Lãi suất huy động nhích lên sau nhiều tuần "lặng sóng"

Tú Anh
(TBTCO) - Sau nhiều tuần trầm lắng, lãi suất huy động rục rịch tăng cục bộ ở một số ngân hàng, trong khi lãi suất liên ngân hàng cũng nhích lên ở kỳ hạn ngắn. Theo giới chuyên gia, dù Fed hạ lãi suất, dư địa giảm thêm cuối năm vẫn hạn hẹp và chỉ có thể tính đến trong năm sau.
aa

Lãi suất huy động rục rịch tăng

Khảo sát của phóng viên từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9 cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động hầu như đứng yên, khi phần lớn 30 ngân hàng lớn trong hệ thống không có động thái điều chỉnh. GPBank có động thái điều chỉnh, nhưng khá thấp khi nâng lãi suất huy động kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng tại quầy 0,1 điểm phần trăm, lên 3,55%/năm và 3,65%/năm; trong khi các kỳ hạn dài 6, 12 và 24 tháng lại được hạ nhẹ, lần lượt 4,8%; 5,1% và 5,1%/năm.

Mãi đến tuần cuối tháng 9, thị trường ghi nhận chuyển động mới từ VPBank và BacABank. Đáng chú ý, VPBank nâng lãi suất huy động kỳ hạn ngắn 1 - 3 tháng 0,3 điểm phần trăm, từ 3,6% lên 3,9%, đồng thời tăng kỳ hạn 6 - 9 tháng lên 4,8%. Đây là mức điều chỉnh đáng chú ý những tuần gần đây. BacABank cũng điều chỉnh tương tự, đưa lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên 4% (tăng 0,2 điểm phần trăm), 3 tháng lên 4,3% (tăng 0,2 điểm phần trăm), 6 tháng lên 5,4%/năm (tăng 0,15 điểm phần trăm) và 9 tháng lên 5,45%/năm (tăng 0,1 điểm phần trăm).

Lãi suất huy động nhích lên sau nhiều tuần
Nguồn: Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất trong tuần qua ghi nhận xu hướng tăng nhẹ ở hầu hết các kỳ hạn ngắn. Theo đó, ngày 26/9, lãi suất qua đêm tăng 0,49 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, lên 4,38%. Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng mạnh nhất, lần lượt cộng thêm 1,25 và 0,81 điểm phần trăm, đưa lãi suất lên vùng 5,3 - 5,8%. Trong khi đó, kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,15 điểm phần trăm, duy trì quanh 5,2 - 5,4%; trong khi kỳ hạn 3 tháng giảm 0,2 điểm phần trăm lùi về khoảng 5,2%. Diễn biến này phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng, khiến lãi suất ngắn ngày bật lên rõ rệt.

Nhiều ý kiến cho rằng, từ nay đến cuối năm, nhiều yếu tố có thể tạo áp lực lên lãi suất huy động. Trước hết, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp để mở rộng sản xuất, phục vụ tiêu dùng dịp cao điểm cuối năm sẽ buộc các ngân hàng phải tăng cường huy động để đáp ứng.

Bên cạnh đó, nhu cầu chi tiêu và tâm lý tiết kiệm của người dân cũng tác động đến dòng tiền gửi khi người dân rút tiền ra phục vụ mua sắm, khiến ngân hàng phải cạnh tranh quyết liệt hơn để hút vốn. Thanh khoản hệ thống thường căng hơn vào giai đoạn cuối năm, buộc các nhà băng phải đẩy mạnh thu hút tiền gửi, qua đó, có thể đẩy lãi suất huy động đi lên. Ngoài ra, các chương trình ưu đãi, cộng lãi suất ở một số kỳ hạn cũng sẽ được tung ra để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư.

Dư địa giảm lãi suất hạn hẹp

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giảm lãi suất, nhưng khả năng lãi suất trong nước giảm thêm là khó. Ông Độ phân tích, thứ nhất, cầu tín dụng năm nay cao hơn do định hướng tăng trưởng tín dụng lớn, nhu cầu vay vốn tăng. Thứ hai, tỷ giá vẫn chịu áp lực, do đó, việc duy trì được lãi suất ổn định như hiện tại đã là tốt.

Dù Fed hạ lãi suất, dư địa cho chính sách tiền tệ vẫn hẹp

Việc Fed hạ lãi suất giúp sức ép tỷ giá dịu bớt, Ngân hàng Nhà nước có thêm dư địa để có thể hỗ trợ lãi suất ngắn hạn, chủ yếu hỗ trợ trên thị trường liên ngân hàng. Nhờ đó, áp lực lãi suất trên thị trường 1 (giao dịch giữa các chế độ tài chính chính với doanh nghiệp và dân cư) có thể giảm phần nào, nhưng lãi suất trung và dài hạn thì áp lực vẫn còn. Chính sách tiền tệ hiện đã gặp nhiều giới hạn, nên việc nới lỏng thêm cũng khó. TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính (Học viện Tài chính)

Việc duy trì lãi suất như hiện tại hoặc tăng nhẹ được TS. Nguyễn Đức Độ coi là hợp lý. Khi lãi suất huy động khó giảm thêm thì khó có dư địa để hạ lãi suất cho vay hơn. Trong đó, áp lực chủ yếu dồn vào các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Bởi lãi suất ngắn hạn vẫn được Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thông qua thị trường liên ngân hàng.

Cũng theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, Ngân hàng Nhà nước đang tích cực hỗ trợ, điều tiết thanh khoản thông qua kênh nghiệp vụ thị trường.

"Chúng tôi duy trì dự báo lãi suất liên ngân hàng sẽ biến động trong vùng 4 - 5% cho tới cuối năm. Bên cạnh đó, lãi suất kỳ hạn 6 tháng của nhóm 14 ngân hàng thương mại lớn được dự báo chỉ tăng nhẹ khoảng 20 điểm cơ bản, nhưng vẫn duy trì ở vùng thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế" - nhóm phân tích đánh giá.

Cùng chung quan điểm khả năng lãi suất giảm mạnh hơn vào cuối năm nay rất khó, theo ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, lãi suất không thể điều chỉnh một cách đơn lẻ, mà phải cân bằng lợi ích giữa người vay và người gửi tiền. Vì vậy, đưa lãi suất xuống thấp hơn trong bối cảnh hiện tại là không dễ dàng.

"Theo dự báo của UOB, Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất thêm hai lần vào tháng 10 và tháng 12 năm nay, đưa mặt bằng lãi suất của Mỹ về mức 3,75%. Sang năm 2026, Fed có thể tiếp tục hạ lãi suất thêm hai lần nữa, kéo mặt bằng lãi suất về dưới 3,5%. Đây sẽ là cơ sở thuận lợi để Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét cắt giảm lãi suất VND" - ông Quang nhìn nhận.

Đại diện UOB khuyến nghị, với nhu cầu vốn trung và dài hạn, doanh nghiệp khi mở rộng sản xuất, kinh doanh nên từng bước giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Hiện vốn trung và dài hạn đang là gánh nặng lớn đối với hệ thống tổ chức tín dụng, nếu không tháo gỡ, áp lực lãi suất sẽ còn kéo dài. Do đó, cần có cơ chế san sẻ gánh nặng vốn trung và dài hạn sang các kênh thị trường khác, thay vì chỉ dựa vào ngân hàng. Đây mới là giải pháp căn cơ, giúp doanh nghiệp và nền kinh tế phát triển bền vững hơn.

Theo dõi sát thị trường để định hướng lãi suất

Sau nhiều lần trì hoãn, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã thực hiện đợt cắt giảm lãi suất đầu tiên trong năm 2025, giảm 25 điểm cơ bản, đưa mức điều hành xuống 4 - 4,25%/năm. Fed đồng thời phát tín hiệu có thể tiếp tục hạ thêm 0,5 điểm phần trăm, kéo lãi suất về khoảng 3,5 - 3,75% vào cuối năm nếu dữ liệu kinh tế ủng hộ. Trong nước, lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước hiện ở mức 4,5%/năm, nhỉnh hơn đôi chút so với lãi suất cho vay qua đêm của Mỹ (4,25%).

Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, Thống kê và Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cho rằng, việc Fed chậm nới lỏng chính sách thời gian qua đã tạo áp lực lớn cho hoạt động điều hành của nhiều ngân hàng trung ương, trong đó có Việt Nam. Do đó, quyết định giảm lãi suất lần này được trông đợi, bởi sẽ góp phần giảm sức ép lên tỷ giá và tạo thêm dư địa cho chính sách tiền tệ.

Về điều hành trong nước, Ngân hàng Nhà nước chủ động hạ lãi suất điều hành xuống mức thấp; đồng thời, yêu cầu các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, công khai lãi suất cho vay trên website để minh bạch thông tin, tạo thuận lợi cho khách hàng tiếp cận vốn.

"Tính đến ngày 10/9, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,52%/năm, giảm thêm 0,41 điểm phần trăm so với cuối năm 2024" - ông Lân thông tin.

Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát. Trong đó, chú trọng điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn hỗ trợ thanh khoản, cho vay theo các chương trình của Chính phủ. Ngân hàng Nhà nước cũng sẽ theo dõi sát tình hình kinh tế để có điều chỉnh lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ.

Tú Anh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30