo dự báo của Ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng có thể nâng lãi suất vào ngày 11/6, tạm dừng trong tháng 7 và tiếp tục điều chỉnh vào tháng 9. Trong kịch bản “diều hâu”, ECB có thể hành động sớm hơn nếu giá năng lượng leo thang hoặc lạm phát bất ngờ tăng mạnh, thậm chí nâng lãi suất liên tiếp hoặc tăng tới 50 điểm cơ bản. Ngược lại, nếu căng thẳng Iran hạ nhiệt nhanh, ECB có thể hạn chế hoặc không cần tăng lãi suất.

Trong báo cáo tiền tệ tuần qua, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh xung đột Trung Đông đứng trước bước leo thang. Nhất là tỷ giá tự do có thể tiếp tục nhạy cảm hơn trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới còn duy trì ở mức cao và biến động giá vàng thế giới chưa ổn định trở lại.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, trong nước, giá vàng SJC bán ra giảm chậm hơn nhiều, qua đó, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới nới rộng lên 20 triệu đồng/lượng.

Có phiên lãi suất liên ngân hàng vọt lên 8%, nhà điều hành bơm mạnh hỗ trợ

Trong tuần qua, từ ngày 23 - 27/3, trên kênh OMO Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt. Ngay phiên đầu tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 25.906,67 tỷ đồng khi tỷ giá USD tự do nhích lên 28.000 đồng. Sang ngày 24/3, nhanh chóng đảo chiều, bơm ròng mạnh gần 25.981 tỷ đồng, với khối lượng phát hành tăng vọt lên 58.000 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản khi lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng cao.

Cầm lái linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Bơm ròng 1.624 tỷ đồng cả tuần, đảo chiều sau khi hút mạnh

Tính chung tuần qua, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 106.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 104.376 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 1.624 tỷ đồng qua kênh OMO, đảo chiều so với trạng thái hút ròng 81.476,77 tỷ đồng tuần trước.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh. Đầu tuần, lãi suất tăng vọt, có phiên lên tới 8,05%; kỳ hạn 1 tuần 8,66%; 2 tuần gần 8,92% ngày 24/3.

Đến ngày 26/3, lãi suất hạ nhiệt khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng qua OMO, lãi suất qua đêm giảm còn 4,53%; song vẫn cao hơn 0,33 điểm phần trăm cuối tuần trước.

Lãi suất các kỳ hạn khác vẫn cao. Theo đó, lãi suất 1 tuần 6,58%; tăng mạnh 1,57%; 2 tuần lên 8,11%, tăng 1,14 điểm phần trăm; lãi suất 1 tháng là 7,15%; lãi suất 3 tháng là 7,96%.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, thanh khoản hệ thống duy trì trạng thái ổn định, nhưng áp lực vốn ngắn hạn đã tăng trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh và quy mô OMO lưu hành giảm sâu, về quanh mức đầu tháng 11/2025.

Ngoài ra, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện.

Cũng theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, xu hướng tăng lãi suất đang dần thể hiện rõ nét, đặc biệt ở kỳ hạn dài và tại khối ngân hàng tư nhân. Trong tuần trước, lãi suất 12 tháng đã tăng mạnh tại một số ngân hàng tư nhân, gồm VPBank (tăng 0,1 điểm phần trăm), MB (tăng 0,6 điểm phần trăm) và TPBank (tăng 0,7 điểm phần trăm).

Đó là chưa tính đến các ngân hàng "big 4" gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm kỳ hạn dài 12 - 24 tháng sau 3 tháng "án binh bất động"./.

Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 3 tháng neo cao, thêm áp lực từ xu hướng thắt chặt toàn cầu

"Chúng tôi cho rằng, lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn nhiều khả năng duy trì xu hướng ổn định, dù có thể sẽ chịu áp lực khi ngày cuối quý sắp đến gần. Trong khi, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao. Bên cạnh đó, sự thận trọng về chính sách tiền tệ đang lan rộng trên toàn cầu trong tuần qua, sau khi một loạt các cuộc họp của ngân hàng trung ương các nước trong tuần trước cho thấy xu hướng nới lỏng có khả năng đảo chiều, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước" - Chứng khoán Yuanta đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80