Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất tiết kiệm nửa đầu tháng 6 chỉ biến động nhẹ ở một số ngân hàng, thậm chí “chạm đáy” thấp hơn cả thời Covid-19. Trong bối cảnh lãi suất ở mức thấp và "lặng sóng", các nhà băng tìm cách "lách" quy định bằng cách tung sản phẩm kèm ưu đãi để giữ chân khách hàng.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5

Khảo sát của phóng viên cho thấy, từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 6/2025, mặt bằng lãi suất huy động tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại nhìn chung giữ xu hướng ổn định, chỉ ghi nhận một vài điều chỉnh cục bộ tại một số ngân hàng quy mô nhỏ và một số thời điểm ở nhóm ngân hàng lớn như VPBank.

Lãi suất ngân hàng “lặng sóng”

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, nhóm ngân hàng "tứ trụ" gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank vẫn giữ mức lãi suất huy động thấp, ổn định ở mức 1,6 - 2,1%/năm. Nhóm ngân hàng thương mại lớn cũng giữ mức lãi suất không đổi, ngoại trừ VPBank vừa giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống 3,5% vào đầu tháng 6. Ở chiều ngược lại, BacABank sau khi tăng mạnh 0,4% giữa tháng 5 lên 3,9%/năm thì giữ ổn định đến nay; GPBank tăng 0,2% lên 3,45%/năm từ đầu tháng 6.

Cùng chung chuyển động ở kỳ hạn 1 tháng, với kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn thường xuyên được người gửi tiền ưa thích, mức lãi suất tại nhóm ngân hàng nhà nước ổn định quanh 1,9 - 3,5%, không thay đổi. VPBank tiếp tục xuất hiện là một trong những ngân hàng hiếm hoi giảm lãi suất kỳ hạn này hai lần liên tiếp cuối tháng 5 và giữa tháng 6, từ 4,7% xuống 4,4%. Ngược lại, GPBank tăng 0,1% lên 4,9%/năm.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, diễn biến tương tự được ghi nhận. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ ổn định mức 4,6 - 4,7%. Nhóm ngân hàng thương mại lớn như VPBank giảm nhẹ lãi suất 0,1% so với đầu tháng 5. Ở kỳ hạn này, có ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm lãi suất đan xen như: GPbank, BacABank.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tựu trung, trong tháng 6/2025, mặt bằng lãi suất tiết kiệm VND tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì ổn định, với một vài điều chỉnh nhẹ. Ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, nửa đầu tháng 6, nhóm ngân hàng thương mại lớn giảm nhẹ mặt bằng lãi suất 0,3% xuống còn khoảng 3,15%. Trong khi đó, nhóm các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa giữ mức 3,54% suốt cả tháng, còn nhóm quốc doanh ổn định ở mức thấp 1,88%, không có biến động nào được ghi nhận.

Tại kỳ hạn 6 - 9 tháng, nhóm ngân hàng thương mại lớn giảm nhẹ 0,2% còn 4,14%. Các nhóm còn lại mặt bằng lãi suất không đổi. Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tại các nhóm ngân hàng gần như không biến động. Nhóm ngân hàng thương mại lớn và nhóm ngân hàng thương mại nhà nước duy trì mức trung bình 4,68%; nhóm ngân hàng tầm trung và nhỏ giữ mức cao hơn 5,2%, phản ánh xu hướng cạnh tranh trong huy động vốn của khối này.

Ngân hàng nào đang trả lãi cao nhất?

Trong bối cảnh lãi suất huy động neo giữ ở mức thấp và "lặng sóng", bảng xếp hạng lãi suất tiết kiệm cao nhất toàn ngành ngân hàng cũng ít biến động. Ở nhóm nhà băng quốc doanh, Agribank dẫn đầu bảng ở kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng, với lãi suất lần lượt là 2,1%/năm; 2,4%/năm và 3,5%/năm. Ở kỳ hạn dài hơn 12 tháng, cả ba ngân hàng quốc doanh đồng loạt niêm yết lãi suất 4,7%/năm, ngoại trừ Vietcombank thấp hơn.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6
Mặt bằng lãi suất hiện đang bị giám sát chặt chẽ, khiến nhiều ngân hàng khó có thể điều chỉnh tăng mà phải duy trì ở mức thấp theo đúng định hướng. Ảnh minh hoạ.

Với nhóm các ngân hàng lớn, dù điều chỉnh giảm lãi suất nhiều lần, VPBank giữ vị trí đầu bảng các kỳ hạn từ 1 - 12 tháng, riêng kỳ hạn 24 tháng, MB dẫn đầu với 5,7%/năm.

Với các nhà băng tầm trung và nhỏ, trong tháng 5 và tháng 6/2025, thứ hạng top 3 các ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất ở từng kỳ hạn chủ yếu biến động ở kỳ hạn dài 12 - 24 tháng so với tháng trước.

Tựu trung, theo dữ liệu của phóng viên, ở nhóm nhà băng quy mô vừa và nhỏ, qua hai tháng liên tiếp, top 3 ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất toàn ngành ít thay đổi ở tất cả các kỳ hạn, MBV, BacABank và Vikki Bank hiện diện xuyên suốt ở top đầu, VCBNeo giữ lợi thế ở các kỳ hạn ngắn.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng thứ hạng không thay đổi, VCBNeo (CBBank) giữ vững vị trí dẫn đầu với mức lãi suất 4,05%/năm trong cả hai tháng. BacABank đứng thứ hai với mức 3,9%, trong khi MBV (Oceanbank) duy trì vị trí thứ ba với 3,8%.

Với kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn phổ biến với người gửi tiền, BacABank sau khi tăng lãi suất cuối tháng 5, tiếp tục giữ vị trí số 1 với mức lãi suất 5,35%/năm. MBV giữ vị trí thứ hai với 5,3%.

Ở kỳ hạn dài hơn có sự thay đổi thứ hạng đáng kể, theo đó, khi hút tiền gửi 12 tháng, MBV duy trì vị trí đầu bảng với mức lãi suất 5,7%, trong khi BacABank lùi về vị trí thứ hai do mới điều chỉnh giảm nhẹ lãi suất; Vikki Bank vẫn ở vị trí thứ ba, với mức lãi 5,23%/năm.

Đối với kỳ hạn dài 24 tháng có nhiều xáo trộn, sau khi BacABank giảm 0,1% lãi suất, vị trí dẫn đầu gồm ba nhà băng gồm BacABank, MBV và BVBank cùng niêm yết 5,9%/năm. VikkiBank là 5,82%, tiếp tục bám sát top đầu như trong tháng trước. Vietbank đứng top 3 với lãi suất 5,8%/năm./.

Lãi suất thấp hơn cả thời Covid-19, ngân hàng tìm cách "lách" giữ chân khách hàng

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, mặt bằng lãi suất huy động nói chung trên toàn thị trường hiện đang ổn định và ở mức thấp hơn cả giai đoạn Covid-19 trong suốt hơn 1 năm qua. Đây là một yếu tố quan trọng, giúp lãi suất tiếp tục là công cụ hỗ trợ hiệu quả cho nền kinh tổ trong nước, trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều biến động khó lường.

Cũng theo chuyên gia từ Công ty cổ phần Chứng khoán Guotai Junan, tính đến cuối tháng 5, lãi suất huy động giảm khoảng 0,2% từ đầu năm, tuy nhiên lãi suất trung bình cho vay trên thị trường giảm ở tốc độ thấp hơn, khoảng 0,1%.

Trao đổi với phóng viên, nhân viên một ngân hàng cho biết, từ tháng trước đến nay, lãi suất huy động liên tục giảm nhẹ, mỗi lần giảm khoảng 0,1 - 0,2%. Do mặt bằng lãi suất hiện đã ở mức thấp, nên nhiều ngân hàng hiện không tiếp tục điều chỉnh giảm thêm nữa. "Lãi suất tiết kiệm đang chịu sự giám sát chặt chẽ và khó có khả năng tăng" - nhân viên này nói.

Chính vì vậy, để giữ chân dòng tiền của khách hàng, nhiều ngân hàng "lách" bằng cách triển khai các sản phẩm đi kèm, tránh bị ràng buộc bởi trần lãi suất và định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Đơn cử, cộng thêm lãi suất ưu đãi trong khoảng 0,3 - 0,6% cho khách hàng ưu tiên khi gửi số tiền lớn, kỳ hạn trên 6 tháng. Bên cạnh đó, nhà băng này đang cung cấp hợp đồng vay cho công ty đối tác, với lãi suất hấp dẫn, cao hơn 2%/năm các kỳ hạn.

Khi tham gia các sản phẩm này, điều khách hàng quan tâm nhất là tính an toàn và tính cam kết thanh toán đúng hạn của ngân hàng. Vì vậy, sau khi khách hàng ký hợp đồng cho vay với công ty đó, ngân hàng sau đó ban hành "thông báo cấp tín dụng có điều kiện", thể hiện rằng khách hàng có thể vay lại trước hạn và ngân hàng sẵn sàng nhận hợp đồng cho vay tiền này làm tài sản đảm bảo, khác với thông thường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 145,500
Hà Nội - PNJ 142,400 145,500
Đà Nẵng - PNJ 142,400 145,500
Miền Tây - PNJ 142,400 145,500
Tây Nguyên - PNJ 142,400 145,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 145,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,260 14,560
Miếng SJC Nghệ An 14,260 14,560
Miếng SJC Thái Bình 14,260 14,560
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 14,610
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 14,610
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,920 14,520
Trang sức 99.99 13,930 14,530
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,426 14,562
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,426 14,563
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 1,451
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,396 1,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,673 142,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,436 108,236
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,348 98,148
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,826 8,806
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,369 84,169
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,446 60,246
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,426 1,456
Cập nhật: 15/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17986 18260 18837
CAD 18163 18439 19061
CHF 31136 31514 32158
CNY 0 3830 3927
EUR 29352 29573 30653
GBP 34232 34623 35564
HKD 0 3182 3384
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14687 15275
SGD 19900 20182 20762
THB 697 760 813
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,431 29,455 30,851
JPY 163.75 164.05 173.96
GBP 34,432 34,525 35,719
AUD 18,208 18,274 18,967
CAD 18,377 18,436 19,114
CHF 31,346 31,443 32,373
SGD 20,034 20,096 20,893
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.8 18.56 20.19
THB 746.35 755.57 809.01
NZD 14,694 14,830 15,273
SEK - 2,621 2,713
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,749 2,846
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,956.94 - 6,723.75
TWD 738.75 - 894.47
SAR - 6,801 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,454 29,572 30,769
GBP 34,423 34,561 35,590
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,182 31,307 32,240
JPY 164.26 164.92 172.88
AUD 18,202 18,275 18,869
SGD 20,099 20,180 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,377 18,451 19,043
NZD 14,773 15,313
KRW 18.44 20.41
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25802 25802 26162
AUD 18165 18265 19187
CAD 18350 18450 19464
CHF 31398 31428 33010
CNY 3812.8 3837.8 3973
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29541 29571 31294
GBP 34545 34595 36352
HKD 0 3305 0
JPY 164.62 165.12 175.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14794 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20062 20192 20923
THB 0 725.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Cập nhật: 15/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30