"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
aa
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng" Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép" Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tỷ giá “nóng” đầu tuần, USD tự do từng chạm 28.000 đồng

Tỷ giá trung tâm ngày 27/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh giảm 2 đồng, xuống còn 25.100 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại dao động 23.845 - 26.355 VND/USD. Cùng chiều, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng hạ về 23.895 - 26.305 VND/USD.

Tính chung tuần qua, tỷ giá USD/VND biến động theo nhịp tăng đầu tuần và hạ nhiệt về cuối tuần. Đáng chú ý, ngày 23/3, cả tỷ giá chính thức và thị trường tự do đồng loạt tăng, trong đó tỷ giá USD chợ đen lên quanh 28.000 đồng, cho thấy áp lực tỷ giá gia tăng. Cùng thời điểm, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh hút ròng trên 25 nghìn tỷ đồng phiên đầu tuần.

Diễn biến này nhanh chóng tác động lên thị trường tiền tệ khi lãi suất liên ngân hàng tăng vọt vượt 8% phiên ngày 24/3, buộc Ngân hàng Nhà nước phải đảo chiều điều hành, chào thầu tích cực trên kênh thị trường mở (OMO) để hạ nhiệt thanh khoản.

Cùng ngày, theo thông tin từ Trung tâm Nghiên cứu kinh tế (Ngân hàng MSB), Ngân hàng Nhà nước thông báo bán ngoại tệ kỳ hạn 180 ngày có hủy ngang cho các tổ chức tín dụng, nhằm hạ nhiệt tỷ giá. Tỷ giá bán kỳ hạn ngày 24/3 lên tới 26.850 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 23-27/3: "Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%. Ảnh minh họa.

Tỷ giá USD tự do tăng ròng rã 5 tuần

Kết tuần, tỷ giá USD tự do về quanh 27.920 - 27.970 VND/USD (mua vào - bán ra), dù mất mốc 28.000 VND/USD, song vẫn tăng khoảng 220 đồng so với tuần trước và tiếp đà tăng ròng rã 5 tuần. Trong tuần qua, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại ghi nhận xu hướng tăng nhẹ, trong đó, chiều mua vào tăng mạnh hơn.

Tại các ngân hàng thương mại, đơn cử như Vietcombank, tỷ giá USD ở mức 26.105 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra), tăng lần lượt 36 đồng ở chiều mua và 16 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.145 - 26.355 VND/USD, tăng tương ứng 30 đồng và 20 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng trở lại trên ngưỡng 100 điểm, lên khoảng 100,7 điểm.

Đồng USD tăng giá khi nhu cầu trú ẩn an toàn gia tăng, trong bối cảnh các tín hiệu trái chiều liên quan đến đàm phán giữa Mỹ và Iran. Nhà đầu tư cũng gia tăng kỳ vọng lạm phát có thể tăng trở lại, kéo theo khả năng các ngân hàng trung ương, bao gồm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), duy trì hoặc tăng lãi suất trong những tháng tới. Nhờ đó, chỉ số USD đã tăng 2,5% theo tháng.

Theo dự báo của Ngân hàng UBS (Thụy Sỹ), Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cũng có thể nâng lãi suất vào ngày 11/6, tạm dừng trong tháng 7 và tiếp tục điều chỉnh vào tháng 9. Trong kịch bản “diều hâu”, ECB có thể hành động sớm hơn nếu giá năng lượng leo thang hoặc lạm phát bất ngờ tăng mạnh, thậm chí nâng lãi suất liên tiếp hoặc tăng tới 50 điểm cơ bản. Ngược lại, nếu căng thẳng Iran hạ nhiệt nhanh, ECB có thể hạn chế hoặc không cần tăng lãi suất.

Trong báo cáo tiền tệ tuần qua, Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, tỷ giá USD/VND sẽ còn chịu áp lực trong bối cảnh xung đột Trung Đông đứng trước bước leo thang. Nhất là tỷ giá tự do có thể tiếp tục nhạy cảm hơn trong bối cảnh chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới còn duy trì ở mức cao và biến động giá vàng thế giới chưa ổn định trở lại.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, trong nước, giá vàng SJC bán ra giảm chậm hơn nhiều, qua đó, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới nới rộng lên 20 triệu đồng/lượng.

Có phiên lãi suất liên ngân hàng vọt lên 8%, nhà điều hành bơm mạnh hỗ trợ

Trong tuần qua, từ ngày 23 - 27/3, trên kênh OMO Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt. Ngay phiên đầu tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 25.906,67 tỷ đồng khi tỷ giá USD tự do nhích lên 28.000 đồng. Sang ngày 24/3, nhanh chóng đảo chiều, bơm ròng mạnh gần 25.981 tỷ đồng, với khối lượng phát hành tăng vọt lên 58.000 tỷ đồng, nhằm hỗ trợ thanh khoản khi lãi suất liên ngân hàng có dấu hiệu tăng cao.

Cầm lái linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

Bơm ròng 1.624 tỷ đồng cả tuần, đảo chiều sau khi hút mạnh

Tính chung tuần qua, tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO lên tới 106.000 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn thấp hơn, khoảng 104.376 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ 1.624 tỷ đồng qua kênh OMO, đảo chiều so với trạng thái hút ròng 81.476,77 tỷ đồng tuần trước.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh. Đầu tuần, lãi suất tăng vọt, có phiên lên tới 8,05%; kỳ hạn 1 tuần 8,66%; 2 tuần gần 8,92% ngày 24/3.

Đến ngày 26/3, lãi suất hạ nhiệt khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng qua OMO, lãi suất qua đêm giảm còn 4,53%; song vẫn cao hơn 0,33 điểm phần trăm cuối tuần trước.

Lãi suất các kỳ hạn khác vẫn cao. Theo đó, lãi suất 1 tuần 6,58%; tăng mạnh 1,57%; 2 tuần lên 8,11%, tăng 1,14 điểm phần trăm; lãi suất 1 tháng là 7,15%; lãi suất 3 tháng là 7,96%.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, thanh khoản hệ thống duy trì trạng thái ổn định, nhưng áp lực vốn ngắn hạn đã tăng trở lại khi Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh và quy mô OMO lưu hành giảm sâu, về quanh mức đầu tháng 11/2025.

Ngoài ra, lãi suất huy động trên thị trường 1 có xu hướng tăng mạnh hơn trong tuần vừa qua, trong khi lãi suất tiền gửi online cho kỳ hạn 12 tháng cao nhất khoảng 7,2% thì lãi suất tiền gửi tại quầy có thể lên mức 8 - 9%, tùy điều kiện.

Cũng theo quan sát của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, xu hướng tăng lãi suất đang dần thể hiện rõ nét, đặc biệt ở kỳ hạn dài và tại khối ngân hàng tư nhân. Trong tuần trước, lãi suất 12 tháng đã tăng mạnh tại một số ngân hàng tư nhân, gồm VPBank (tăng 0,1 điểm phần trăm), MB (tăng 0,6 điểm phần trăm) và TPBank (tăng 0,7 điểm phần trăm).

Đó là chưa tính đến các ngân hàng "big 4" gồm: Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm kỳ hạn dài 12 - 24 tháng sau 3 tháng "án binh bất động"./.

Lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 3 tháng neo cao, thêm áp lực từ xu hướng thắt chặt toàn cầu

"Chúng tôi cho rằng, lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn ngắn nhiều khả năng duy trì xu hướng ổn định, dù có thể sẽ chịu áp lực khi ngày cuối quý sắp đến gần. Trong khi, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng vẫn cao. Bên cạnh đó, sự thận trọng về chính sách tiền tệ đang lan rộng trên toàn cầu trong tuần qua, sau khi một loạt các cuộc họp của ngân hàng trung ương các nước trong tuần trước cho thấy xu hướng nới lỏng có khả năng đảo chiều, qua đó, có thể tạo áp lực lên lãi suất và tỷ giá trong nước" - Chứng khoán Yuanta đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80