Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm Tuần từ 16 - 22/3: Một loạt ngân hàng trung ương sẽ quyết định lãi suất sau đợt tăng giá năng lượng Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tiếp đà hút ròng, lãi suất liên ngân hàng “lặng” quanh 4 - 5%

Trong tuần qua từ ngày 16/3 đến ngày 20/3, kênh thị trường mở (OMO) tiếp tục ghi nhận trạng thái hút ròng mạnh, phản ánh định hướng điều tiết thanh khoản theo hướng thận trọng của Ngân hàng Nhà nước.

Tính chung khối lượng trúng thầu chỉ đạt 14.979 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày; 28 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 99.314,71 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 84.335,95 tỷ đồng trong tuần, tiếp đà hút ròng trên 81 nghìn tỷ đồng tuần trước.

Xét trong 4 tuần liên tiếp, lượng hút ròng lên tới 239.849,39 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy nhà điều hành chủ động rút bớt thanh khoản dư thừa sau giai đoạn trước đó bơm mạnh; đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh nhu cầu ngoại tệ gia tăng. Đáng chú ý, quy mô lưu hành trên kênh OMO hiện còn khoảng 243.046,94 tỷ đồng, đã giảm mạnh so với mức đỉnh trên 480 nghìn tỷ đồng trước đó, tương đương gần một nửa.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trên các kỳ hạn ngắn.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng lên 4,6%, tương đương tăng 0,36 điểm phần trăm. Doanh số cho vay qua đêm cũng ổn định dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh hơn lên 5,64% (tăng 0,57 điểm phần trăm).

Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lên 7,15%, tương ứng tăng tới 1,55 điểm phần trăm, cho thấy áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt ở các kỳ hạn dài.

Nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, lãi suất liên ngân hàng giảm trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước vẫn hút ròng mạnh cho thấy thanh khoản hệ thống đã cải thiện đáng kể.

"Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục duy trì xu hướng ổn định nhất là ở các kỳ hạn ngắn, khi Ngân hàng Nhà nước đã đưa quy mô OMO lưu hành xuống thấp hơn đáng kể và áp lực thanh khoản ngắn hạn không còn quá lớn. Tuy nhiên, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng chưa giảm rõ rệt" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn
Nguồn: Techcombank.

Theo đánh giá của Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính thuộc Nhóm ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính của Techcombank, thặng dư ngân sách duy trì ở mức rất cao, kết hợp với yếu tố mùa vụ rút tiền trước Tết Nguyên đán đã khiến thanh khoản VND trong hệ thống rơi vào trạng thái thiếu hụt tạm thời. Diễn biến này đẩy lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng vọt lên trên 10%.

Cùng lúc đó, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng đến ngày 26/2 đạt 1,4%, cao hơn đáng kể so với mức tăng huy động.

Qua đó, gia tăng thêm áp lực lên thanh khoản hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã và đang hỗ trợ thanh khoản tương đối hiệu quả thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ OMO và các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), giúp hạn chế nguy cơ căng thẳng thanh khoản kéo dài.

Trì hoãn kỳ vọng giảm lãi suất, tỷ giá USD tăng liền ba tuần

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận tuần tăng thứ 3 liên tiếp. Theo đó, tỷ giá trung tâm ngày 20/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng 13 đồng, lên 25.085 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện dao động trong khoảng 23.831 - 26.339 VND/USD.

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng". Ảnh tư liệu.

Như vậy, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 20 đồng so với đầu tuần, với các nhịp điều chỉnh chủ yếu mang hướng tăng. Tại các ngân hàng, tỷ giá USD cũng nhích lên tương ứng. Với USD, tỷ giá tại Vietcombank chốt tuần ở mức 26.099 - 26.339 VND/USD, cùng tăng 21 đồng so với cuối tuần trước; trong khi tại BIDV ở mức 26.115 - 26.335 VND/USD, cũng tăng tương ứng 21 đồng.

Tỷ giá USD tự do sát 28.000 VND/USD

Đáng chú ý, thị trường tự do ghi nhận mức biến động mạnh hơn rõ rệt, với tỷ giá USD giao dịch quanh 27.700 - 27.750 VND/USD, sát đỉnh từng thiết lập giữa tháng 11/2025, tương đương tăng tới 560 đồng trong tuần. Diễn biến này cho thấy yếu tố tâm lý và nhu cầu nắm giữ ngoại tệ trong dân cư có xu hướng gia tăng, tạo độ lệch đáng kể so với thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, đồng USD quay đầu giảm sau phiên tăng mạnh trước đó, khi nhà đầu tư chuyển sang đánh giá lại tác động từ xung đột Trung Đông và tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương lớn. Theo đó, chỉ số DXY hiện giao dịch ở mức 99,4 điểm; mất mốc 100 điểm khi chinh phục vào đầu tuần.

Trước đó, đồng bạc xanh được hỗ trợ mạnh với vai trò tài sản trú ẩn an toàn, đặc biệt kể từ khi căng thẳng leo thang liên quan đến Mỹ, Israel và Iran vào cuối tháng 2/2026.

Đồng thời, kỳ vọng lãi suất cao duy trì lâu hơn gia tăng do lo ngại cú sốc lạm phát từ giá dầu tăng mạnh. Tuy nhiên, diễn biến mới cho thấy, các ngân hàng trung ương lớn đồng loạt giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh phải cân nhắc giữa áp lực lạm phát và rủi ro suy giảm tăng trưởng.

Theo ông Steve Englander - Trưởng bộ phận nghiên cứu ngoại hối G10 toàn cầu tại Standard Chartered, các ngân hàng trung ương hiện đang đánh giá tác động của lạm phát và tăng trưởng, cũng như mức độ tin cậy trong định hướng chính sách.

Đối với các ngoại tệ khác, EUR ghi nhận đà tăng rõ nét hơn, với tỷ giá tại Vietcombank đạt 29.957,64 - 31.221,64 VND/EUR, tăng mạnh lần lượt 267,5 và 281,5 đồng; tại BIDV ở mức 29.919 - 31.155 VND/EUR, tăng 295 - 305 đồng. Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ tăng mạnh nhất trong nhóm, với Vietcombank niêm yết 34.736,16 - 35.848,59 VND/GBP, tăng 328,2 - 342,1 đồng; BIDV ở mức 34.718 - 35.699 VND/GBP, tăng 335 - 353 đồng.

Theo đánh giá của Bộ phận phân tích của Techcombank, tỷ giá đang chịu áp lực tăng khi thặng dư thương mại thu hẹp, đồng USD mạnh lên và rủi ro địa chính trị tiếp tục leo thang.

"Áp lực tăng tỷ giá chủ yếu đến từ nhu cầu USD phục vụ thanh toán nhập khẩu gia tăng, trong bối cảnh Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại khoảng 3 tỷ USD. Bên cạnh đó, chỉ số DXY tăng khoảng 1% do bất ổn địa chính trị và tâm lý thị trường trở nên thận trọng hơn khi rủi ro toàn cầu gia tăng, qua đó tiếp tục gây sức ép lên tỷ giá" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Tỷ giá USD/VND có thể tăng khoảng 4% khi bất lợi gia tăng

Trước bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang, nhóm phân tích Techcombank điều chỉnh tăng dự báo mức mất giá trung bình của VND/USD lên 2,5% cho cả năm trong kịch bản A (cơ sở). Điều chỉnh này được củng cố bởi ba yếu tố chính. Thứ nhất, lạm phát Mỹ duy trì ở mức cao do giá năng lượng tăng, có thể khiến Fed trì hoãn hoặc giảm tốc cắt giảm lãi suất, qua đó hỗ trợ USD và chỉ số DXY. Thứ hai, thặng dư thương mại thu hẹp gây áp lực lên cán cân thanh toán khi chi phí nhập khẩu tăng, trong khi xuất khẩu đối mặt rủi ro suy yếu từ cầu bên ngoài. Thứ ba, căng thẳng địa chính trị có thể làm chậm dòng vốn FDI, FII và gia tăng xu hướng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

Trong kịch bản B (căng thẳng), khi các rủi ro bất lợi gia tăng mạnh hơn, tỷ giá USD/VND có thể chịu áp lực lớn hơn và tăng khoảng 4%, dù xác suất xảy ra kịch bản này hiện vẫn được đánh giá là thấp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (17/7): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, DXY được nâng đỡ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 17/7, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước niêm yết ở mức 25.254 đồng, tăng 11 đồng so với phiên trước và nối dài chuỗi tăng trong tuần. Trái lại, giá USD tại nhiều ngân hàng tiếp tục đi ngang nhiều phiên liên tiếp. Chỉ số DXY tăng 0,21% lên 100,7 điểm, được hỗ trợ bởi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang và kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Tỷ giá USD hôm nay (14/7): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, lo ngại lạm phát gia tăng nâng đỡ đồng USD

Tỷ giá USD hôm nay (14/7): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, lo ngại lạm phát gia tăng nâng đỡ đồng USD

(TBTCO) - Sáng 14/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.225 đồng, tăng 5 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY giảm 0,09% xuống 101,22 điểm. Thị trường chuyển trọng tâm sang rủi ro lạm phát trước căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Iran, còn lo ngại về khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá tạm lắng.
Tỷ giá USD hôm nay (13/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY vượt 101 điểm trước giờ công bố CPI Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (13/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY vượt 101 điểm trước giờ công bố CPI Mỹ

(TBTCO) - Sáng 13/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.220 đồng, tăng 6 đồng so với cuối tuần trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,22% lên 101,17 điểm. Đồng USD được hỗ trợ khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran làm gia tăng lo ngại lạm phát, còn thị trường đang chờ đợi báo cáo CPI của Mỹ công bố vào thứ ba để đánh giá triển vọng chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Hà Nội - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Miền Tây - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,200 ▼300K 146,200 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,420 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼90K 14,620 ▼70K
NL 99.99 12,910 ▼90K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,860 ▼90K
Trang sức 99.9 13,810 ▼70K 14,510 ▼70K
Trang sức 99.99 13,820 ▼70K 14,520 ▼70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,442 ▼3K 14,722 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,442 ▼3K 14,723 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,427 ▲1284K 1,462 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,427 ▲1284K 1,463 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,397 ▲1257K 1,442 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,772 ▼297K 142,772 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,511 ▼225K 108,311 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,416 ▲79554K 98,216 ▲88374K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,321 ▼183K 88,121 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,427 ▼175K 84,227 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,487 ▼126K 60,287 ▼126K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,442 ▼3K 1,472 ▼3K
Cập nhật: 20/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18133 18706
CAD 18237 18513 19129
CHF 31925 32306 32947
CNY 0 3841 3934
EUR 29453 29674 30748
GBP 34590 34982 35922
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 19833 20114 20680
THB 697 760 813
USD (1,2) 26025 0 0
USD (5,10,20) 26066 0 0
USD (50,100) 26095 26109 26468
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,110 26,110 26,490
USD(1-2-5) 25,066 - -
USD(10-20) 25,066 - -
EUR 29,577 29,601 31,013
JPY 157.55 157.83 167.35
GBP 34,765 34,859 36,062
AUD 18,007 18,072 18,651
CAD 18,424 18,483 19,162
CHF 32,170 32,270 33,219
SGD 19,955 20,017 20,803
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,287 3,297 3,435
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.66 754.87 808.12
NZD 15,069 15,209 15,660
SEK - 2,679 2,774
DKK - 3,957 4,096
NOK - 2,684 2,780
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.36 - 6,785.05
TWD 732.78 - 887.08
SAR - 6,883.63 7,249.97
KWD - 83,192 88,508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,513 29,632 30,825
GBP 34,752 34,892 35,926
HKD 3,286 3,299 3,417
CHF 31,997 32,125 33,057
JPY 157.93 158.56 166.48
AUD 18,034 18,106 18,702
SGD 20,019 20,099 20,689
THB 762 765 801
CAD 18,434 18,508 19,090
NZD 15,118 15,663
KRW 16.95 18.77
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26470
AUD 18022 18122 19045
CAD 18412 18512 19527
CHF 32134 32164 33746
CNY 3819.2 3844.2 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29611 29641 31364
GBP 34859 34909 36677
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19977 20107 20840
THB 0 725.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14300000 14300000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,116 26,166 26,490
USD20 26,116 26,166 26,490
USD1 26,116 26,166 26,490
AUD 18,084 18,184 19,289
EUR 29,426 29,526 31,183
CAD 18,365 18,465 19,772
SGD 20,061 20,211 20,830
JPY 158.91 160.41 165.95
GBP 34,778 34,928 36,001
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80