Bức tranh đa màu quanh hiện tượng ngân hàng bán công ty tài chính

Chí Tín
(TBTCVN) - Các công ty tài chính có những giai đoạn tạo ra hệ số biên độ lãi ròng (NIM) lớn cho một số ngân hàng. Tuy nhiên, việc một số ngân hàng đang nối đuôi nhau bán đi “con gà đẻ trứng vàng” một thời này đã để lại nhiều băn khoăn trong giới đầu tư.
aa

nh

Với lãi suất cho vay tiêu dùng cao, các công ty tài chính tiêu dùng luôn đem lại hệ số biên độ lãi ròng mơ ước cho các ngân hàng.

Nối nhau bán công ty tài chính

Thời gian vừa qua, lác đác xuất hiện những cuộc chia tay của nhiều ngân hàng với các công ty tài chính tiêu dùng.

Một số ngân hàng gần đây đang hé lộ động thái có thể bán các công ty tài chính thuộc các ngân hàng sở hữu là Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB). Theo đó, SHB đã chính thức có nghị quyết Hội đồng quản trị thông qua việc bán/chuyển nhượng 100% vốn tại Công ty TNHH MTV Tài chính SHB (SHB FC). Đối tác nhận chuyển nhượng là Bank of Ayudhya Publish Company Limited.

Tài chính tiêu dùng hấp dẫn

các đối tác ngoại


Dù ít nhiều có những mặt bất lợi, nhưng mảng tài chính tiêu dùng cũng không phải “khúc xương” khó nuốt đối với các ngân hàng, mà thị trường đang hình thành một xu hướng chuyên nghiệp hóa hơn. Theo đó, những đối tác ngoại có thế mạnh trong việc quản trị các công ty tài chính tiêu dùng sẽ muốn tiếp quản các công ty này để theo đuổi những mục tiêu riêng của họ trong việc tiếp cận thị trường nội địa.
Chẳng hạn như đối tác mua FE Credit, Tập đoàn SMBC là công ty tài chính tiêu dùng dẫn đầu Nhật Bản với hơn 900 chi nhánh và đã thành lập các công ty con tại Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và Trung Quốc… Việc SMBC đầu tư vào FE Credit cũng nằm trong toan tính dài hơi của tập đoàn này nhằm mở rộng nền tảng kinh doanh tại châu Á.

Trong khi đó, MSB có có thể sẽ thoái vốn tại Công ty tài chính FCCOM, ngân hàng này kỳ vọng thương vụ dự kiến hoàn tất trong năm 2022, phụ thuộc vào việc cấp phép của Ngân hàng Nhà nước.

Trước đó hồi quý II/2021, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) đã đạt thỏa thuận bán 49% vốn tại Công ty Tài chính TNHH MTV Việt Nam Thịnh Vượng (FE Credit) cho Tập đoàn Tài chính Sumitomo Mitsui (Tập đoàn SMBC).

Động thái bán công ty tài chính tiêu dùng của các ngân hàng cũng đặt ra nhiều thắc mắc, bởi đây đã từng là những “con gà đẻ trứng vàng” trong những năm trước. Lý do là, với lãi suất cho vay tiêu dùng cao, các công ty tài chính tiêu dùng luôn đem lại hệ số biên độ lãi ròng mơ ước cho các ngân hàng có thế mạnh ở lĩnh vực này. Năm 2020, VPBank – một ngân hàng có thế mạnh trong cho vay tiêu dùng – được ghi nhận có hệ số biên độ lãi ròng đạt tới 8,7%. Tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn cả những ngân hàng có thế mạnh huy động vốn giá rẻ từ tiền gửi không kỳ hạn.

Gió đổi chiều?

Thực chất, việc thoái vốn tại các công ty tài chính tiêu dùng cũng có thể xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có cả lý do “được giá thì bán”. Chẳng hạn như trường hợp VP Bank, thương vụ thoái vốn tại FE Credit được định giá lên tới 2,8 tỷ USD. Tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên 2021 của VPBank, ông Ngô Trí Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị cho biết, nguồn tiền thu về từ việc thoái vốn sẽ giúp VPBank tăng cường năng lực tài chính, qua đó giúp ngân hàng có thể đầu tư thêm cho một số mảng hoạt động như ngân hàng đầu tư, quản lý tài sản…

Tuy nhiên diễn biến năm 2021 cho thấy, hoạt động kinh doanh của các công ty con của VP Bank không “dễ thở” chút nào trong khó khăn mùa dịch. Kết quả lợi nhuận sau thuế hợp nhất nửa đầu năm 2021 của VPBank đạt 7.218 tỷ đồng, thấp khá nhiều so với lợi nhuận sau thuế của riêng ngân hàng mẹ với 9.946 tỷ đồng. Điều này cho thấy, các công ty con đang “kìm chân” ngân hàng mẹ khá nhiều, trong khi trong kỳ tài chính bán niên 2021, VP Bank cũng chỉ có 2 công ty con hợp nhất vào báo cáo tài chính là FE Credit và một công ty nữa là Công ty quản lý tài sản VP Bank AMC.

Ngoài ra, các ngân hàng hiện nay cũng đang chịu áp lực khá lớn trong việc tăng các chỉ số về an toàn tài chính. Trong khi đó, các công ty tài chính tiêu dùng tuy có thể có những giai đoạn đem nguồn thu cao, nhưng ở mặt bằng chung thì tỷ lệ nợ xấu từ các công ty này thường cao hơn so với tín dụng ngân hàng thông thường.

Nói về tính chất các công ty tài chính tiêu dùng, đại diện của một công ty tài chính cho biết, với một ngân hàng thông thường thì việc giữ nợ xấu dưới 3% là điều dễ, nhưng với công ty tài chính tiêu dùng việc này là rất khó. Lý do là, tính chất hoạt động của mảng tài chính tiêu dùng là cho vay cá nhân tín chấp, nên tình trạng nợ xấu không thể dùng làm tiêu chí chung để so sánh như các ngân hàng. Ông Nguyễn Thành Long, Giám đốc Câu lạc bộ pháp chế thuộc Hiệp hội Ngân hàng cũng tiết lộ, thống kê sơ bộ hiện nay cho biết, tỷ lệ nợ xấu bình quân của các công ty tài chính có thị phần lớn trên thị trường hiện lên tới 6 - 7%.

Với tính chất có phần khác nhau như trên, các ngân hàng khi hợp nhất báo cáo tài chính các công ty tài chính tiêu dùng con vào báo cáo tài chính hợp nhất toàn hệ thống thì ít nhiều tỷ lệ nợ xấu bình quân hợp nhất cũng sẽ bị kéo lên cao hơn so với báo cáo riêng ngân hàng mẹ.

Đơn cử như trường hợp VP Bank, dư nợ cho vay hợp nhất tại thời điểm giữa năm 2021 là 306.026 tỷ đồng, số dự phòng rủi ro là 4.027 tỷ đồng, tỷ lệ trích lập theo đó là khoảng gần 1,6%. Trong khi đó với riêng ngân hàng mẹ, tổng dư nợ cho vay là 249.560 tỷ đồng, số dự phòng rủi ro là 3.035 tỷ đồng, tỷ lệ trích lập chỉ hơn 1,2%.

Khẩn trương hoàn thiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt

giai đoạn 2021 - 2025


Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo 232/TB-VPCP ngày 6/9/2021 kết luận của Phó Thủ tướng Lê Minh Khái tại cuộc họp về Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025.

Theo thông báo này, Phó Thủ tướng giao Ngân hàng Nhà nước (NHNN) nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ các ý kiến của các cơ quan tại cuộc họp, hoàn chỉnh Đề án, bảo đảm chất lượng, thiết thực, cụ thể, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đạt được mục tiêu đề ra.

Trong đó, đối với một số mục tiêu, NHNN nghiên cứu đưa ra chỉ tiêu phù hợp, trên cơ sở kết quả thực hiện giai đoạn trước và điều kiện triển khai của giai đoạn 2021 - 2025. Xem xét tính toán xây dựng khung chỉ tiêu để bảo đảm khả thi, phù hợp thực tế, địa bàn, địa lý.

Về giải pháp: Quán triệt nguyên tắc thiết kế các giải pháp tạo môi trường, điều kiện ưu đãi, khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt, hạn chế thanh toán bằng tiền mặt theo quy định của pháp luật, không đưa các giải pháp mang tính chất thủ tục hành chính bắt buộc, đặc biệt là làm tăng chi phí. Nghiên cứu có cơ chế, giải pháp tăng lợi ích để khuyến khích và tuyên truyền, hướng dẫn, nâng cao nhận thức, thói quen của người dân đối với các lợi ích của thanh toán không dùng tiền mặt.

Về tổ chức thực hiện: Rà soát để bổ sung quy định về phân công trách nhiệm thực hiện cụ thể cho các bộ, cơ quan với nhiệm vụ rõ ràng, có thời gian thực hiện, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, cơ quan kiểm tra, đánh giá, để bảo đảm đạt được mục tiêu chung của Đề án. Nghiên cứu kỹ về sự cần thiết xây dựng Luật Thanh toán.

NHNN khẩn trương trình Chính phủ Nghị định thay thế Nghị định 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt theo đúng chỉ đạo của lãnh đạo Chính phủ tại cuộc họp ngày 21/7/2021, bảo đảm an ninh tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống, bí mật cá nhân, tạo môi trường cạnh tranh, công bằng, công khai, minh bạch và theo đúng quy định của pháp luật.

Phó Thủ tướng yêu cầu NHNN khẩn trương chủ trì, nghiên cứu, hoàn thiện Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 theo các nội dung nêu trên, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành trong tháng 9/2021.

Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80