Công ty tài chính EVF báo lãi hơn 900 tỷ đồng, nhiều dấu ấn năm "sang trang" mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Điện lực (EVF) ghi nhận lợi nhuận trước thuế 9 tháng năm 2025 đạt 904,7 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử hoạt động nhờ tốc độ tăng 68,4% so với cùng kỳ, giúp hoàn thành 94% kế hoạch năm. Năm 2025 được xem là dấu mốc bản lề với nhiều bước chuyển mạnh trong chiến lược phát triển của EVF.
aa

Bức tranh đa màu quanh hiện tượng ngân hàng bán công ty tài chính

Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay
EVNFinance lộ loạt sai phạm khi tín dụng dồn nhóm khách lớn, cho vay "vượt rào"

Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Điện lực (EVF - mã Ck: EVF) vừa công bố báo cáo tài chính quý III/2025.

Theo báo cáo tài chính do EVF công bố, lợi nhuận trước thuế công ty lũy kế 9 tháng đạt 904,7 tỷ đồng, tăng 68,4% so với cùng kỳ năm trước.

Riêng trong quý III, EVF ghi nhận lợi nhuận 306,5 tỷ đồng mức cao nhất theo quý và tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2024. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, EVF đã hoàn thành 94% kế hoạch lợi nhuận năm 2025 (960 tỷ đồng).

Với việc hoàn thành 94% kế hoạch lợi nhuận trước thuế cả năm 2025 tính đến hết quý III/, dự kiến, EVF sẽ hoàn thành vượt kế hoạch lợi nhuận đề ra, do thời điểm quý IV là giai đoạn bứt tốc trong mùa cao điểm cuối năm.

Tính đến cuối tháng 9/2025, tổng tài sản của EVF đạt 71.622 tỷ đồng, tăng 12.023 tỷ đồng (tương đương tăng 20,2%) so với đầu năm 2025.

Tổng tài sản tăng mạnh, chủ yếu nhờ tăng dư nợ cho vay khách hàng; tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác tăng từ 4.892 tỷ đồng lên 10.168 tỷ đồng và chứng khoán kinh doanh, đầu tư tăng từ 2.616 tỷ đồng lên 3.754 tỷ đồng. Điều này phản ánh, EVF mở rộng quy mô hoạt động, tăng khả năng sinh lời và tăng trưởng tổng tài sản.

Trong đó, dư nợ tín dụng của EVF đạt 51.335,2 tỷ đồng, tăng gần 9,73% so với đầu năm, góp phần giúp thu nhập lãi thuần tăng mạnh, đạt 1.433,4 tỷ đồng, tăng 24,4%. Đặc biệt, theo đại diện EVF, biên lãi ròng (NIM) vẫn được duy trì ổn định ở mức 3,28%, cao hơn mức trung bình của nhiều công ty tài chính tiêu dùng hiện nay.

Công ty tài chính EVF báo lãi hơn 900 tỷ đồng, nhiều dấu ấn năm
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Bên cạnh đó, lãi thuần từ hoạt động đầu tư chứng khoán 9 tháng năm 2025 đạt 145,6 tỷ đồng, đảo chiều so với con số âm 43,6 tỷ đồng cùng kỳ năm trước, phản ánh hiệu quả từ chiến lược đầu tư an toàn và ưu tiên kiểm soát rủi ro. Đồng thời, thu nhập từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần đạt 41,6 tỷ đồng, gấp 6 lần cùng kỳ; kinh doanh ngoại hối dù đem lại khoảng 1,5 tỷ đồng nhưng khả quan so với mức âm cùng kỳ.

Ở chiều ngược lại, hoạt động khác vẫn chưa ghi nhận kết quả tích cực khi chỉ đem về gần 25 tỷ đồng, giảm 37,3% cùng kỳ.

Cũng theo EVF, tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) chỉ ở mức 9,85%, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung toàn ngành. Đây được xem là một lợi thế đáng kể của EVF, sự tối ưu này đến từ quá trình chuyển đổi số mạnh mẽ và chiến lược tinh gọn bộ máy của EVF vài năm trở lại đây. Khi chi phí được kiểm soát chặt, biên lợi nhuận được nâng cao mà không cần chạy theo tăng trưởng rủi ro.

Bên cạnh đó, EVF tiếp tục đẩy mạnh tín dụng hướng đến các lĩnh vực năng lượng sạch như: điện mặt trời, xe điện và các mô hình sản xuất thân thiện môi trường..., thay vì cho vay ngắn hạn truyền thống, Các sản phẩm tín dụng xanh không chỉ giúp EVF mở rộng tệp khách hàng tiềm năng, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi trong và ngoài nước, có thể mang lại lợi thế dài hạn.

Năm 2025 được coi là năm bản lề trong chiến lược phát triển của EVF khi hàng loạt thay đổi lớn đã được triển khai đồng bộ, từ việc đổi tên từ Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFinance) thành Công ty Tài chính Tổng hợp Cổ phần Điện lực (EVF); ra mắt logo và bộ nhận diện thương hiệu mới sau 17 năm hoạt động và chuyển trụ sở chính cuối tháng 9/2025 vừa qua./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

(TBTCO) - Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển khi mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo đại diện HSBC Việt Nam, trước bài toán xanh, doanh nghiệp có thể tiếp cận đa dạng công cụ tài chính để "xanh hóa" hoạt động thường nhật, thay vì phải chờ một dự án lớn hoặc một khoản vay dài hạn mới có thể tiếp cận nguồn vốn.
Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

(TBTCO) - BIDV dự kiến chi hơn 3.276 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt năm 2025 với tỷ lệ 4,5%, tương ứng 450 đồng/cổ phiếu. Tính đến cuối quý I/2026, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế của ngân hàng đạt 51.588 tỷ đồng. Song song với đó, BIDV triển khai các kế hoạch tăng vốn, hướng tới quy mô vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Kim TT/AVPL 14,450 ▼100K 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,450 ▼100K 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▲100K 13,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▲100K 13,550 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▲200K 14,400 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▲200K 14,350 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▲200K 14,330 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
NL 99.90 12,950 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼100K
Trang sức 99.9 14,040 ▲50K 14,740 ▲50K
Trang sức 99.99 14,050 ▲50K 14,750 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 146 ▼1309K 14,902 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 146 ▼1309K 14,903 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,457 ▲5K 1,487 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,457 ▲5K 1,488 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,432 ▲5K 1,467 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,248 ▲496K 145,248 ▲496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,386 ▲375K 110,186 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,116 ▲340K 99,916 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,846 ▲305K 89,646 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,885 ▲292K 85,685 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,153 ▼46168K 6,133 ▼54988K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cập nhật: 09/07/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17975 18550
CAD 18004 18279 18893
CHF 31953 32334 32971
CNY 0 3829 3921
EUR 29423 29643 30717
GBP 34468 34860 35790
HKD 0 3223 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14767 15354
SGD 19796 20077 20649
THB 702 765 818
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26470
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,471
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,548 29,572 30,956
JPY 157.53 157.81 167.22
GBP 34,646 34,740 35,909
AUD 17,902 17,967 18,628
CAD 18,193 18,251 18,908
CHF 32,196 32,296 33,229
SGD 19,923 19,985 20,748
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 16.03 16.72 18.17
THB 749.96 759.22 812.4
NZD 14,753 14,890 15,318
SEK - 2,672 2,764
DKK - 3,952 4,089
NOK - 2,646 2,737
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,030.46 - 6,803.75
TWD 737.66 - 892.87
SAR - 6,885.26 7,246.01
KWD - 83,171 88,419
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,471
EUR 29,492 29,610 30,802
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,021 32,150 33,083
JPY 157.84 158.47 166.37
AUD 17,888 17,960 18,554
SGD 19,990 20,070 20,658
THB 766 769 805
CAD 18,238 18,311 18,884
NZD 14,814 15,355
KRW 16.76 18.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26471
AUD 17893 17993 18919
CAD 18212 18312 19325
CHF 32204 32234 33808
CNY 3809 3834 3969.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29616 29646 31371
GBP 34754 34804 36562
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19964 20094 20821
THB 0 731.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,126 26,176 26,471
USD20 26,126 26,176 26,471
USD1 26,126 26,176 26,471
AUD 17,944 18,044 19,149
EUR 29,419 29,519 31,178
CAD 18,161 18,261 19,568
SGD 20,047 20,197 20,755
JPY 158.96 160.46 166
GBP 34,663 34,813 35,875
XAU 14,548,000 0 14,902,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/07/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80