Giá nhà Việt Nam gấp đôi chuẩn thế giới, song siết tín dụng chưa đủ để trúng đích

(TBTCO) - Giá nhà tại Việt Nam hiện cao gấp đôi chuẩn thế giới, tỷ lệ rất bất hợp lý với thu nhập khiến người dân phải mất tới 60 năm tích lũy mới mua được nhà. Dù vậy, các chuyên gia cho rằng, trước khi siết tín dụng căn nhà thứ 2, cần xây dựng hệ thống dữ liệu “sống”, sạch và đồng bộ chính sách thuế, lãi suất mới đánh trúng, đánh đúng đối tượng.
aa
Giá nhà gấp 27 lần thu nhập hộ gia đình, tín dụng nghiêng mạnh về bất động sản Tình trạng "lệch pha” cung cầu trên thị trường bất động sản vẫn chưa được cải thiện Nâng tỷ lệ đặt cọc liệu có chặn “thao túng” đấu giá đất?

Chiều ngày 22/10, Báo Lao Động tổ chức tọa đàm truyền hình với chủ đề “Giải mã dòng vốn bất động sản và cơ hội cho người mua nhà ở thực”. Tọa đàm tập trung phân tích tác động của chính sách siết tín dụng bất động sản và tìm giải pháp giúp người dân tiếp cận nguồn vốn mua nhà an toàn, hiệu quả.

Giá nhà gấp đôi chuẩn thế giới, quá cao so với thu nhập

Chia sẻ tại toạ đàm, TS. Trần Xuân Lượng - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu, Đánh giá thị trường Bất động sản (VARS IRE) chia sẻ với những người mua nhà trong bối cảnh hiện nay, việc mua được nhà, đặc biệt ở các đô thị lớn là rất khó. Hiện Bộ Xây dựng đang gánh trách nhiệm điều tiết thị trường và giá nhà, yếu tố tác động lớn đến an sinh xã hội và cả nền kinh tế.

Giá nhà Việt Nam gấp đôi chuẩn thế giới, song siết tín dụng chưa đủ để trúng đích
Tọa đàm “Giải mã dòng vốn bất động sản và cơ hội cho người mua nhà ở thực”. Ảnh: Báo Lao Động.

Theo ông Lượng, so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia hay Singapore, chúng ta đang có tỷ lệ rất bất hợp lý. Theo đó, thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình cao của Việt Nam khoảng 7.000 - 8.000 USD/năm, trong khi giá nhà lên tới 80 - 100 triệu đồng/m2. Với thu nhập như vậy, người dân phải mất 40 - 50 năm, thậm chí 60 năm mới mua được nhà. Trong khi đó, ở Thái Lan, thu nhập bình quân khoảng 12.000 USD/năm, giá nhà chỉ 2.500 - 3.000 USD/m2.

"Nếu so sánh tương quan, tỷ lệ giữa thu nhập và giá nhà ở Việt Nam khoảng 30 - 40 lần, trong khi ở các nước chỉ khoảng 15 - 18 lần, tiêu chuẩn trung bình toàn cầu là khoảng 15 lần. Như vậy, giá nhà của Việt Nam đang gấp đôi chuẩn thế giới là quá cao" - TS. Trần Xuân Lượng phân tích.

"Có nhiều nguyên nhân khiến giá nhà tăng cao, nhưng trọng tâm vẫn là khó tiếp cận vốn. Nhà ở là khoản đầu tư dài hạn, nên Nhà nước cần mở rộng các quỹ nhà ở, không thể phụ thuộc hoàn toàn vào vốn tín dụng ngắn hạn của ngân hàng. Dù nhà nước chỉ đạo giảm lãi suất 1 - 2% so với thương mại, nhưng thực tế người vay vẫn phải mua thêm các gói dịch vụ khác, tính ra còn tốn hơn" - Phó Viện trưởng Viện VARS IRE đánh giá.

Cùng với đó, chúng ta đang vướng ở giá đất. Do chưa có dữ liệu chuẩn nên vẫn dựa vào giá đấu, mà càng đấu thì giá càng lên. Một nguyên nhân nữa là quy hoạch tổng thể chưa tốt.

Sắp tới, nếu quy hoạch tốt, phát triển hạ tầng giao thông, đặc biệt là đường vành đai, hệ thống tàu điện, mở rộng đô thị vệ tinh, gắn kết khu ở với khu sản xuất, người dân không cần phải di chuyển 1 - 2 giờ/ngày để đi làm. Khi đó, chi phí xã hội sẽ giảm, giá nhà cũng sẽ bớt áp lực.

Ngoài ra, bản chất thị trường bất động sản là cung luôn chậm hơn cầu. Nếu quy trình cấp phép vẫn mất 2 - 3 năm mới ra được giấy phép đầu tư thì không thể cứu nổi thị trường. Do đó, khâu thực thi phải nhanh, phải tháo gỡ ngay điểm nghẽn này.

Trong bối cảnh Bộ Xây dựng đang lấy ý kiến về đề xuất hạn chế cho vay mua căn nhà thứ 2, trừ nhà ở xã hội, nhiều ý kiến cho rằng đây là bước đi cần thiết để ngăn đầu cơ, nhưng cũng dấy lên lo ngại sẽ ảnh hưởng đến thanh khoản thị trường.

Theo đề xuất của Bộ Xây dựng, trường hợp mua nhà ở thứ 2 áp hạn mức cho vay không quá 50% giá trị hợp đồng mua bán nhà. Với trường hợp mua nhà ở thứ 3 trở lên sẽ áp hạn mức cho vay không quá 30% giá trị hợp đồng mua bán nhà.

Cần cả điều kiện cần và đủ để đánh trúng đối tượng

Đánh giá về đề xuất hạn chế cho vay mua căn nhà thứ 2, TS. Trần Xuân Lượng cho rằng, trước khi đánh thuế hay ban hành chính sách, chúng ta cần có dữ liệu, mà phải là dữ liệu “sống”, dữ liệu sạch. Hiện điều này vẫn chưa có, nên chính sách thường mang tính “chữa bệnh lâm sàng”, không có tầm dài hạn.

Giá nhà Việt Nam gấp đôi chuẩn thế giới, song siết tín dụng chưa đủ để trúng đích
Tỷ lệ giữa thu nhập và giá nhà ở Việt Nam cao gấp khoảng 30 - 40 lần, gấp đôi chuẩn thế giới. Ảnh minh hoạ.

"Việc Bộ Xây dựng đề xuất phân biệt giữa nhà thứ nhất và nhà thứ 2 là cần thiết, phù hợp xu hướng thế giới, nhưng đó mới là giải pháp ngắn hạn. Về lâu dài, phải đồng bộ dữ liệu và hệ thống pháp luật thì mới đánh trúng, đánh đúng đối tượng. Nếu vội vàng áp dụng, chắc chắn sẽ có tác động tới thị trường, thậm chí khiến thị trường “phanh gấp”, gây phản ứng dây chuyền" - ông Lượng lưu ý.

Cần dữ liệu sạch, sống, đầy đủ

"Đề xuất trên cơ bản hợp lý và được coi là một biện pháp cần áp dụng một cách có lộ trình phù hợp và trong những điều kiện hoàn cảnh phù hợp. Nhìn vào thực tế thị trường, việc áp dụng chính sách một cách hiệu quả cần có 2 điều kiện là điều kiện cần và điều kiện đủ. Điều kiện cần là cơ sở dữ liệu về thị trường bất động sản. Dữ liệu phải thực sự sạch, sống, đầy đủ và luôn luôn cập nhật" - Luật sư Phạm Thanh Tuấn phân tích.

Cùng chung quan điểm, Luật sư Phạm Thanh Tuấn - Đoàn Luật sư TP.Hà Nội cho rằng, về tổng thể, đề xuất giới hạn chế tín dụng đối với người sở hữu nhiều bất động sản là ngôi nhà từ thứ 2 trở lên, về mặt lý thuyết sẽ tác động khó khăn đến với những người nắm giữ nhiều bất động sản.

"Khi áp dụng giới hạn tín dụng đối với cái ngôi nhà thứ 2 trở đi theo đề xuất của Bộ Xây dựng sẽ tác động đến nguồn vốn của các ngân hàng dành cho các chủ đầu tư. Trước hết, đề xuất này sẽ tác động đến số lượng giao dịch giữa chủ đầu tư và những người mua nhà" - ông Tuấn nhận định.

Khi không có đầy đủ dữ liệu về thị trường bất động sản, Luật sư Phạm Thanh Tuấn cho rằng, không thể có cơ sở xác định liệu một cá nhân đang nắm giữ bao nhiêu bất động sản. Đây được coi là điều kiện tiên quyết.

"Điều kiện đủ để áp dụng thì các chính sách của chúng ta phải có sự đồng bộ. Bên cạnh chính sách về tín dụng, chúng ta phải áp dụng thêm những chính sách mới về lãi suất, về thuế chống đầu cơ. Điều quan trọng nhất là cải thiện nguồn cung" - Luật sư Phạm Thanh Tuấn nhấn mạnh.

Ông Nguyễn Quang Huy - Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường Đại học Nguyễn Trãi) bổ sung thêm, việc đưa ra giới hạn tín dụng đối với những người mua căn nhà thứ 2 hiện nay mới chỉ dựa trên tiêu chí số lượng.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy có người mua hai căn nhà, tổng giá trị chỉ khoảng 5 tỷ đồng, trong khi có người chỉ mua một căn nhưng giá trị lên tới 1 - 2 triệu USD. Như vậy, giữa hai trường hợp này là sự chênh lệch rất lớn. Do đó, chúng ta vừa phải có tiêu chí về số lượng, vừa phải tính đến giá trị của tài sản.

Ở góc độ nguồn vốn, TS. Trần Xuân Lượng góp ý thêm, hiện Việt Nam chưa có dòng vốn dài hạn cho lĩnh vực này mà chủ yếu dựa vào ngân hàng. Ở nhiều quốc gia như Singapore hay Hàn Quốc, người dân có quỹ tiết kiệm nhà ở, trích từ thu nhập ngay khi bắt đầu đi làm. Khi tích lũy được 40 - 50% giá trị căn nhà, phần còn lại được Nhà nước cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi. Nhờ vậy, họ có cả nguồn đất sạch và vốn dài hạn để bảo đảm mục tiêu nhà ở bền vững./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30