"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
aa
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng" Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép" Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tỷ giá “nóng” đầu tuần, USD tự do từng chạm 28.000 đồng

Tỷ giá trung tâm ngày 27/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm 2 đồng, xuống còn 25.100 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại dao động 23.845 - 26.355 VND/USD. Cùng chiều, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng hạ về 23.895 - 26.305 VND/USD.

Tính chung tuần qua, tỷ giá USD/VND biến động theo nhịp tăng đầu tuần và hạ nhiệt về cuối tuần. Đáng chú ý, ngày 23/3, cả tỷ giá chính thức và thị trường tự do đồng loạt tăng, trong đó tỷ giá USD chợ đen lên quanh 28.000 đồng, cho thấy áp lực tỷ giá gia tăng. Cùng thời điểm, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh hút ròng trên 25 nghìn tỷ đồng phiên đầu tuần.

Diễn biến này nhanh chóng tác động lên thị trường tiền tệ khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt vượt 8% phiên ngày 24/3, buộc Ngân hàng Nhà nước phải đảo chiều điều hành, chào thầu tích cực trên kênh thị trường mở (OMO) để hạ nhiệt thanh khoản.

Cùng ngày, theo thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế (Ngân hàng MSB), Ngân hàng Nhà nước thông báo bán ngoại tệ kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng, nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tỷ giá bán kỳ hạn ngày 24/3 lên tới 26.850 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 23-27/3: "Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%. Ảnh minh họa.

Tỷ giá USD tự do tăng ròng rã 5 tuần

Kết tuần, tỷ giá USD tự do về quanh 27.920 - 27.970 VND/USD (mua vào - bán ra), dù mất mốc 28.000 VND/USD, song vẫn tăng khoảng 220 đồng so với tuần trước và tiếp đà tăng ròng rã 5 tuần. Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, trong đó, chiều mua vào tăng mạnh hơn.

Tại các ngân hàng thương mại, đơn cử như Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.105 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng lần lượt 36 đồng ở chiều mua và 16 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.145 - 26.355 VND/USD, tăng tương ứng 30 đồng và 20 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng trở lại trên ngưỡng 100 điểm, lên khoảng 100,7 điểm.

Đồng USD tăng giá khi nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng, trong bối cảnh các tín hiệu trái chiều liên quan đến đàm phán giữa Mỹ và Iran. Nhà đầu tư cũng gia tăng kỳ vọng lạm phát có thể tăng trở lại, kéo theo khả năng các ngân hàng trung ương, bao gồm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), duy trì hoặc tăng lãi suất trong những tháng tới. Nhờ đó, chỉ số USD đã tăng 2,5% theo tháng.

Theo dự báo của Ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng có thể nâng lãi suất vào ngày 11/6, tạm dừng trong tháng 7 và tiếp tục điều chỉnh vào tháng 9. Trong kịch bản “diều hâu”, ECB có thể hành động sớm hơn nếu giá năng lượng leo thang hoặc lạm phát bất ngờ tăng mạnh, thậm chí nâng lãi suất liên tiếp hoặc tăng tới 50 điểm cơ bản. Ngược lại, nếu căng thẳng Iran hạ nhiệt nhanh, ECB có thể hạn chế hoặc không cần tăng lãi suất.

Trong báo cáo tiền tệ tuần qua, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh xung đột Trung Đông đứng trước bước leo thang. Nhất là tỷ giá tự do có thể tiếp tục nhạy cảm hơn trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới còn duy trì ở mức cao và biến động giá vàng thế giới chưa ổn định trở lại.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, trong nước, giá vàng SJC bán ra giảm chậm hơn nhiều, qua đó, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới nới rộng lên 20 triệu đồng/lượng.

Có phiên lãi suất liên ngân hàng vọt lên 8%, nhà điều hành bơm mạnh hỗ trợ

Trong tuần qua, từ ngày 23 - 27/3, trên kênh OMO Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt. Ngay phiên đầu tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 25.906,67 tỷ đồng khi tỷ giá USD tự do nhích lên 28.000 đồng. Sang ngày 24/3, nhanh chóng đảo chiều, bơm ròng mạnh gần 25.981 tỷ đồng, với khối lượng phát hành tăng vọt lên 58.000 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản khi lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng cao.

Cầm lái linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Bơm ròng 1.624 tỷ đồng cả tuần, đảo chiều sau khi hút mạnh

Tính chung tuần qua, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 106.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 104.376 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 1.624 tỷ đồng qua kênh OMO, đảo chiều so với trạng thái hút ròng 81.476,77 tỷ đồng tuần trước.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh. Đầu tuần, lãi suất tăng vọt, có phiên lên tới 8,05%; kỳ hạn 1 tuần 8,66%; 2 tuần gần 8,92% ngày 24/3.

Đến ngày 26/3, lãi suất hạ nhiệt khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng qua OMO, lãi suất qua đêm giảm còn 4,53%; song vẫn cao hơn 0,33 điểm phần trăm cuối tuần trước.

Lãi suất các kỳ hạn khác vẫn cao. Theo đó, lãi suất 1 tuần 6,58%; tăng mạnh 1,57%; 2 tuần lên 8,11%, tăng 1,14 điểm phần trăm; lãi suất 1 tháng là 7,15%; lãi suất 3 tháng là 7,96%.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, thanh khoản hệ thống duy trì trạng thái ổn định, nhưng áp lực vốn ngắn hạn đã tăng trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh và quy mô OMO lưu hành giảm sâu, về quanh mức đầu tháng 11/2025.

Ngoài ra, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện.

Cũng theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, xu hướng tăng lãi suất đang dần thể hiện rõ nét, đặc biệt ở kỳ hạn dài và tại khối ngân hàng tư nhân. Trong tuần trước, lãi suất 12 tháng đã tăng mạnh tại một số ngân hàng tư nhân, gồm VPBank (tăng 0,1 điểm phần trăm), MB (tăng 0,6 điểm phần trăm) và TPBank (tăng 0,7 điểm phần trăm).

Đó là chưa tính đến các ngân hàng "big 4" gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm kỳ hạn dài 12 - 24 tháng sau 3 tháng "án binh bất động"./.

Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 3 tháng neo cao, thêm áp lực từ xu hướng thắt chặt toàn cầu

"Chúng tôi cho rằng, lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn nhiều khả năng duy trì xu hướng ổn định, dù có thể sẽ chịu áp lực khi ngày cuối quý sắp đến gần. Trong khi, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao. Bên cạnh đó, sự thận trọng về chính sách tiền tệ đang lan rộng trên toàn cầu trong tuần qua, sau khi một loạt các cuộc họp của ngân hàng trung ương các nước trong tuần trước cho thấy xu hướng nới lỏng có khả năng đảo chiều, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước" - Chứng khoán Yuanta đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80