Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất tiết kiệm nửa đầu tháng 6 chỉ biến động nhẹ ở một số ngân hàng, thậm chí “chạm đáy” thấp hơn cả thời Covid-19. Trong bối cảnh lãi suất ở mức thấp và "lặng sóng", các nhà băng tìm cách "lách" quy định bằng cách tung sản phẩm kèm ưu đãi để giữ chân khách hàng.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 4/2025 Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5

Khảo sát của phóng viên cho thấy, từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 6/2025, mặt bằng lãi suất huy động tiết kiệm tại các ngân hàng thương mại nhìn chung giữ xu hướng ổn định, chỉ ghi nhận một vài điều chỉnh cục bộ tại một số ngân hàng quy mô nhỏ và một số thời điểm ở nhóm ngân hàng lớn như VPBank.

Lãi suất ngân hàng “lặng sóng”

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, nhóm ngân hàng "tứ trụ" gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV, Agribank vẫn giữ mức lãi suất huy động thấp, ổn định ở mức 1,6 - 2,1%/năm. Nhóm ngân hàng thương mại lớn cũng giữ mức lãi suất không đổi, ngoại trừ VPBank vừa giảm nhẹ lãi suất 0,1% xuống 3,5% vào đầu tháng 6. Ở chiều ngược lại, BacABank sau khi tăng mạnh 0,4% giữa tháng 5 lên 3,9%/năm thì giữ ổn định đến nay; GPBank tăng 0,2% lên 3,45%/năm từ đầu tháng 6.

Cùng chung chuyển động ở kỳ hạn 1 tháng, với kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn thường xuyên được người gửi tiền ưa thích, mức lãi suất tại nhóm ngân hàng nhà nước ổn định quanh 1,9 - 3,5%, không thay đổi. VPBank tiếp tục xuất hiện là một trong những ngân hàng hiếm hoi giảm lãi suất kỳ hạn này hai lần liên tiếp cuối tháng 5 và giữa tháng 6, từ 4,7% xuống 4,4%. Ngược lại, GPBank tăng 0,1% lên 4,9%/năm.

Ở kỳ hạn dài hơn như 12 tháng, diễn biến tương tự được ghi nhận. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục giữ ổn định mức 4,6 - 4,7%. Nhóm ngân hàng thương mại lớn như VPBank giảm nhẹ lãi suất 0,1% so với đầu tháng 5. Ở kỳ hạn này, có ngân hàng điều chỉnh tăng, giảm lãi suất đan xen như: GPbank, BacABank.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Tựu trung, trong tháng 6/2025, mặt bằng lãi suất tiết kiệm VND tại các ngân hàng thương mại nhìn chung duy trì ổn định, với một vài điều chỉnh nhẹ. Ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, nửa đầu tháng 6, nhóm ngân hàng thương mại lớn giảm nhẹ mặt bằng lãi suất 0,3% xuống còn khoảng 3,15%. Trong khi đó, nhóm các ngân hàng quy mô nhỏ và vừa giữ mức 3,54% suốt cả tháng, còn nhóm quốc doanh ổn định ở mức thấp 1,88%, không có biến động nào được ghi nhận.

Tại kỳ hạn 6 - 9 tháng, nhóm ngân hàng thương mại lớn giảm nhẹ 0,2% còn 4,14%. Các nhóm còn lại mặt bằng lãi suất không đổi. Ở kỳ hạn 12 tháng, lãi suất tại các nhóm ngân hàng gần như không biến động. Nhóm ngân hàng thương mại lớn và nhóm ngân hàng thương mại nhà nước duy trì mức trung bình 4,68%; nhóm ngân hàng tầm trung và nhỏ giữ mức cao hơn 5,2%, phản ánh xu hướng cạnh tranh trong huy động vốn của khối này.

Ngân hàng nào đang trả lãi cao nhất?

Trong bối cảnh lãi suất huy động neo giữ ở mức thấp và "lặng sóng", bảng xếp hạng lãi suất tiết kiệm cao nhất toàn ngành ngân hàng cũng ít biến động. Ở nhóm nhà băng quốc doanh, Agribank dẫn đầu bảng ở kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng, với lãi suất lần lượt là 2,1%/năm; 2,4%/năm và 3,5%/năm. Ở kỳ hạn dài hơn 12 tháng, cả ba ngân hàng quốc doanh đồng loạt niêm yết lãi suất 4,7%/năm, ngoại trừ Vietcombank thấp hơn.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất nửa đầu tháng 6
Mặt bằng lãi suất hiện đang bị giám sát chặt chẽ, khiến nhiều ngân hàng khó có thể điều chỉnh tăng mà phải duy trì ở mức thấp theo đúng định hướng. Ảnh minh hoạ.

Với nhóm các ngân hàng lớn, dù điều chỉnh giảm lãi suất nhiều lần, VPBank giữ vị trí đầu bảng các kỳ hạn từ 1 - 12 tháng, riêng kỳ hạn 24 tháng, MB dẫn đầu với 5,7%/năm.

Với các nhà băng tầm trung và nhỏ, trong tháng 5 và tháng 6/2025, thứ hạng top 3 các ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất ở từng kỳ hạn chủ yếu biến động ở kỳ hạn dài 12 - 24 tháng so với tháng trước.

Tựu trung, theo dữ liệu của phóng viên, ở nhóm nhà băng quy mô vừa và nhỏ, qua hai tháng liên tiếp, top 3 ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất toàn ngành ít thay đổi ở tất cả các kỳ hạn, MBV, BacABank và Vikki Bank hiện diện xuyên suốt ở top đầu, VCBNeo giữ lợi thế ở các kỳ hạn ngắn.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng thứ hạng không thay đổi, VCBNeo (CBBank) giữ vững vị trí dẫn đầu với mức lãi suất 4,05%/năm trong cả hai tháng. BacABank đứng thứ hai với mức 3,9%, trong khi MBV (Oceanbank) duy trì vị trí thứ ba với 3,8%.

Với kỳ hạn 6 tháng, kỳ hạn phổ biến với người gửi tiền, BacABank sau khi tăng lãi suất cuối tháng 5, tiếp tục giữ vị trí số 1 với mức lãi suất 5,35%/năm. MBV giữ vị trí thứ hai với 5,3%.

Ở kỳ hạn dài hơn có sự thay đổi thứ hạng đáng kể, theo đó, khi hút tiền gửi 12 tháng, MBV duy trì vị trí đầu bảng với mức lãi suất 5,7%, trong khi BacABank lùi về vị trí thứ hai do mới điều chỉnh giảm nhẹ lãi suất; Vikki Bank vẫn ở vị trí thứ ba, với mức lãi 5,23%/năm.

Đối với kỳ hạn dài 24 tháng có nhiều xáo trộn, sau khi BacABank giảm 0,1% lãi suất, vị trí dẫn đầu gồm ba nhà băng gồm BacABank, MBV và BVBank cùng niêm yết 5,9%/năm. VikkiBank là 5,82%, tiếp tục bám sát top đầu như trong tháng trước. Vietbank đứng top 3 với lãi suất 5,8%/năm./.

Lãi suất thấp hơn cả thời Covid-19, ngân hàng tìm cách "lách" giữ chân khách hàng

Theo nhận định của Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, mặt bằng lãi suất huy động nói chung trên toàn thị trường hiện đang ổn định và ở mức thấp hơn cả giai đoạn Covid-19 trong suốt hơn 1 năm qua. Đây là một yếu tố quan trọng, giúp lãi suất tiếp tục là công cụ hỗ trợ hiệu quả cho nền kinh tổ trong nước, trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn còn nhiều biến động khó lường.

Cũng theo chuyên gia từ Công ty cổ phần Chứng khoán Guotai Junan, tính đến cuối tháng 5, lãi suất huy động giảm khoảng 0,2% từ đầu năm, tuy nhiên lãi suất trung bình cho vay trên thị trường giảm ở tốc độ thấp hơn, khoảng 0,1%.

Trao đổi với phóng viên, nhân viên một ngân hàng cho biết, từ tháng trước đến nay, lãi suất huy động liên tục giảm nhẹ, mỗi lần giảm khoảng 0,1 - 0,2%. Do mặt bằng lãi suất hiện đã ở mức thấp, nên nhiều ngân hàng hiện không tiếp tục điều chỉnh giảm thêm nữa. "Lãi suất tiết kiệm đang chịu sự giám sát chặt chẽ và khó có khả năng tăng" - nhân viên này nói.

Chính vì vậy, để giữ chân dòng tiền của khách hàng, nhiều ngân hàng "lách" bằng cách triển khai các sản phẩm đi kèm, tránh bị ràng buộc bởi trần lãi suất và định hướng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Đơn cử, cộng thêm lãi suất ưu đãi trong khoảng 0,3 - 0,6% cho khách hàng ưu tiên khi gửi số tiền lớn, kỳ hạn trên 6 tháng. Bên cạnh đó, nhà băng này đang cung cấp hợp đồng vay cho công ty đối tác, với lãi suất hấp dẫn, cao hơn 2%/năm các kỳ hạn.

Khi tham gia các sản phẩm này, điều khách hàng quan tâm nhất là tính an toàn và tính cam kết thanh toán đúng hạn của ngân hàng. Vì vậy, sau khi khách hàng ký hợp đồng cho vay với công ty đó, ngân hàng sau đó ban hành "thông báo cấp tín dụng có điều kiện", thể hiện rằng khách hàng có thể vay lại trước hạn và ngân hàng sẵn sàng nhận hợp đồng cho vay tiền này làm tài sản đảm bảo, khác với thông thường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Kim TT/AVPL 17,060 ▲330K 17,360 ▲330K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Nguyên Liệu 99.99 16,350 ▲550K 16,550 ▲550K
Nguyên Liệu 99.9 16,300 ▲550K 16,500 ▲550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▲500K 17,300 ▲500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▲500K 17,250 ▲500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▲500K 17,230 ▲500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Hà Nội - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đà Nẵng - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Miền Tây - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Tây Nguyên - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 ▲3500K 173,500 ▲3500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Nghệ An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
Miếng SJC Thái Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 ▲330K 17,350 ▲330K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,540 ▲330K 17,240 ▲330K
Trang sức 99.99 16,550 ▲330K 17,250 ▲330K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 ▲33K 17,352 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 ▲33K 17,353 ▲330K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 ▲1536K 1,733 ▲1563K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 ▲1536K 1,734 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 ▲1518K 1,718 ▲33K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▲3267K 170,099 ▲3267K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▲2475K 129,013 ▲2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▲2245K 116,986 ▲2245K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▲2013K 104,958 ▲2013K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▲1924K 100,319 ▲1924K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▲1376K 71,798 ▲1376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 ▲33K 1,735 ▲33K
Cập nhật: 25/03/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17832 18106 18682
CAD 18571 18848 19462
CHF 32708 33093 33738
CNY 0 3470 3830
EUR 29935 30208 31236
GBP 34503 34895 35829
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15021 15608
SGD 20048 20331 20860
THB 722 786 839
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,003 30,027 31,269
JPY 161.07 161.36 170.07
GBP 34,604 34,698 35,678
AUD 18,016 18,081 18,653
CAD 18,748 18,808 19,385
CHF 32,919 33,021 33,792
SGD 20,142 20,205 20,878
CNY - 3,758 3,858
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.18 16.87 18.24
THB 766.78 776.25 826.5
NZD 14,967 15,106 15,460
SEK - 2,772 2,854
DKK - 4,016 4,132
NOK - 2,664 2,742
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,211.87 - 6,971.6
TWD 743.5 - 895.18
SAR - 6,895.13 7,218.34
KWD - 83,583 88,386
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26359
AUD 17999 18099 19024
CAD 18748 18848 19864
CHF 32939 32969 34548
CNY 3758.2 3783.2 3918.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30103 30133 31856
GBP 34783 34833 36593
HKD 0 3355 0
JPY 162.25 162.75 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15121 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20203 20333 21066
THB 0 751 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,359
USD20 26,175 26,225 26,359
USD1 26,175 26,225 26,359
AUD 18,065 18,165 19,280
EUR 30,242 30,242 31,656
CAD 18,717 18,817 20,130
SGD 20,292 20,442 21,453
JPY 162.64 164.14 168.74
GBP 34,660 35,010 35,884
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,670 0
THB 0 785 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80