Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
aa
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8% Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Lãi suất liên ngân hàng “lao dốc” - tín hiệu giảm sức ép thanh khoản

Diễn biến nổi bật trong tuần từ ngày 13 - 17/4 là việc Ngân hàng Nhà nước duy trì trạng thái hút ròng thanh khoản trên kênh thị trường mở (OMO).

NHNN hút ròng mạnh trên 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu về dưới 4%
Ảnh minh họa.

Tổng khối lượng trúng thầu trên kênh OMO chỉ đạt 56.859,26 tỷ đồng tại các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Tổng giá trị hút ròng trong tuần từ ngày 13 - 17/4 lên tới khoảng 72.486,19 tỷ đồng, cao hơn mức hút ròng khoảng 66.000 tỷ đồng của tuần trước đó, cho thấy xu hướng thắt chặt vẫn được duy trì, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và ổn định mặt bằng lãi suất trong bối cảnh các yếu tố bên ngoài còn nhiều biến động.

Khối lượng phát hành giảm mạnh qua các phiên, từ mức rất cao 33.701 tỷ đồng ngày 13/4 xuống còn 3.077 tỷ đồng vào phiên cuối tuần - ngày 17/4. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn duy trì ở mức lớn, đặc biệt các phiên đầu tuần ghi nhận lượng đáo hạn từ 32.000 - 41.345 tỷ đồng, khiến dòng tiền rút ra khỏi hệ thống chiếm ưu thế.

Trong tuần 13 - 17/4, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận xu hướng giảm mạnh trên toàn bộ các kỳ hạn, phản ánh thanh khoản hệ thống dần cải thiện sau giai đoạn căng thẳng trước đó. Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu 2,06 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, xuống còn khoảng 3,88%; kỳ hạn 1 tuần giảm 1,8 điểm phần trăm, còn 4,69%; kỳ hạn 2 tuần giảm 1,44 điểm phần trăm, xuống 5,12%.

Kỳ hạn 1 tháng giảm 1,1 điểm phần trăm, còn 6,46%; trong khi kỳ hạn 3 tháng giảm nhẹ hơn 0,25 điểm phần trăm, xuống 7,58%. Diễn biến này cho thấy, mặt bằng lãi suất ngắn hạn hạ nhiệt nhanh hơn so với kỳ hạn dài.

Song song với đó, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cũng sụt giảm đáng kể, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn. Doanh số qua đêm giảm mạnh 57.014 tỷ đồng so với tuần trước, xuống quanh 730.495 tỷ đồng.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), áp lực thanh khoản tạm thời hạ nhiệt sau giai đoạn kết thúc quý, tuy nhiên, các kỳ hạn 1 - 3 tháng còn neo ở mức cao, do nguồn cân đối vốn trung hạn chưa được giải quyết hoàn toàn và xu hướng giảm lãi suất huy động mới chỉ ở giai đoạn đầu sau chỉ đạo từ Ngân hàng Nhà nước.

"Dù lãi suất đã bắt đầu giảm, nhưng chúng tôi cho rằng khó có thể trở về mức giữa năm 2025, nhất là trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng cao và tăng trưởng tín dụng 3 tháng năm 2026 cao hơn nhiều so với tăng trưởng huy động vốn" - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Còn theo Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính - nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính (Ngân hàng Techcombank), Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa để tiếp tục ổn định và từng bước hạ mặt bằng lãi suất trong thời gian tới, thông qua các công cụ điều tiết như nghiệp vụ OMO, các giao dịch hoán đổi ngoại tệ (swap), cũng như các chương trình tái cấp vốn có mục tiêu.

Tuy nhiên, một số rủi ro tiềm ẩn vẫn cần được theo dõi chặt chẽ do có thể tạo áp lực trở lại lên mặt bằng lãi suất, liên quan đến áp lực lên tỷ giá USD/VND, rủi ro lạm phát tăng cao và tốc độ tăng trưởng tiền gửi có thể chậm lại.

Tỷ giá USD tự do giảm mạnh 200 đồng, DXY mất mốc 98 điểm

Ngày 17/4, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố là 25.102 VND/USD, giữ nguyên so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép dao động trong khoảng 23.847 - 26.357 VND/USD.

Tiếp tục xu hướng biến động hẹp, tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 3 đồng, xuống 25.102 VND/USD, cho thấy cơ quan điều hành duy trì trạng thái ổn định. Tương tự, tỷ giá USD tại cả Vietcombank và BIDV cùng giảm 3 đồng ở cả hai chiều mua vào - bán ra so với cuối tuần trước, hiện phổ biến quanh 26.127 - 26.357 VND/USD.

Đáng chú ý, thị trường tự do biến động mạnh hơn khi tỷ giá bán ra giảm tới 200 đồng trong tuần, nâng tổng cộng mức giảm 3 tuần liên tiếp lên 1.300 đồng, xuống 26.600 - 26.630 VND/USD; trong đó, riêng phiên ngày 16/4 ghi nhận mức giảm sâu 280 đồng.

NHNN hút ròng mạnh trên 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu về dưới 4%

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - đã mất mốc 98 điểm, xuống còn 97,89 điểm, cho thấy đồng USD tiếp tục suy yếu so với rổ tiền tệ chủ chốt. Diễn biến này phản ánh tâm lý thị trường bớt thận trọng hơn, khi nhu cầu nắm giữ USD giảm trong bối cảnh các yếu tố rủi ro toàn cầu phần nào dịu lại.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết, một lệnh ngừng bắn kéo dài 10 ngày giữa Israel và Lebanon đã được thiết lập sau các cuộc gặp tại Washington, đồng thời để ngỏ khả năng mời lãnh đạo hai nước tới Nhà Trắng nhằm thúc đẩy đàm phán. Thỏa thuận này, nếu tiếp tục được duy trì, đang góp phần làm dịu căng thẳng tại Trung Đông.

"Xu hướng của đồng USD sắp tới vẫn rất khó đoán do sự giằng co của hai luồng yếu tố. Một mặt, DXY có thể giảm nếu các ngân hàng trung ương lớn khác tăng lãi suất. Mặt khác, USD vẫn là "hầm trú ẩn" an toàn và Mỹ hiện là quốc gia xuất khẩu dầu ròng nên có thể hưởng lợi khi giá năng lượng leo thang" - Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank đánh giá.

Còn theo Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank, xung đột Trung Đông đang thúc đẩy xu hướng "phi USD hóa" khi Iran và Trung Quốc tận dụng chiến sự để đẩy mạnh thanh toán bằng nhân dân tệ (CNY) tại eo biển Hormuz.

Dù CNY hiện chỉ chiếm 2% dự trữ ngoại hối và 3,7% giao dịch xuyên biên giới, những động thái này đang tạo ra sự "xói mòn dần dần", đe dọa vị thế thống trị của đồng bạc xanh trong dài hạn do làm giảm nhu cầu nắm giữ USD cho mục đích mua dầu.

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị toàn cầu có xu hướng gia tăng, Bộ phận Phân tích, Ngân hàng Techcombank giữ nguyên dự báo tỷ giá USD/VND trong cả năm sẽ tăng trung bình khoảng 2 - 2,5%.

Trong khi đó, nhận định về sức mạnh đồng USD, Chứng khoán Yuanta Việt Nam lại cho rằng, động lực chính đến từ việc tâm lý rủi ro toàn cầu cải thiện sau thông tin về thỏa thuận ngừng bắn tạm thời tại Trung Đông khiến nhu cầu trú ẩn vào USD suy giảm, bất chấp tín hiệu từ biên bản họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tháng 3/2026 cho thấy Fed ngày càng lo ngại rủi ro lạm phát quay trở lại và thị trường đang kỳ vọng Fed sẽ không có lần giảm lãi suất nào trong năm 2026.

Trong khi đó, các đồng tiền như EUR, GBP, AUD và NZD hồi phục nhờ khẩu vị rủi ro cải thiện. Cùng lúc, đồng CNY được hỗ trợ bởi tín hiệu giá xuất xưởng (PPI) tăng trở lại sau chuỗi giảm 3 năm và sức chống chịu của kinh tế Trung Quốc, còn JPY vẫn tương đối yếu do lãi suất Nhật Bản thấp và áp lực nhập khẩu năng lượng còn lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Tính đến ngày 16/10, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi.
Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

(TBTCO) - Tại chương trình Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Bảo Việt một lần nữa được vinh danh Thương hiệu quốc gia với ba sản phẩm uy tín. Sự ghi nhận này góp phần khẳng định chất lượng và vị thế của Bảo Việt trên thị trường tài chính - bảo hiểm Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng từ 500.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa vàng miếng lên 143,9 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn lên cao nhất 143,5 triệu đồng/lượng.
MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

(TBTCO) - Sau nhiều năm chủ yếu chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn, MSB lần này dự kiến huy động trực tiếp 9.360 tỷ đồng từ cổ đông hiện hữu, thông qua chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng/cổ phiếu, trong khi thị giá kết phiên 16/10 cao hơn 48%. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng 50% so với đầu năm, lên 46.800 tỷ đồng.
MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 136/QĐ-QLGS4 ngày 15/10/2026 chấp thuận việc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng.
BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ trong quý IV/2026, sau kế hoạch chào bán 20.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng, lãi suất các lô trái phiếu BIDV gần đây tăng rõ rệt. Hiện nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu nhằm bổ sung vốn cấp 2, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

(TBTCO) - Tập đoàn Tài chính Sunlife (Sunlife) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu toàn cầu mới, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tổ chức, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng toàn diện và sự gắn kết mạnh mẽ hơn của các hoạt động kinh doanh của Sunlife trên toàn cầu.
ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 16/10 thông tin, ABD đã bổ nhiệm ông Scott Roberts làm Giám đốc Quốc gia mới của ADB tại Việt Nam. Ông chính thức nhậm chức tại Hà Nội từ hôm nay.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30