Bức tranh đa màu quanh hiện tượng ngân hàng bán công ty tài chính

Chí Tín
(TBTCVN) - Các công ty tài chính có những giai đoạn tạo ra hệ số biên độ lãi ròng (NIM) lớn cho một số ngân hàng. Tuy nhiên, việc một số ngân hàng đang nối đuôi nhau bán đi “con gà đẻ trứng vàng” một thời này đã để lại nhiều băn khoăn trong giới đầu tư.
aa

nh

Với lãi suất cho vay tiêu dùng cao, các công ty tài chính tiêu dùng luôn đem lại hệ số biên độ lãi ròng mơ ước cho các ngân hàng.

Nối nhau bán công ty tài chính

Thời gian vừa qua, lác đác xuất hiện những cuộc chia tay của nhiều ngân hàng với các công ty tài chính tiêu dùng.

Một số ngân hàng gần đây đang hé lộ động thái có thể bán các công ty tài chính thuộc các ngân hàng sở hữu là Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Theo đó, SHB đã chính thức có nghị quyết Hội đồng quản trị thông qua việc bán/chuyển nhượng 100% vốn tại Công ty TNHH MTV Tài chính SHB (SHB FC). Đối tác nhận chuyển nhượng là Bank of Ayudhya Publish Company Limited.

Tài chính tiêu dùng hấp dẫn

các đối tác ngoại


Dù ít nhiều có những mặt bất lợi, nhưng mảng tài chính tiêu dùng cũng không phải “khúc xương” khó nuốt đối với các ngân hàng, mà thị trường đang hình thành một xu hướng chuyên nghiệp hóa hơn. Theo đó, những đối tác ngoại có thế mạnh trong việc quản trị các công ty tài chính tiêu dùng sẽ muốn tiếp quản các công ty này để theo đuổi những mục tiêu riêng của họ trong việc tiếp cận thị trường nội địa.
Chẳng hạn như đối tác mua FE Credit, Tập đoàn SMBC là công ty tài chính tiêu dùng dẫn đầu Nhật Bản với hơn 900 chi nhánh và đã thành lập các công ty con tại Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và Trung Quốc… Việc SMBC đầu tư vào FE Credit cũng nằm trong toan tính dài hơi của tập đoàn này nhằm mở rộng nền tảng kinh doanh tại châu Á.

Trong khi đó, MSB có có thể sẽ thoái vốn tại Công ty tài chính FCCOM, ngân hàng này kỳ vọng thương vụ dự kiến hoàn tất trong năm 2022, phụ thuộc vào việc cấp phép của Ngân hàng Nhà nước.

Trước đó hồi quý II/2021, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã đạt thỏa thuận bán 49% vốn tại Công ty Tài chính TNHH MTV Việt Nam Thịnh Vượng (FE Credit) cho Tập đoàn Tài chính Sumitomo Mitsui (Tập đoàn SMBC).

Động thái bán công ty tài chính tiêu dùng của các ngân hàng cũng đặt ra nhiều thắc mắc, bởi đây đã từng là những “con gà đẻ trứng vàng” trong những năm trước. Lý do là, với lãi suất cho vay tiêu dùng cao, các công ty tài chính tiêu dùng luôn đem lại hệ số biên độ lãi ròng mơ ước cho các ngân hàng có thế mạnh ở lĩnh vực này. Năm 2020, VPBank – một ngân hàng có thế mạnh trong cho vay tiêu dùng – được ghi nhận có hệ số biên độ lãi ròng đạt tới 8,7%. Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn cả những ngân hàng có thế mạnh huy động vốn giá rẻ từ tiền gửi không kỳ hạn.

Gió đổi chiều?

Thực chất, việc thoái vốn tại các công ty tài chính tiêu dùng cũng có thể xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có cả lý do “được giá thì bán”. Chẳng hạn như trường hợp VP Bank, thương vụ thoái vốn tại FE Credit được định giá lên tới 2,8 tỷ USD. Tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 2021 của VPBank, ông Ngô Trí Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị cho biết, nguồn tiền thu về từ việc thoái vốn sẽ giúp VPBank tăng cường năng lực tài chính, qua đó giúp ngân hàng có thể đầu tư thêm cho một số mảng hoạt động như ngân hàng đầu tư, quản lý tài sản…

Tuy nhiên diễn biến năm 2021 cho thấy, hoạt động kinh doanh của các công ty con của VP Bank không “dễ thở” chút nào trong khó khăn mùa dịch. Kết quả lợi nhuận sau thuế hợp nhất nửa đầu năm 2021 của VPBank đạt 7.218 tỷ đồng, thấp khá nhiều so với lợi nhuận sau thuế của riêng ngân hàng mẹ với 9.946 tỷ đồng. Điều này cho thấy, các công ty con đang “kìm chân” ngân hàng mẹ khá nhiều, trong khi trong kỳ tài chính bán niên 2021, VP Bank cũng chỉ có 2 công ty con hợp nhất vào báo cáo tài chính là FE Credit và một công ty nữa là Công ty quản lý tài sản VP Bank AMC.

Ngoài ra, các ngân hàng hiện nay cũng đang chịu áp lực khá lớn trong việc tăng các chỉ số về an toàn tài chính. Trong khi đó, các công ty tài chính tiêu dùng tuy có thể có những giai đoạn đem nguồn thu cao, nhưng ở mặt bằng chung thì tỷ lệ nợ xấu từ các công ty này thường cao hơn so với tín dụng ngân hàng thông thường.

Nói về tính chất các công ty tài chính tiêu dùng, đại diện của một công ty tài chính cho biết, với một ngân hàng thông thường thì việc giữ nợ xấu dưới 3% là điều dễ, nhưng với công ty tài chính tiêu dùng việc này là rất khó. Lý do là, tính chất hoạt động của mảng tài chính tiêu dùng là cho vay cá nhân tín chấp, nên tình trạng nợ xấu không thể dùng làm tiêu chí chung để so sánh như các ngân hàng. Ông Nguyễn Thành Long, Giám đốc Câu lạc bộ pháp chế thuộc Hiệp hội Ngân hàng cũng tiết lộ, thống kê sơ bộ hiện nay cho biết, tỷ lệ nợ xấu bình quân của các công ty tài chính có thị phần lớn trên thị trường hiện lên tới 6 - 7%.

Với tính chất có phần khác nhau như trên, các ngân hàng khi hợp nhất báo cáo tài chính các công ty tài chính tiêu dùng con vào báo cáo tài chính hợp nhất toàn hệ thống thì ít nhiều tỷ lệ nợ xấu bình quân hợp nhất cũng sẽ bị kéo lên cao hơn so với báo cáo riêng ngân hàng mẹ.

Đơn cử như trường hợp VP Bank, dư nợ cho vay hợp nhất tại thời điểm giữa năm 2021 là 306.026 tỷ đồng, số dự phòng rủi ro là 4.027 tỷ đồng, tỷ lệ trích lập theo đó là khoảng gần 1,6%. Trong khi đó với riêng ngân hàng mẹ, tổng dư nợ cho vay là 249.560 tỷ đồng, số dự phòng rủi ro là 3.035 tỷ đồng, tỷ lệ trích lập chỉ hơn 1,2%.

Khẩn trương hoàn thiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

giai đoạn 2021 - 2025


Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo 232/TB-VPCP ngày 6/9/2021 kết luận của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái tại cuộc họp về Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.

Theo thông báo này, Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến của các cơ quan tại cuộc họp, hoàn chỉnh Đề án, bảo đảm chất lượng, thiết thực, cụ thể, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đạt được mục tiêu đề ra.

Trong đó, đối với một số mục tiêu, NHNN nghiên cứu đưa ra chỉ tiêu phù hợp, trên cơ sở kết quả thực hiện giai đoạn trước và điều kiện triển khai của giai đoạn 2021 - 2025. Xem xét tính toán xây dựng khung chỉ tiêu để bảo đảm khả thi, phù hợp thực tế, địa bàn, địa lý.

Về giải pháp: Quán triệt nguyên tắc thiết kế các giải pháp tạo môi trường, điều kiện ưu đãi, khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt theo quy định của pháp luật, không đưa các giải pháp mang tính chất thủ tục hành chính bắt buộc, đặc biệt là làm tăng chi phí. Nghiên cứu có cơ chế, giải pháp tăng lợi ích để khuyến khích và tuyên truyền, hướng dẫn, nâng cao nhận thức, thói quen của người dân đối với các lợi ích của thanh toán không dùng tiền mặt.

Về tổ chức thực hiện: Rà soát để bổ sung quy định về phân công trách nhiệm thực hiện cụ thể cho các bộ, cơ quan với nhiệm vụ rõ ràng, có thời gian thực hiện, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, cơ quan kiểm tra, đánh giá, để bảo đảm đạt được mục tiêu chung của Đề án. Nghiên cứu kỹ về sự cần thiết xây dựng Luật Thanh toán.

NHNN khẩn trương trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ tại cuộc họp ngày 21/7/2021, bảo đảm an ninh tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống, bí mật cá nhân, tạo môi trường cạnh tranh, công bằng, công khai, minh bạch và theo đúng quy định của pháp luật.

Phó Thủ tướng yêu cầu NHNN khẩn trương chủ trì, nghiên cứu, hoàn thiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 theo các nội dung nêu trên, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành trong tháng 9/2021.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Hơn 3 triệu cổ phiếu được đăng ký mua sau 2 ngày, F88 chuẩn bị chiến lược mới ngoài mảng cầm cố

Hơn 3 triệu cổ phiếu được đăng ký mua sau 2 ngày, F88 chuẩn bị chiến lược mới ngoài mảng cầm cố

(TBTCO) - Hệ thống F88 hiện có gần 1.000 phòng giao dịch trên toàn quốc và đặt mục tiêu trở thành nền tảng tài chính toàn diện, với kế hoạch mở rộng sang các sản phẩm tích lũy và đầu tư. Sau 2 ngày chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, doanh nghiệp đã ghi nhận 3,24 triệu cổ phiếu được đăng ký mua, tương đương khoảng 230 tỷ đồng.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Kim TT/AVPL 14,450 ▼100K 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,450 ▼100K 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▲100K 13,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▲100K 13,550 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▲200K 14,400 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▲200K 14,350 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▲200K 14,330 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
NL 99.90 12,950 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼100K
Trang sức 99.9 14,040 ▲50K 14,740 ▲50K
Trang sức 99.99 14,050 ▲50K 14,750 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 146 ▼1309K 14,902 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 146 ▼1309K 14,903 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,457 ▲5K 1,487 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,457 ▲5K 1,488 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,432 ▲5K 1,467 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,248 ▲496K 145,248 ▲496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,386 ▲375K 110,186 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,116 ▲340K 99,916 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,846 ▲305K 89,646 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,885 ▲292K 85,685 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,153 ▼46168K 6,133 ▼54988K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cập nhật: 09/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17701 17974 18550
CAD 18004 18279 18896
CHF 31919 32300 32935
CNY 0 3829 3922
EUR 29411 29632 30709
GBP 34459 34850 35795
HKD 0 3224 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14759 15347
SGD 19793 20075 20646
THB 702 765 818
USD (1,2) 26027 0 0
USD (5,10,20) 26068 0 0
USD (50,100) 26097 26111 26471
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,471
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,548 29,572 30,956
JPY 157.53 157.81 167.22
GBP 34,646 34,740 35,909
AUD 17,902 17,967 18,628
CAD 18,193 18,251 18,908
CHF 32,196 32,296 33,229
SGD 19,923 19,985 20,748
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 16.03 16.72 18.17
THB 749.96 759.22 812.4
NZD 14,753 14,890 15,318
SEK - 2,672 2,764
DKK - 3,952 4,089
NOK - 2,646 2,737
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,030.46 - 6,803.75
TWD 737.66 - 892.87
SAR - 6,885.26 7,246.01
KWD - 83,171 88,419
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,471
EUR 29,492 29,610 30,802
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,021 32,150 33,083
JPY 157.84 158.47 166.37
AUD 17,888 17,960 18,554
SGD 19,990 20,070 20,658
THB 766 769 805
CAD 18,238 18,311 18,884
NZD 14,814 15,355
KRW 16.76 18.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26471
AUD 17893 17993 18919
CAD 18212 18312 19325
CHF 32204 32234 33808
CNY 3809 3834 3969.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29616 29646 31371
GBP 34754 34804 36562
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19964 20094 20821
THB 0 731.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,126 26,176 26,471
USD20 26,126 26,176 26,471
USD1 26,126 26,176 26,471
AUD 17,944 18,044 19,149
EUR 29,419 29,519 31,178
CAD 18,161 18,261 19,568
SGD 20,047 20,197 20,755
JPY 158.96 160.46 166
GBP 34,663 34,813 35,875
XAU 14,548,000 0 14,902,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80