Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/3: Hút ròng hơn 81.000 tỷ đồng giữa lúc USD tăng, DXY vượt 100 điểm Tuần từ 16 - 22/3: Một loạt ngân hàng trung ương sẽ quyết định lãi suất sau đợt tăng giá năng lượng Tỷ giá chịu sức ép, kịch bản tăng lãi suất điều hành được tính đến

Tiếp đà hút ròng, lãi suất liên ngân hàng “lặng” quanh 4 - 5%

Trong tuần qua từ ngày 16/3 đến ngày 20/3, kênh thị trường mở (OMO) tiếp tục ghi nhận trạng thái hút ròng mạnh, phản ánh định hướng điều tiết thanh khoản theo hướng thận trọng của Ngân hàng Nhà nước.

Tính chung khối lượng trúng thầu chỉ đạt 14.979 tỷ đồng, kỳ hạn 7 ngày; 28 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 99.314,71 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh khoảng 84.335,95 tỷ đồng trong tuần, tiếp đà hút ròng trên 81 nghìn tỷ đồng tuần trước.

Xét trong 4 tuần liên tiếp, lượng hút ròng lên tới 239.849,39 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy nhà điều hành chủ động rút bớt thanh khoản dư thừa sau giai đoạn trước đó bơm mạnh; đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh nhu cầu ngoại tệ gia tăng. Đáng chú ý, quy mô lưu hành trên kênh OMO hiện còn khoảng 243.046,94 tỷ đồng, đã giảm mạnh so với mức đỉnh trên 480 nghìn tỷ đồng trước đó, tương đương gần một nửa.

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng tăng nhẹ trên các kỳ hạn ngắn.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng lên 4,6%, tương đương tăng 0,36 điểm phần trăm. Doanh số cho vay qua đêm cũng ổn định dưới 800 nghìn tỷ đồng/phiên, trong khi kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh hơn lên 5,64% (tăng 0,57 điểm phần trăm).

Đáng chú ý, kỳ hạn 2 tuần ghi nhận mức tăng mạnh nhất, lên 7,15%, tương ứng tăng tới 1,55 điểm phần trăm, cho thấy áp lực thanh khoản gia tăng rõ rệt ở các kỳ hạn dài.

Nhóm phân tích Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, lãi suất liên ngân hàng giảm trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước vẫn hút ròng mạnh cho thấy thanh khoản hệ thống đã cải thiện đáng kể.

"Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục duy trì xu hướng ổn định nhất là ở các kỳ hạn ngắn, khi Ngân hàng Nhà nước đã đưa quy mô OMO lưu hành xuống thấp hơn đáng kể và áp lực thanh khoản ngắn hạn không còn quá lớn. Tuy nhiên, kỳ hạn 1 - 3 tháng có thể vẫn neo ở vùng cao hơn do lãi suất huy động trên thị trường 1 còn chịu áp lực tăng và nhu cầu cân đối nguồn vốn trung hạn của các ngân hàng chưa giảm rõ rệt" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn
Nguồn: Techcombank.

Theo đánh giá của Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính thuộc Nhóm ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính của Techcombank, thặng dư ngân sách duy trì ở mức rất cao, kết hợp với yếu tố mùa vụ rút tiền trước Tết Nguyên đán đã khiến thanh khoản VND trong hệ thống rơi vào trạng thái thiếu hụt tạm thời. Diễn biến này đẩy lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng vọt lên trên 10%.

Cùng lúc đó, số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng đến ngày 26/2 đạt 1,4%, cao hơn đáng kể so với mức tăng huy động.

Qua đó, gia tăng thêm áp lực lên thanh khoản hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã và đang hỗ trợ thanh khoản tương đối hiệu quả thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ OMO và các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), giúp hạn chế nguy cơ căng thẳng thanh khoản kéo dài.

Trì hoãn kỳ vọng giảm lãi suất, tỷ giá USD tăng liền ba tuần

Trong tuần qua, tỷ giá USD/VND ghi nhận tuần tăng thứ 3 liên tiếp. Theo đó, tỷ giá trung tâm ngày 20/3 được Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh tăng 13 đồng, lên 25.085 VND/USD. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại hiện dao động trong khoảng 23.831 - 26.339 VND/USD.

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng". Ảnh tư liệu.

Như vậy, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 20 đồng so với đầu tuần, với các nhịp điều chỉnh chủ yếu mang hướng tăng. Tại các ngân hàng, tỷ giá USD cũng nhích lên tương ứng. Với USD, tỷ giá tại Vietcombank chốt tuần ở mức 26.099 - 26.339 VND/USD, cùng tăng 21 đồng so với cuối tuần trước; trong khi tại BIDV ở mức 26.115 - 26.335 VND/USD, cũng tăng tương ứng 21 đồng.

Tỷ giá USD tự do sát 28.000 VND/USD

Đáng chú ý, thị trường tự do ghi nhận mức biến động mạnh hơn rõ rệt, với tỷ giá USD giao dịch quanh 27.700 - 27.750 VND/USD, sát đỉnh từng thiết lập giữa tháng 11/2025, tương đương tăng tới 560 đồng trong tuần. Diễn biến này cho thấy yếu tố tâm lý và nhu cầu nắm giữ ngoại tệ trong dân cư có xu hướng gia tăng, tạo độ lệch đáng kể so với thị trường chính thức.

Trên thị trường quốc tế, đồng USD quay đầu giảm sau phiên tăng mạnh trước đó, khi nhà đầu tư chuyển sang đánh giá lại tác động từ xung đột Trung Đông và tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương lớn. Theo đó, chỉ số DXY hiện giao dịch ở mức 99,4 điểm; mất mốc 100 điểm khi chinh phục vào đầu tuần.

Trước đó, đồng bạc xanh được hỗ trợ mạnh với vai trò tài sản trú ẩn an toàn, đặc biệt kể từ khi căng thẳng leo thang liên quan đến Mỹ, Israel và Iran vào cuối tháng 2/2026.

Đồng thời, kỳ vọng lãi suất cao duy trì lâu hơn gia tăng do lo ngại cú sốc lạm phát từ giá dầu tăng mạnh. Tuy nhiên, diễn biến mới cho thấy, các ngân hàng trung ương lớn đồng loạt giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh phải cân nhắc giữa áp lực lạm phát và rủi ro suy giảm tăng trưởng.

Theo ông Steve Englander - Trưởng bộ phận nghiên cứu ngoại hối G10 toàn cầu tại Standard Chartered, các ngân hàng trung ương hiện đang đánh giá tác động của lạm phát và tăng trưởng, cũng như mức độ tin cậy trong định hướng chính sách.

Đối với các ngoại tệ khác, EUR ghi nhận đà tăng rõ nét hơn, với tỷ giá tại Vietcombank đạt 29.957,64 - 31.221,64 VND/EUR, tăng mạnh lần lượt 267,5 và 281,5 đồng; tại BIDV ở mức 29.919 - 31.155 VND/EUR, tăng 295 - 305 đồng. Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ tăng mạnh nhất trong nhóm, với Vietcombank niêm yết 34.736,16 - 35.848,59 VND/GBP, tăng 328,2 - 342,1 đồng; BIDV ở mức 34.718 - 35.699 VND/GBP, tăng 335 - 353 đồng.

Theo đánh giá của Bộ phận phân tích của Techcombank, tỷ giá đang chịu áp lực tăng khi thặng dư thương mại thu hẹp, đồng USD mạnh lên và rủi ro địa chính trị tiếp tục leo thang.

"Áp lực tăng tỷ giá chủ yếu đến từ nhu cầu USD phục vụ thanh toán nhập khẩu gia tăng, trong bối cảnh Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại khoảng 3 tỷ USD. Bên cạnh đó, chỉ số DXY tăng khoảng 1% do bất ổn địa chính trị và tâm lý thị trường trở nên thận trọng hơn khi rủi ro toàn cầu gia tăng, qua đó tiếp tục gây sức ép lên tỷ giá" - nhóm phân tích Techcombank nhận định./.

Tỷ giá USD/VND có thể tăng khoảng 4% khi bất lợi gia tăng

Trước bối cảnh căng thẳng địa chính trị leo thang, nhóm phân tích Techcombank điều chỉnh tăng dự báo mức mất giá trung bình của VND/USD lên 2,5% cho cả năm trong kịch bản A (cơ sở). Điều chỉnh này được củng cố bởi ba yếu tố chính. Thứ nhất, lạm phát Mỹ duy trì ở mức cao do giá năng lượng tăng, có thể khiến Fed trì hoãn hoặc giảm tốc cắt giảm lãi suất, qua đó hỗ trợ USD và chỉ số DXY. Thứ hai, thặng dư thương mại thu hẹp gây áp lực lên cán cân thanh toán khi chi phí nhập khẩu tăng, trong khi xuất khẩu đối mặt rủi ro suy yếu từ cầu bên ngoài. Thứ ba, căng thẳng địa chính trị có thể làm chậm dòng vốn FDI, FII và gia tăng xu hướng chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.

Trong kịch bản B (căng thẳng), khi các rủi ro bất lợi gia tăng mạnh hơn, tỷ giá USD/VND có thể chịu áp lực lớn hơn và tăng khoảng 4%, dù xác suất xảy ra kịch bản này hiện vẫn được đánh giá là thấp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80