Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất tiết kiệm nửa đầu tháng 6 chỉ biến động nhẹ ở một số ngân hàng, thậm chí “chạm đáy” thấp hơn cả thời Covid-19. Trong bối cảnh lãi suất ở mức thấp và "lặng sóng", các nhà băng tìm cách "lách" quy định bằng cách tung sản phẩm kèm ưu đãi để giữ chân khách hàng.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5

Khảo sát của phóng viên cho thấy, từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 6/2025, mặt bằng lãi suất huy động tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại nhìn chung giữ xu hướng ổn định, chỉ ghi nhận một vài điều chỉnh cục bộ tại một số ngân hàng quy mô nhỏ và một số thời điểm ở nhóm ngân hàng lớn như VPBank.

Lãi suất ngân hàng “lặng sóng”

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, nhóm ngân hàng "tứ trụ" gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank vẫn giữ mức lãi suất huy động thấp, ổn định ở mức 1,6 - 2,1%/năm. Nhóm ngân hàng thương mại lớn cũng giữ mức lãi suất không đổi, ngoại trừ VPBank vừa giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống 3,5% vào đầu tháng 6. Ở chiều ngược lại, BacABank sau khi tăng mạnh 0,4% giữa tháng 5 lên 3,9%/năm thì giữ ổn định đến nay; GPBank tăng 0,2% lên 3,45%/năm từ đầu tháng 6.

Cùng chung chuyển động ở kỳ hạn 1 tháng, với kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn thường xuyên được người gửi tiền ưa thích, mức lãi suất tại nhóm ngân hàng nhà nước ổn định quanh 1,9 - 3,5%, không thay đổi. VPBank tiếp tục xuất hiện là một trong những ngân hàng hiếm hoi giảm lãi suất kỳ hạn này hai lần liên tiếp cuối tháng 5 và giữa tháng 6, từ 4,7% xuống 4,4%. Ngược lại, GPBank tăng 0,1% lên 4,9%/năm.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, diễn biến tương tự được ghi nhận. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ ổn định mức 4,6 - 4,7%. Nhóm ngân hàng thương mại lớn như VPBank giảm nhẹ lãi suất 0,1% so với đầu tháng 5. Ở kỳ hạn này, có ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm lãi suất đan xen như: GPbank, BacABank.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tựu trung, trong tháng 6/2025, mặt bằng lãi suất tiết kiệm VND tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì ổn định, với một vài điều chỉnh nhẹ. Ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, nửa đầu tháng 6, nhóm ngân hàng thương mại lớn giảm nhẹ mặt bằng lãi suất 0,3% xuống còn khoảng 3,15%. Trong khi đó, nhóm các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa giữ mức 3,54% suốt cả tháng, còn nhóm quốc doanh ổn định ở mức thấp 1,88%, không có biến động nào được ghi nhận.

Tại kỳ hạn 6 - 9 tháng, nhóm ngân hàng thương mại lớn giảm nhẹ 0,2% còn 4,14%. Các nhóm còn lại mặt bằng lãi suất không đổi. Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tại các nhóm ngân hàng gần như không biến động. Nhóm ngân hàng thương mại lớn và nhóm ngân hàng thương mại nhà nước duy trì mức trung bình 4,68%; nhóm ngân hàng tầm trung và nhỏ giữ mức cao hơn 5,2%, phản ánh xu hướng cạnh tranh trong huy động vốn của khối này.

Ngân hàng nào đang trả lãi cao nhất?

Trong bối cảnh lãi suất huy động neo giữ ở mức thấp và "lặng sóng", bảng xếp hạng lãi suất tiết kiệm cao nhất toàn ngành ngân hàng cũng ít biến động. Ở nhóm nhà băng quốc doanh, Agribank dẫn đầu bảng ở kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng, với lãi suất lần lượt là 2,1%/năm; 2,4%/năm và 3,5%/năm. Ở kỳ hạn dài hơn 12 tháng, cả ba ngân hàng quốc doanh đồng loạt niêm yết lãi suất 4,7%/năm, ngoại trừ Vietcombank thấp hơn.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6
Mặt bằng lãi suất hiện đang bị giám sát chặt chẽ, khiến nhiều ngân hàng khó có thể điều chỉnh tăng mà phải duy trì ở mức thấp theo đúng định hướng. Ảnh minh hoạ.

Với nhóm các ngân hàng lớn, dù điều chỉnh giảm lãi suất nhiều lần, VPBank giữ vị trí đầu bảng các kỳ hạn từ 1 - 12 tháng, riêng kỳ hạn 24 tháng, MB dẫn đầu với 5,7%/năm.

Với các nhà băng tầm trung và nhỏ, trong tháng 5 và tháng 6/2025, thứ hạng top 3 các ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất ở từng kỳ hạn chủ yếu biến động ở kỳ hạn dài 12 - 24 tháng so với tháng trước.

Tựu trung, theo dữ liệu của phóng viên, ở nhóm nhà băng quy mô vừa và nhỏ, qua hai tháng liên tiếp, top 3 ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất toàn ngành ít thay đổi ở tất cả các kỳ hạn, MBV, BacABank và Vikki Bank hiện diện xuyên suốt ở top đầu, VCBNeo giữ lợi thế ở các kỳ hạn ngắn.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng thứ hạng không thay đổi, VCBNeo (CBBank) giữ vững vị trí dẫn đầu với mức lãi suất 4,05%/năm trong cả hai tháng. BacABank đứng thứ hai với mức 3,9%, trong khi MBV (Oceanbank) duy trì vị trí thứ ba với 3,8%.

Với kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn phổ biến với người gửi tiền, BacABank sau khi tăng lãi suất cuối tháng 5, tiếp tục giữ vị trí số 1 với mức lãi suất 5,35%/năm. MBV giữ vị trí thứ hai với 5,3%.

Ở kỳ hạn dài hơn có sự thay đổi thứ hạng đáng kể, theo đó, khi hút tiền gửi 12 tháng, MBV duy trì vị trí đầu bảng với mức lãi suất 5,7%, trong khi BacABank lùi về vị trí thứ hai do mới điều chỉnh giảm nhẹ lãi suất; Vikki Bank vẫn ở vị trí thứ ba, với mức lãi 5,23%/năm.

Đối với kỳ hạn dài 24 tháng có nhiều xáo trộn, sau khi BacABank giảm 0,1% lãi suất, vị trí dẫn đầu gồm ba nhà băng gồm BacABank, MBV và BVBank cùng niêm yết 5,9%/năm. VikkiBank là 5,82%, tiếp tục bám sát top đầu như trong tháng trước. Vietbank đứng top 3 với lãi suất 5,8%/năm./.

Lãi suất thấp hơn cả thời Covid-19, ngân hàng tìm cách "lách" giữ chân khách hàng

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, mặt bằng lãi suất huy động nói chung trên toàn thị trường hiện đang ổn định và ở mức thấp hơn cả giai đoạn Covid-19 trong suốt hơn 1 năm qua. Đây là một yếu tố quan trọng, giúp lãi suất tiếp tục là công cụ hỗ trợ hiệu quả cho nền kinh tổ trong nước, trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều biến động khó lường.

Cũng theo chuyên gia từ Công ty cổ phần Chứng khoán Guotai Junan, tính đến cuối tháng 5, lãi suất huy động giảm khoảng 0,2% từ đầu năm, tuy nhiên lãi suất trung bình cho vay trên thị trường giảm ở tốc độ thấp hơn, khoảng 0,1%.

Trao đổi với phóng viên, nhân viên một ngân hàng cho biết, từ tháng trước đến nay, lãi suất huy động liên tục giảm nhẹ, mỗi lần giảm khoảng 0,1 - 0,2%. Do mặt bằng lãi suất hiện đã ở mức thấp, nên nhiều ngân hàng hiện không tiếp tục điều chỉnh giảm thêm nữa. "Lãi suất tiết kiệm đang chịu sự giám sát chặt chẽ và khó có khả năng tăng" - nhân viên này nói.

Chính vì vậy, để giữ chân dòng tiền của khách hàng, nhiều ngân hàng "lách" bằng cách triển khai các sản phẩm đi kèm, tránh bị ràng buộc bởi trần lãi suất và định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Đơn cử, cộng thêm lãi suất ưu đãi trong khoảng 0,3 - 0,6% cho khách hàng ưu tiên khi gửi số tiền lớn, kỳ hạn trên 6 tháng. Bên cạnh đó, nhà băng này đang cung cấp hợp đồng vay cho công ty đối tác, với lãi suất hấp dẫn, cao hơn 2%/năm các kỳ hạn.

Khi tham gia các sản phẩm này, điều khách hàng quan tâm nhất là tính an toàn và tính cam kết thanh toán đúng hạn của ngân hàng. Vì vậy, sau khi khách hàng ký hợp đồng cho vay với công ty đó, ngân hàng sau đó ban hành "thông báo cấp tín dụng có điều kiện", thể hiện rằng khách hàng có thể vay lại trước hạn và ngân hàng sẵn sàng nhận hợp đồng cho vay tiền này làm tài sản đảm bảo, khác với thông thường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80