"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
aa
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng" Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép" Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tỷ giá “nóng” đầu tuần, USD tự do từng chạm 28.000 đồng

Tỷ giá trung tâm ngày 27/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm 2 đồng, xuống còn 25.100 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại dao động 23.845 - 26.355 VND/USD. Cùng chiều, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng hạ về 23.895 - 26.305 VND/USD.

Tính chung tuần qua, tỷ giá USD/VND biến động theo nhịp tăng đầu tuần và hạ nhiệt về cuối tuần. Đáng chú ý, ngày 23/3, cả tỷ giá chính thức và thị trường tự do đồng loạt tăng, trong đó tỷ giá USD chợ đen lên quanh 28.000 đồng, cho thấy áp lực tỷ giá gia tăng. Cùng thời điểm, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh hút ròng trên 25 nghìn tỷ đồng phiên đầu tuần.

Diễn biến này nhanh chóng tác động lên thị trường tiền tệ khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt vượt 8% phiên ngày 24/3, buộc Ngân hàng Nhà nước phải đảo chiều điều hành, chào thầu tích cực trên kênh thị trường mở (OMO) để hạ nhiệt thanh khoản.

Cùng ngày, theo thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế (Ngân hàng MSB), Ngân hàng Nhà nước thông báo bán ngoại tệ kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng, nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tỷ giá bán kỳ hạn ngày 24/3 lên tới 26.850 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 23-27/3: "Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%. Ảnh minh họa.

Tỷ giá USD tự do tăng ròng rã 5 tuần

Kết tuần, tỷ giá USD tự do về quanh 27.920 - 27.970 VND/USD (mua vào - bán ra), dù mất mốc 28.000 VND/USD, song vẫn tăng khoảng 220 đồng so với tuần trước và tiếp đà tăng ròng rã 5 tuần. Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, trong đó, chiều mua vào tăng mạnh hơn.

Tại các ngân hàng thương mại, đơn cử như Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.105 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng lần lượt 36 đồng ở chiều mua và 16 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.145 - 26.355 VND/USD, tăng tương ứng 30 đồng và 20 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng trở lại trên ngưỡng 100 điểm, lên khoảng 100,7 điểm.

Đồng USD tăng giá khi nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng, trong bối cảnh các tín hiệu trái chiều liên quan đến đàm phán giữa Mỹ và Iran. Nhà đầu tư cũng gia tăng kỳ vọng lạm phát có thể tăng trở lại, kéo theo khả năng các ngân hàng trung ương, bao gồm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), duy trì hoặc tăng lãi suất trong những tháng tới. Nhờ đó, chỉ số USD đã tăng 2,5% theo tháng.

Theo dự báo của Ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng có thể nâng lãi suất vào ngày 11/6, tạm dừng trong tháng 7 và tiếp tục điều chỉnh vào tháng 9. Trong kịch bản “diều hâu”, ECB có thể hành động sớm hơn nếu giá năng lượng leo thang hoặc lạm phát bất ngờ tăng mạnh, thậm chí nâng lãi suất liên tiếp hoặc tăng tới 50 điểm cơ bản. Ngược lại, nếu căng thẳng Iran hạ nhiệt nhanh, ECB có thể hạn chế hoặc không cần tăng lãi suất.

Trong báo cáo tiền tệ tuần qua, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh xung đột Trung Đông đứng trước bước leo thang. Nhất là tỷ giá tự do có thể tiếp tục nhạy cảm hơn trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới còn duy trì ở mức cao và biến động giá vàng thế giới chưa ổn định trở lại.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, trong nước, giá vàng SJC bán ra giảm chậm hơn nhiều, qua đó, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới nới rộng lên 20 triệu đồng/lượng.

Có phiên lãi suất liên ngân hàng vọt lên 8%, nhà điều hành bơm mạnh hỗ trợ

Trong tuần qua, từ ngày 23 - 27/3, trên kênh OMO Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt. Ngay phiên đầu tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 25.906,67 tỷ đồng khi tỷ giá USD tự do nhích lên 28.000 đồng. Sang ngày 24/3, nhanh chóng đảo chiều, bơm ròng mạnh gần 25.981 tỷ đồng, với khối lượng phát hành tăng vọt lên 58.000 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản khi lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng cao.

Cầm lái linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Bơm ròng 1.624 tỷ đồng cả tuần, đảo chiều sau khi hút mạnh

Tính chung tuần qua, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 106.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 104.376 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 1.624 tỷ đồng qua kênh OMO, đảo chiều so với trạng thái hút ròng 81.476,77 tỷ đồng tuần trước.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh. Đầu tuần, lãi suất tăng vọt, có phiên lên tới 8,05%; kỳ hạn 1 tuần 8,66%; 2 tuần gần 8,92% ngày 24/3.

Đến ngày 26/3, lãi suất hạ nhiệt khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng qua OMO, lãi suất qua đêm giảm còn 4,53%; song vẫn cao hơn 0,33 điểm phần trăm cuối tuần trước.

Lãi suất các kỳ hạn khác vẫn cao. Theo đó, lãi suất 1 tuần 6,58%; tăng mạnh 1,57%; 2 tuần lên 8,11%, tăng 1,14 điểm phần trăm; lãi suất 1 tháng là 7,15%; lãi suất 3 tháng là 7,96%.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, thanh khoản hệ thống duy trì trạng thái ổn định, nhưng áp lực vốn ngắn hạn đã tăng trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh và quy mô OMO lưu hành giảm sâu, về quanh mức đầu tháng 11/2025.

Ngoài ra, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện.

Cũng theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, xu hướng tăng lãi suất đang dần thể hiện rõ nét, đặc biệt ở kỳ hạn dài và tại khối ngân hàng tư nhân. Trong tuần trước, lãi suất 12 tháng đã tăng mạnh tại một số ngân hàng tư nhân, gồm VPBank (tăng 0,1 điểm phần trăm), MB (tăng 0,6 điểm phần trăm) và TPBank (tăng 0,7 điểm phần trăm).

Đó là chưa tính đến các ngân hàng "big 4" gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm kỳ hạn dài 12 - 24 tháng sau 3 tháng "án binh bất động"./.

Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 3 tháng neo cao, thêm áp lực từ xu hướng thắt chặt toàn cầu

"Chúng tôi cho rằng, lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn nhiều khả năng duy trì xu hướng ổn định, dù có thể sẽ chịu áp lực khi ngày cuối quý sắp đến gần. Trong khi, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao. Bên cạnh đó, sự thận trọng về chính sách tiền tệ đang lan rộng trên toàn cầu trong tuần qua, sau khi một loạt các cuộc họp của ngân hàng trung ương các nước trong tuần trước cho thấy xu hướng nới lỏng có khả năng đảo chiều, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước" - Chứng khoán Yuanta đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Kim TT/AVPL 16,980 ▲110K 17,280 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 16,100
Nguyên Liệu 99.9 15,850 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 ▲100K 17,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 ▲100K 17,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 ▲100K 17,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 ▲1200K 172,800 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 ▲120K 17,280 ▲120K
NL 99.90 15,820 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▲50K
Trang sức 99.9 16,470 ▲120K 17,170 ▲120K
Trang sức 99.99 16,480 ▲120K 17,180 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 ▲12K 17,282 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 ▲12K 17,283 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 ▲12K 1,726 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 ▲12K 1,727 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 ▲12K 1,711 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 ▲1188K 169,406 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 ▲900K 128,488 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 ▼96033K 11,651 ▼104043K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 ▲732K 104,531 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 ▲699K 99,911 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 ▲501K 71,506 ▲501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 ▲12K 1,728 ▲12K
Cập nhật: 28/03/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/03/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80