Lãi suất huy động nhích lên sau nhiều tuần "lặng sóng"

Tú Anh
(TBTCO) - Sau nhiều tuần trầm lắng, lãi suất huy động rục rịch tăng cục bộ ở một số ngân hàng, trong khi lãi suất liên ngân hàng cũng nhích lên ở kỳ hạn ngắn. Theo giới chuyên gia, dù Fed hạ lãi suất, dư địa giảm thêm cuối năm vẫn hạn hẹp và chỉ có thể tính đến trong năm sau.
aa

Lãi suất huy động rục rịch tăng

Khảo sát của phóng viên từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9 cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động hầu như đứng yên, khi phần lớn 30 ngân hàng lớn trong hệ thống không có động thái điều chỉnh. GPBank có động thái điều chỉnh, nhưng khá thấp khi nâng lãi suất huy động kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng tại quầy 0,1 điểm phần trăm, lên 3,55%/năm và 3,65%/năm; trong khi các kỳ hạn dài 6, 12 và 24 tháng lại được hạ nhẹ, lần lượt 4,8%; 5,1% và 5,1%/năm.

Mãi đến tuần cuối tháng 9, thị trường ghi nhận chuyển động mới từ VPBank và BacABank. Đáng chú ý, VPBank nâng lãi suất huy động kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng 0,3 điểm phần trăm, từ 3,6% lên 3,9%, đồng thời tăng kỳ hạn 6 - 9 tháng lên 4,8%. Đây là mức điều chỉnh đáng chú ý những tuần gần đây. BacABank cũng điều chỉnh tương tự, đưa lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên 4% (tăng 0,2 điểm phần trăm), 3 tháng lên 4,3% (tăng 0,2 điểm phần trăm), 6 tháng lên 5,4%/năm (tăng 0,15 điểm phần trăm) và 9 tháng lên 5,45%/năm (tăng 0,1 điểm phần trăm).

Lãi suất huy động nhích lên sau nhiều tuần
Nguồn: Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất trong tuần qua ghi nhận xu hướng tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn ngắn. Theo đó, ngày 26/9, lãi suất qua đêm tăng 0,49 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, lên 4,38%. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng mạnh nhất, lần lượt cộng thêm 1,25 và 0,81 điểm phần trăm, đưa lãi suất lên vùng 5,3 - 5,8%. Trong khi đó, kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,15 điểm phần trăm, duy trì quanh 5,2 - 5,4%; trong khi kỳ hạn 3 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm lùi về khoảng 5,2%. Diễn biến này phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng, khiến lãi suất ngắn ngày bật lên rõ rệt.

Nhiều ý kiến cho rằng, từ nay đến cuối năm, nhiều yếu tố có thể tạo áp lực lên lãi suất huy động. Trước hết, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp để mở rộng sản xuất, phục vụ tiêu dùng dịp cao điểm cuối năm sẽ buộc các ngân hàng phải tăng cường huy động để đáp ứng.

Bên cạnh đó, nhu cầu chi tiêu và tâm lý tiết kiệm của người dân cũng tác động đến dòng tiền gửi khi người dân rút tiền ra phục vụ mua sắm, khiến ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt hơn để hút vốn. Thanh khoản hệ thống thường căng hơn vào giai đoạn cuối năm, buộc các nhà băng phải đẩy mạnh thu hút tiền gửi, qua đó, có thể đẩy lãi suất huy động đi lên. Ngoài ra, các chương trình ưu đãi, cộng lãi suất ở một số kỳ hạn cũng sẽ được tung ra để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.

Dư địa giảm lãi suất hạn hẹp

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giảm lãi suất, nhưng khả năng lãi suất trong nước giảm thêm là khó. Ông Độ phân tích, thứ nhất, cầu tín dụng năm nay cao hơn do định hướng tăng trưởng tín dụng lớn, nhu cầu vay vốn tăng. Thứ hai, tỷ giá vẫn chịu áp lực, do đó, việc duy trì được lãi suất ổn định như hiện tại đã là tốt.

Dù Fed hạ lãi suất, dư địa cho chính sách tiền tệ vẫn hẹp

Việc Fed hạ lãi suất giúp sức ép tỷ giá dịu bớt, Ngân hàng Nhà nước có thêm dư địa để có thể hỗ trợ lãi suất ngắn hạn, chủ yếu hỗ trợ trên thị trường liên ngân hàng. Nhờ đó, áp lực lãi suất trên thị trường 1 (giao dịch giữa các chế độ tài chính chính với doanh nghiệp và dân cư) có thể giảm phần nào, nhưng lãi suất trung và dài hạn thì áp lực vẫn còn. Chính sách tiền tệ hiện đã gặp nhiều giới hạn, nên việc nới lỏng thêm cũng khó. TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính)

Việc duy trì lãi suất như hiện tại hoặc tăng nhẹ được TS. Nguyễn Đức Độ coi là hợp lý. Khi lãi suất huy động khó giảm thêm thì khó có dư địa để hạ lãi suất cho vay hơn. Trong đó, áp lực chủ yếu dồn vào các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Bởi lãi suất ngắn hạn vẫn được Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thông qua thị trường liên ngân hàng.

Cũng theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, Ngân hàng Nhà nước đang tích cực hỗ trợ, điều tiết thanh khoản thông qua kênh nghiệp vụ thị trường.

"Chúng tôi duy trì dự báo lãi suất liên ngân hàng sẽ biến động trong vùng 4 - 5% cho tới cuối năm. Bên cạnh đó, lãi suất kỳ hạn 6 tháng của nhóm 14 ngân hàng thương mại lớn được dự báo chỉ tăng nhẹ khoảng 20 điểm cơ bản, nhưng vẫn duy trì ở vùng thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế" - nhóm phân tích đánh giá.

Cùng chung quan điểm khả năng lãi suất giảm mạnh hơn vào cuối năm nay rất khó, theo ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, lãi suất không thể điều chỉnh một cách đơn lẻ, mà phải cân bằng lợi ích giữa người vay và người gửi tiền. Vì vậy, đưa lãi suất xuống thấp hơn trong bối cảnh hiện tại là không dễ dàng.

"Theo dự báo của UOB, Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất thêm hai lần vào tháng 10 và tháng 12 năm nay, đưa mặt bằng lãi suất của Mỹ về mức 3,75%. Sang năm 2026, Fed có thể tiếp tục hạ lãi suất thêm hai lần nữa, kéo mặt bằng lãi suất về dưới 3,5%. Đây sẽ là cơ sở thuận lợi để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét cắt giảm lãi suất VND" - ông Quang nhìn nhận.

Đại diện UOB khuyến nghị, với nhu cầu vốn trung và dài hạn, doanh nghiệp khi mở rộng sản xuất, kinh doanh nên từng bước giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Hiện vốn trung và dài hạn đang là gánh nặng lớn đối với hệ thống tổ chức tín dụng, nếu không tháo gỡ, áp lực lãi suất sẽ còn kéo dài. Do đó, cần có cơ chế san sẻ gánh nặng vốn trung và dài hạn sang các kênh thị trường khác, thay vì chỉ dựa vào ngân hàng. Đây mới là giải pháp căn cơ, giúp doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển bền vững hơn.

Theo dõi sát thị trường để định hướng lãi suất

Sau nhiều lần trì hoãn, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã thực hiện đợt cắt giảm lãi suất đầu tiên trong năm 2025, giảm 25 điểm cơ bản, đưa mức điều hành xuống 4 - 4,25%/năm. Fed đồng thời phát tín hiệu có thể tiếp tục hạ thêm 0,5 điểm phần trăm, kéo lãi suất về khoảng 3,5 - 3,75% vào cuối năm nếu dữ liệu kinh tế ủng hộ. Trong nước, lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước hiện ở mức 4,5%/năm, nhỉnh hơn đôi chút so với lãi suất cho vay qua đêm của Mỹ (4,25%).

Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê và Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, việc Fed chậm nới lỏng chính sách thời gian qua đã tạo áp lực lớn cho hoạt động điều hành của nhiều ngân hàng trung ương, trong đó có Việt Nam. Do đó, quyết định giảm lãi suất lần này được trông đợi, bởi sẽ góp phần giảm sức ép lên tỷ giá và tạo thêm dư địa cho chính sách tiền tệ.

Về điều hành trong nước, Ngân hàng Nhà nước chủ động hạ lãi suất điều hành xuống mức thấp; đồng thời, yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, công khai lãi suất cho vay trên website để minh bạch thông tin, tạo thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn.

"Tính đến ngày 10/9, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,52%/năm, giảm thêm 0,41 điểm phần trăm so với cuối năm 2024" - ông Lân thông tin.

Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát. Trong đó, chú trọng điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn hỗ trợ thanh khoản, cho vay theo các chương trình của Chính phủ. Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ theo dõi sát tình hình kinh tế để có điều chỉnh lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Tú Anh

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80