Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm Tuần từ 16 - 22/3: Một loạt ngân hàng trung ương sẽ quyết định lãi suất sau đợt tăng giá năng lượng Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tiếp đà hút ròng, lãi suất liên ngân hàng “lặng” quanh 4 - 5%

Trong tuần qua từ ngày 16/3 đến ngày 20/3, kênh thị trường mở (OMO) tiếp tục ghi nhận trạng thái hút ròng mạnh, phản ánh định hướng điều tiết thanh khoản theo hướng thận trọng của Ngân hàng Nhà nước.

Tính chung khối lượng trúng thầu chỉ đạt 14.979 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày; 28 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 99.314,71 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 84.335,95 tỷ đồng trong tuần, tiếp đà hút ròng trên 81 nghìn tỷ đồng tuần trước.

Xét trong 4 tuần liên tiếp, lượng hút ròng lên tới 239.849,39 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy nhà điều hành chủ động rút bớt thanh khoản dư thừa sau giai đoạn trước đó bơm mạnh; đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh nhu cầu ngoại tệ gia tăng. Đáng chú ý, quy mô lưu hành trên kênh OMO hiện còn khoảng 243.046,94 tỷ đồng, đã giảm mạnh so với mức đỉnh trên 480 nghìn tỷ đồng trước đó, tương đương gần một nửa.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trên các kỳ hạn ngắn.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng lên 4,6%, tương đương tăng 0,36 điểm phần trăm. Doanh số cho vay qua đêm cũng ổn định dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh hơn lên 5,64% (tăng 0,57 điểm phần trăm).

Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lên 7,15%, tương ứng tăng tới 1,55 điểm phần trăm, cho thấy áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt ở các kỳ hạn dài.

Nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, lãi suất liên ngân hàng giảm trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước vẫn hút ròng mạnh cho thấy thanh khoản hệ thống đã cải thiện đáng kể.

"Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục duy trì xu hướng ổn định nhất là ở các kỳ hạn ngắn, khi Ngân hàng Nhà nước đã đưa quy mô OMO lưu hành xuống thấp hơn đáng kể và áp lực thanh khoản ngắn hạn không còn quá lớn. Tuy nhiên, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng chưa giảm rõ rệt" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn
Nguồn: Techcombank.

Theo đánh giá của Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính thuộc Nhóm ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính của Techcombank, thặng dư ngân sách duy trì ở mức rất cao, kết hợp với yếu tố mùa vụ rút tiền trước Tết Nguyên đán đã khiến thanh khoản VND trong hệ thống rơi vào trạng thái thiếu hụt tạm thời. Diễn biến này đẩy lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng vọt lên trên 10%.

Cùng lúc đó, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng đến ngày 26/2 đạt 1,4%, cao hơn đáng kể so với mức tăng huy động.

Qua đó, gia tăng thêm áp lực lên thanh khoản hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã và đang hỗ trợ thanh khoản tương đối hiệu quả thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ OMO và các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), giúp hạn chế nguy cơ căng thẳng thanh khoản kéo dài.

Trì hoãn kỳ vọng giảm lãi suất, tỷ giá USD tăng liền ba tuần

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận tuần tăng thứ 3 liên tiếp. Theo đó, tỷ giá trung tâm ngày 20/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng 13 đồng, lên 25.085 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện dao động trong khoảng 23.831 - 26.339 VND/USD.

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng". Ảnh tư liệu.

Như vậy, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 20 đồng so với đầu tuần, với các nhịp điều chỉnh chủ yếu mang hướng tăng. Tại các ngân hàng, tỷ giá USD cũng nhích lên tương ứng. Với USD, tỷ giá tại Vietcombank chốt tuần ở mức 26.099 - 26.339 VND/USD, cùng tăng 21 đồng so với cuối tuần trước; trong khi tại BIDV ở mức 26.115 - 26.335 VND/USD, cũng tăng tương ứng 21 đồng.

Tỷ giá USD tự do sát 28.000 VND/USD

Đáng chú ý, thị trường tự do ghi nhận mức biến động mạnh hơn rõ rệt, với tỷ giá USD giao dịch quanh 27.700 - 27.750 VND/USD, sát đỉnh từng thiết lập giữa tháng 11/2025, tương đương tăng tới 560 đồng trong tuần. Diễn biến này cho thấy yếu tố tâm lý và nhu cầu nắm giữ ngoại tệ trong dân cư có xu hướng gia tăng, tạo độ lệch đáng kể so với thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, đồng USD quay đầu giảm sau phiên tăng mạnh trước đó, khi nhà đầu tư chuyển sang đánh giá lại tác động từ xung đột Trung Đông và tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương lớn. Theo đó, chỉ số DXY hiện giao dịch ở mức 99,4 điểm; mất mốc 100 điểm khi chinh phục vào đầu tuần.

Trước đó, đồng bạc xanh được hỗ trợ mạnh với vai trò tài sản trú ẩn an toàn, đặc biệt kể từ khi căng thẳng leo thang liên quan đến Mỹ, Israel và Iran vào cuối tháng 2/2026.

Đồng thời, kỳ vọng lãi suất cao duy trì lâu hơn gia tăng do lo ngại cú sốc lạm phát từ giá dầu tăng mạnh. Tuy nhiên, diễn biến mới cho thấy, các ngân hàng trung ương lớn đồng loạt giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh phải cân nhắc giữa áp lực lạm phát và rủi ro suy giảm tăng trưởng.

Theo ông Steve Englander - Trưởng bộ phận nghiên cứu ngoại hối G10 toàn cầu tại Standard Chartered, các ngân hàng trung ương hiện đang đánh giá tác động của lạm phát và tăng trưởng, cũng như mức độ tin cậy trong định hướng chính sách.

Đối với các ngoại tệ khác, EUR ghi nhận đà tăng rõ nét hơn, với tỷ giá tại Vietcombank đạt 29.957,64 - 31.221,64 VND/EUR, tăng mạnh lần lượt 267,5 và 281,5 đồng; tại BIDV ở mức 29.919 - 31.155 VND/EUR, tăng 295 - 305 đồng. Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ tăng mạnh nhất trong nhóm, với Vietcombank niêm yết 34.736,16 - 35.848,59 VND/GBP, tăng 328,2 - 342,1 đồng; BIDV ở mức 34.718 - 35.699 VND/GBP, tăng 335 - 353 đồng.

Theo đánh giá của Bộ phận phân tích của Techcombank, tỷ giá đang chịu áp lực tăng khi thặng dư thương mại thu hẹp, đồng USD mạnh lên và rủi ro địa chính trị tiếp tục leo thang.

"Áp lực tăng tỷ giá chủ yếu đến từ nhu cầu USD phục vụ thanh toán nhập khẩu gia tăng, trong bối cảnh Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại khoảng 3 tỷ USD. Bên cạnh đó, chỉ số DXY tăng khoảng 1% do bất ổn địa chính trị và tâm lý thị trường trở nên thận trọng hơn khi rủi ro toàn cầu gia tăng, qua đó tiếp tục gây sức ép lên tỷ giá" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Tỷ giá USD/VND có thể tăng khoảng 4% khi bất lợi gia tăng

Trước bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang, nhóm phân tích Techcombank điều chỉnh tăng dự báo mức mất giá trung bình của VND/USD lên 2,5% cho cả năm trong kịch bản A (cơ sở). Điều chỉnh này được củng cố bởi ba yếu tố chính. Thứ nhất, lạm phát Mỹ duy trì ở mức cao do giá năng lượng tăng, có thể khiến Fed trì hoãn hoặc giảm tốc cắt giảm lãi suất, qua đó hỗ trợ USD và chỉ số DXY. Thứ hai, thặng dư thương mại thu hẹp gây áp lực lên cán cân thanh toán khi chi phí nhập khẩu tăng, trong khi xuất khẩu đối mặt rủi ro suy yếu từ cầu bên ngoài. Thứ ba, căng thẳng địa chính trị có thể làm chậm dòng vốn FDI, FII và gia tăng xu hướng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

Trong kịch bản B (căng thẳng), khi các rủi ro bất lợi gia tăng mạnh hơn, tỷ giá USD/VND có thể chịu áp lực lớn hơn và tăng khoảng 4%, dù xác suất xảy ra kịch bản này hiện vẫn được đánh giá là thấp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/8): USD ngân hàng bán ra cách xa trần 300 đồng, DXY hồi nhẹ trước dữ liệu việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (7/8): USD ngân hàng bán ra cách xa trần 300 đồng, DXY hồi nhẹ trước dữ liệu việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 7/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 30 đồng lên 25.463 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng lớn thấp xa tỷ giá trần hơn 300 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,28% lên 99,65 điểm, nhà đầu tư đang chờ báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 7, yếu tố được kỳ vọng sẽ định hướng chính sách lãi suất của Fed trong thời gian tới.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng thêm 25 đồng, lên 25.405 đồng/USD, tiếp tục lập mức cao mới, trong khi giá bán USD tại các ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần trên 200 đồng. Chỉ số DXY nhích 0,03% lên 99,88 điểm khi nhà đầu tư theo dõi triển vọng đàm phán Mỹ - Iran và chờ báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.
Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

(TBTCO) - Sáng 4/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 22 đồng lên 25.380, trong khi tỷ giá USD thị trường tự do giảm mạnh, giá bán USD các ngân hàng thấp xa tỷ giá trần khoảng 180 đồng. Chỉ số DXY hồi nhẹ lên 99,97 điểm, đồng yên mạnh lên khi Nhật Bản được cho là chi thêm 34 tỷ USD can thiệp thị trường ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 3/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.358 đồng, tăng 20 đồng so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,24% xuống 99,66 điểm, khi đồng USD lùi về mức thấp nhất trong 6 tuần. Thị trường đang hướng sự chú ý tới báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7.
Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

(TBTCO) - Sáng 1/8, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.338 đồng/USD, lập đỉnh lịch sử và đánh dấu tuần tăng thứ 12 liên tiếp; trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do đồng loạt giảm. Tuần qua, cả 3 ngân hàng trung ương cùng giữ nguyên lãi suất, trong khi Nhật Bản được ước tính đã can thiệp khoảng 53 tỷ USD để hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▲1500K 145,400 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
NL 99.99 13,500 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲200K
Trang sức 99.9 13,860 ▲140K 14,460 ▲140K
Trang sức 99.99 13,870 ▲140K 14,470 ▲140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▲14K 14,552 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▲14K 14,553 ▲140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1264K 145 ▼1291K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1264K 1,451 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 139 ▼1237K 1,435 ▲14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,079 ▲1386K 142,079 ▲1386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,986 ▲1050K 107,786 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,794 ▼78194K 9,774 ▼87014K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,894 ▲70190K 87,694 ▲79010K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,019 ▲816K 83,819 ▲816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,195 ▲583K 59,995 ▲583K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▲14K 1,455 ▲14K
Cập nhật: 11/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17904 18178 18761
CAD 18222 18498 19113
CHF 31597 31977 32630
CNY 0 3840 3940
EUR 29531 29752 30829
GBP 34495 34887 35821
HKD 0 3200 3403
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15066 15654
SGD 19873 20155 20722
THB 707 770 823
USD (1,2) 25871 0 0
USD (5,10,20) 25911 0 0
USD (50,100) 25939 25953 26320
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,970 25,970 26,350
USD(1-2-5) 24,932 - -
USD(10-20) 24,932 - -
EUR 29,605 29,629 31,032
JPY 159.91 160.2 169.86
GBP 34,705 34,799 35,994
AUD 18,108 18,173 18,866
CAD 18,420 18,479 19,165
CHF 31,899 31,998 32,946
SGD 20,008 20,070 20,854
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.07 17.8 19.36
THB 756.05 765.39 819.2
NZD 15,052 15,192 15,643
SEK - 2,709 2,805
DKK - 3,971 4,111
NOK - 2,707 2,804
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.68 - 6,745.89
TWD 732.69 - 887.04
SAR - 6,847.64 7,212.42
KWD - 82,880 88,184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,950 25,970 26,350
EUR 29,639 29,758 30,952
GBP 34,709 34,848 35,881
HKD 3,266 3,279 3,396
CHF 31,748 31,875 32,801
JPY 160.36 161 168.90
AUD 18,101 18,174 18,770
SGD 20,078 20,159 20,754
THB 773 776 813
CAD 18,431 18,505 19,094
NZD 15,139 15,685
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26350
AUD 18108 18208 19130
CAD 18423 18523 19537
CHF 31898 31928 33510
CNY 3817.1 3842.1 3977.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29751 29781 31506
GBP 34835 34885 36654
HKD 0 3355 0
JPY 160.92 161.42 171.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15192 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20052 20182 20905
THB 0 737.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14100000 14100000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,978 26,028 26,320
USD20 25,928 26,028 26,715
USD1 25,878 26,028 26,765
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,561 29,661 31,320
CAD 18,335 18,435 19,741
SGD 20,139 20,289 20,843
JPY 162.06 163.56 169.14
GBP 34,676 34,826 35,899
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80