Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
aa
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Lãi suất liên ngân hàng “lao dốc” - tín hiệu giảm sức ép thanh khoản

Diễn biến nổi bật trong tuần từ ngày 13 - 17/4 là việc Ngân hàng Nhà nước duy trì trạng thái hút ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO).

NHNN hút ròng mạnh trên 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu về dưới 4%
Ảnh minh họa.

Tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO chỉ đạt 56.859,26 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Tổng giá trị hút ròng trong tuần từ ngày 13 - 17/4 lên tới khoảng 72.486,19 tỷ đồng, cao hơn mức hút ròng khoảng 66.000 tỷ đồng của tuần trước đó, cho thấy xu hướng thắt chặt vẫn được duy trì, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và ổn định mặt bằng lãi suất trong bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn nhiều biến động.

Khối lượng phát hành giảm mạnh qua các phiên, từ mức rất cao 33.701 tỷ đồng ngày 13/4 xuống còn 3.077 tỷ đồng vào phiên cuối tuần - ngày 17/4. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn duy trì ở mức lớn, đặc biệt các phiên đầu tuần ghi nhận lượng đáo hạn từ 32.000 - 41.345 tỷ đồng, khiến dòng tiền rút ra khỏi hệ thống chiếm ưu thế.

Trong tuần 13 - 17/4, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng giảm mạnh trên toàn bộ các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống dần cải thiện sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu 2,06 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, xuống còn khoảng 3,88%; kỳ hạn 1 tuần giảm 1,8 điểm phần trăm, còn 4,69%; kỳ hạn 2 tuần giảm 1,44 điểm phần trăm, xuống 5,12%.

Kỳ hạn 1 tháng giảm 1,1 điểm phần trăm, còn 6,46%; trong khi kỳ hạn 3 tháng giảm nhẹ hơn 0,25 điểm phần trăm, xuống 7,58%. Diễn biến này cho thấy, mặt bằng lãi suất ngắn hạn hạ nhiệt nhanh hơn so với kỳ hạn dài.

Song song với đó, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cũng sụt giảm đáng kể, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn. Doanh số qua đêm giảm mạnh 57.014 tỷ đồng so với tuần trước, xuống quanh 730.495 tỷ đồng.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), áp lực thanh khoản tạm thời hạ nhiệt sau giai đoạn kết thúc quý, tuy nhiên, các kỳ hạn 1 - 3 tháng còn neo ở mức cao, do nguồn cân đối vốn trung hạn chưa được giải quyết hoàn toàn và xu hướng giảm lãi suất huy động mới chỉ ở giai đoạn đầu sau chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước.

"Dù lãi suất đã bắt đầu giảm, nhưng chúng tôi cho rằng khó có thể trở về mức giữa năm 2025, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và tăng trưởng tín dụng 3 tháng năm 2026 cao hơn nhiều so với tăng trưởng huy động vốn" - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Còn theo Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính - nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính (Ngân hàng Techcombank), Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa để tiếp tục ổn định và từng bước hạ mặt bằng lãi suất trong thời gian tới, thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ OMO, các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), cũng như các chương trình tái cấp vốn có mục tiêu.

Tuy nhiên, một số rủi ro tiềm ẩn vẫn cần được theo dõi chặt chẽ do có thể tạo áp lực trở lại lên mặt bằng lãi suất, liên quan đến áp lực lên tỷ giá USD/VND, rủi ro lạm phát tăng cao và tốc độ tăng trưởng tiền gửi có thể chậm lại.

Tỷ giá USD tự do giảm mạnh 200 đồng, DXY mất mốc 98 điểm

Ngày 17/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố là 25.102 VND/USD, giữ nguyên so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng 23.847 - 26.357 VND/USD.

Tiếp tục xu hướng biến động hẹp, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 3 đồng, xuống 25.102 VND/USD, cho thấy cơ quan điều hành duy trì trạng thái ổn định. Tương tự, tỷ giá USD tại cả Vietcombank và BIDV cùng giảm 3 đồng ở cả hai chiều mua vào - bán ra so với cuối tuần trước, hiện phổ biến quanh 26.127 - 26.357 VND/USD.

Đáng chú ý, thị trường tự do biến động mạnh hơn khi tỷ giá bán ra giảm tới 200 đồng trong tuần, nâng tổng cộng mức giảm 3 tuần liên tiếp lên 1.300 đồng, xuống 26.600 - 26.630 VND/USD; trong đó, riêng phiên ngày 16/4 ghi nhận mức giảm sâu 280 đồng.

NHNN hút ròng mạnh trên 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu về dưới 4%

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - đã mất mốc 98 điểm, xuống còn 97,89 điểm, cho thấy đồng USD tiếp tục suy yếu so với rổ tiền tệ chủ chốt. Diễn biến này phản ánh tâm lý thị trường bớt thận trọng hơn, khi nhu cầu nắm giữ USD giảm trong bối cảnh các yếu tố rủi ro toàn cầu phần nào dịu lại.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, một lệnh ngừng bắn kéo dài 10 ngày giữa Israel và Lebanon đã được thiết lập sau các cuộc gặp tại Washington, đồng thời để ngỏ khả năng mời lãnh đạo hai nước tới Nhà Trắng nhằm thúc đẩy đàm phán. Thỏa thuận này, nếu tiếp tục được duy trì, đang góp phần làm dịu căng thẳng tại Trung Đông.

"Xu hướng của đồng USD sắp tới vẫn rất khó đoán do sự giằng co của hai luồng yếu tố. Một mặt, DXY có thể giảm nếu các ngân hàng trung ương lớn khác tăng lãi suất. Mặt khác, USD vẫn là "hầm trú ẩn" an toàn và Mỹ hiện là quốc gia xuất khẩu dầu ròng nên có thể hưởng lợi khi giá năng lượng leo thang" - Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank đánh giá.

Còn theo Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank, xung đột Trung Đông đang thúc đẩy xu hướng "phi USD hóa" khi Iran và Trung Quốc tận dụng chiến sự để đẩy mạnh thanh toán bằng nhân dân tệ (CNY) tại eo biển Hormuz.

Dù CNY hiện chỉ chiếm 2% dự trữ ngoại hối và 3,7% giao dịch xuyên biên giới, những động thái này đang tạo ra sự "xói mòn dần dần", đe dọa vị thế thống trị của đồng bạc xanh trong dài hạn do làm giảm nhu cầu nắm giữ USD cho mục đích mua dầu.

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị toàn cầu có xu hướng gia tăng, Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND trong cả năm sẽ tăng trung bình khoảng 2 - 2,5%.

Trong khi đó, nhận định về sức mạnh đồng USD, Chứng khoán Yuanta Việt Nam lại cho rằng, động lực chính đến từ việc tâm lý rủi ro toàn cầu cải thiện sau thông tin về thỏa thuận ngừng bắn tạm thời tại Trung Đông khiến nhu cầu trú ẩn vào USD suy giảm, bất chấp tín hiệu từ biên bản họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tháng 3/2026 cho thấy Fed ngày càng lo ngại rủi ro lạm phát quay trở lại và thị trường đang kỳ vọng Fed sẽ không có lần giảm lãi suất nào trong năm 2026.

Trong khi đó, các đồng tiền như EUR, GBP, AUD và NZD hồi phục nhờ khẩu vị rủi ro cải thiện. Cùng lúc, đồng CNY được hỗ trợ bởi tín hiệu giá xuất xưởng (PPI) tăng trở lại sau chuỗi giảm 3 năm và sức chống chịu của kinh tế Trung Quốc, còn JPY vẫn tương đối yếu do lãi suất Nhật Bản thấp và áp lực nhập khẩu năng lượng còn lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

(TBTCO) - Được Manulife thiết kế dành riêng cho những người mong muốn phát triển sự nghiệp một cách chuyên nghiệp và bền vững, chương trình tuyển dụng Tư vấn Tài chính - Bảo hiểm “Đại sứ Xanh Phú Quý” hỗ trợ ứng viên chuyển đổi nghề nghiệp và xây dựng năng lực tư vấn toàn diện.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh.
Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

Thanh kiểm tra liên ngành phát hiện nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng tại Hà Nội

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chi nhánh khu vực 1 cho thấy, qua thanh tra, kiểm tra liên ngành hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn Hà Nội, nhiều vi phạm liên quan đến phòng, chống rửa tiền, chế độ thông tin báo cáo, hóa đơn và thuế... đã được phát hiện. Các trường hợp vi phạm đã bị chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định.
Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc

(TBTCO) - Ngày 10/6/2026, Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam (IAV) tổ chức Lễ trao Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2025 và phát động Giải Báo chí về Bảo hiểm năm 2026. Từ hơn 1.000 tác phẩm dự thi, Ban Giám khảo đã lựa chọn và trao 23 giải thưởng cho các tác phẩm xuất sắc. Trong đó, Báo Tài chính - Đầu tư ghi dấu ấn với 5 tác phẩm đoạt giải.
Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

Igloo hợp tác với Chubb Life mở rộng sang mảng bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam và Indonesia

(TBTCO) - Igloo - công ty công nghệ bảo hiểm (insurtech) ứng dụng AI toàn diện (AI full stack) tại Đông Nam Á, chuyên phát triển nền tảng vận hành cho ngành bảo hiểm vừa công bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ PT Chubb Indonesia (gọi chung là “Chubb Life”). Theo đó, các giải pháp bảo hiểm của Chubb Life sẽ được cung cấp tại Việt Nam và Indonesia thông qua Ignite by Igloo - nền tảng số phân phối bảo hiểm của Igloo.
Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
Kim TT/AVPL 13,200 ▼230K 13,650 ▼180K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,200 ▼230K 13,650 ▼180K
Nguyên Liệu 99.99 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,150 ▼250K 13,550 ▼250K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,100 ▼250K 13,500 ▼250K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,030 ▼250K 13,480 ▼250K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 131,000 ▼2800K 136,000 ▼2800K
Hà Nội - PNJ 131,000 ▼2800K 136,000 ▼2800K
Đà Nẵng - PNJ 131,000 ▼2800K 136,000 ▼2800K
Miền Tây - PNJ 131,000 ▼2800K 136,000 ▼2800K
Tây Nguyên - PNJ 131,000 ▼2800K 136,000 ▼2800K
Đông Nam Bộ - PNJ 131,000 ▼2800K 136,000 ▼2800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,100 ▼230K 13,600 ▼230K
NL 99.90 12,650 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,700 ▼400K
Trang sức 99.9 12,790 ▼230K 13,490 ▼230K
Trang sức 99.99 12,800 ▼230K 13,500 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 131 ▼1202K 13,602 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 131 ▼1202K 13,603 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,309 ▼23K 1,359 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,309 ▼23K 136 ▼1247K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,289 ▼23K 1,344 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,069 ▼2278K 133,069 ▼2278K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 ▼84039K 10,096 ▼92589K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,051 ▼1564K 91,551 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,642 ▼1403K 82,142 ▼1403K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,013 ▼1341K 78,513 ▼1341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 467 ▼4299K 562 ▼5154K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 131 ▼1202K 136 ▼1247K
Cập nhật: 11/06/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17888 18162 18737
CAD 18351 18627 19243
CHF 32302 32685 33328
CNY 0 3844 3936
EUR 29756 29978 31054
GBP 34406 34797 35730
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14945 15530
SGD 19905 20187 20753
THB 714 778 831
USD (1,2) 26058 0 0
USD (5,10,20) 26099 0 0
USD (50,100) 26128 26142 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,939 29,963 31,273
JPY 159.84 160.13 169.12
GBP 34,661 34,755 35,818
AUD 18,134 18,200 18,816
CAD 18,573 18,633 19,242
CHF 32,616 32,717 33,551
SGD 20,062 20,124 20,840
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.93 16.61 17.99
THB 764.24 773.68 825.13
NZD 14,967 15,106 15,498
SEK - 2,731 2,817
DKK - 4,005 4,131
NOK - 2,741 2,828
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,052.1 - 6,807.35
TWD 751.71 - 907.12
SAR - 6,905.03 7,245.04
KWD - 83,523 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,831 29,951 31,138
GBP 34,583 34,722 35,739
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,397 32,527 33,436
JPY 159.87 160.51 168.31
AUD 18,080 18,153 18,743
SGD 20,097 20,178 20,761
THB 780 783 817
CAD 18,548 18,622 19,188
NZD 15,021 15,557
KRW 16.55 18.14
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26115 26115 26410
AUD 18084 18184 19110
CAD 18536 18636 19650
CHF 32561 32591 34173
CNY 3822.6 3847.6 3983
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29956 29986 31711
GBP 34719 34769 36537
HKD 0 3355 0
JPY 160.47 160.97 171.48
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15063 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20061 20191 20918
THB 0 744.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13100000 13100000 13600000
SBJ 11000000 11000000 13600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,138 18,238 19,350
EUR 30,099 30,099 31,520
CAD 18,481 18,581 19,895
SGD 20,141 20,291 20,859
JPY 160.97 162.47 170.5
GBP 34,626 34,976 35,853
XAU 13,378,000 0 13,882,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/06/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80