"Sóng" vàng chao đảo, thị trường chờ tín hiệu rõ rệt từ chính sách mới

(TBTCO) - Giá vàng tuần qua biến động dữ dội, thế giới chứng kiến phiên bán tháo mạnh nhất trong nhiều năm khiến nhà đầu tư đối mặt rủi ro “cầm hòn than nóng”. Trong nước, giá vàng giảm chậm do cung - cầu vẫn lệch pha, thị trường vẫn chờ tác động rõ ràng hơn từ chính sách mới trong việc gỡ nút thắt độc quyền, tăng cung vàng và minh bạch hóa thị trường vàng.
aa
Giá vàng hôm nay (22/10): “Rơi” thẳng đứng Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới? Chính thức bỏ độc quyền, nhiều ngân hàng đủ sức nhập "cuộc đua" sản xuất vàng miếng

Chiều ngày 24/10, giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh, khi vàng miếng mất 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 500 nghìn đến 1 triệu đồng/lượng. Trên thị trường quốc tế, giá vàng rơi khỏi mốc 4.100 USD/ounce, hiện giao dịch quanh 4.084 USD/ounce, giảm hơn 60 USD trong phiên và giảm tới 300 USD so với mức đỉnh.

Giá vàng biến động mạnh, nhà đầu tư vàng dễ “cầm hòn than nóng”

Đơn cử, SJC, DOJI và PNJ cùng niêm yết vàng miếng SJC ở mức 146,5 - 148,5 triệu đồng/lượng, giảm 1 triệu đồng/lượng so với phiên trước. So với đỉnh 151,5 - 153 triệu đồng/lượng ghi nhận ngày 17/10, giá vàng miếng đã giảm 4,5 - 5 triệu đồng/lượng (mua vào -bán ra).

Đối với vàng nhẫn, DOJI niêm yết ở 145,5 - 148,4 triệu đồng/lượng, giảm 900 nghìn đồng/lượng chiều mua và 1 triệu đồng/lượng chiều bán; trong khi SJC công bố mức 145,4 - 147,9 triệu đồng/lượng, giảm 800 nghìn đồng/lượng so với phiên trước.

Tuần qua, giá vàng biến động mạnh, "sóng" vàng chao đảo. Sau khi lập đỉnh ngày 20/10, giá vàng thế giới lao dốc tới 300 USD/ounce ngay phiên ngày 21/10, có thời điểm giảm hơn 6%, ghi nhận đợt bán tháo mạnh nhất trong 13 năm, khi chỉ số DXY vọt lên 99 điểm, mức cao nhất gần 3 tháng qua.

Biến động thị trường vừa qua là quá lớn
Diễn biến giá vàng trong nước 1 tháng qua. Ảnh tư liệu.

Giá vàng trong nước giảm chậm vì nguồn cung vẫn khan hiếm

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu, giá vàng trong nước giảm chậm hơn so với giá vàng thế giới chủ yếu do nguồn cung hạn chế. Nhiều cửa hàng bán ra nhỏ giọt, khiến giá vàng nhẫn có thời điểm cao hơn vàng miếng. Tuy nhiên, những yếu tố nội tại, đặc biệt là tình trạng khan hiếm nguồn cung, vẫn chưa được cải thiện rõ rệt, ngay cả sau khi Nghị định 232/2025/NĐ-CP được ban hành và áp dụng.

Trao đổi với phóng viên về diễn biến giá vàng toàn cầu và trong nước, TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia tài chính ngân hàng cho biết, gần đây giá vàng thế giới có nhịp điều chỉnh giảm khá mạnh, từ khoảng 4.400 USD/ounce xuống còn hơn 4.000 USD/ounce.

Nguyên nhân chính khiến giá vàng giảm là do nhà đầu tư quốc tế chốt lời sau giai đoạn tăng nóng.

Ngoài ra, một số tín hiệu tích cực về địa chính trị cũng góp phần làm giảm áp lực lên giá vàng, như việc Tổng thống Mỹ Donald Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến gặp gỡ tại hội nghị quốc tế sắp tới, cho thấy căng thẳng thương mại có thể hạ nhiệt phần nào. Dù vậy, các yếu tố hỗ trợ giá vàng vẫn hiện hữu.

Chia sẻ gần đây, bà Chu Phương - Chuyên gia vàng bạc cho rằng, biến động thị trường vừa qua là quá lớn, những nhà đầu tư không có trường vốn lớn và không tích sản từ nền giá thấp sẽ rất dễ rơi vào trạng thái lo lắng, hoảng sợ vì chênh lệch giữa giá mua và giá bán đã là vấn đề ngay khi đầu tư.

Bởi người dân mua vàng với giá chẳng hạn 150 triệu đồng/lượng, doanh nghiệp chỉ thu mua lại với giá 147 triệu đồng/lượng, tức là ngay thời điểm đầu tư đã phải chấp nhận khoản lỗ 3 triệu đồng/lượng.

Những nhà đầu tư mới tham gia trong thời gian này, nếu kỳ vọng giá vàng sẽ tăng 60% như trước đây rất dễ bị sốc. Với những nhà đầu tư có tâm lý mua đuổi, vừa chịu rủi ro điều chỉnh thị trường, vừa thêm rủi ro khi có thể giao dịch qua tay trên thị trường “chợ đen”, chẳng khác nào đang “cầm hòn than nóng”. Nhà đầu tư cũng đối diện hai rủi ro, đó là về chất lượng và không có hóa đơn, chứng từ. Do đó, cần hết sức thận trọng khi giao dịch và trước biến động lớn của thị trường.

Cùng với đó, khoảng cách chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới vẫn cao, duy trì trên 12 triệu đồng/lượng những phiên gần đây.

Về vấn đề này, theo ông Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế, giá vàng trong nước chênh với giá vàng thế giới quá cao, hiện khoảng từ 10 - 11%; trong khu vực chỉ khoảng 1,2%. Nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự chênh lệch này là do sự bất ổn, môi trường cạnh tranh không lành mạnh. Việc mua vàng từ thế giới cũng phải theo giá thế giới và diễn biến tỷ giá. Nếu để hiện tượng chênh lệch cao như vậy, tình trạng buôn lậu trốn thuế rất lớn.

Kỳ vọng bước ngoặt khi bỏ độc quyền vàng miếng, vận hành sàn vàng

Đánh giá về tác động lên thị trường vàng khi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) triển khai, theo chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long, Nghị định 232 cho thấy tư duy quản lý mới rất rõ theo nguyên lý thị trường, đặc biệt là xóa độc quyền sản xuất vàng.

Biến động thị trường vừa qua là quá lớn
"Sóng" vàng chao đảo, thị trường chờ tín hiệu rõ rệt từ chính sách mới. Ảnh minh hoạ.

Tuy nhiên, ông Long cho rằng, quy định dường như vẫn quá chặt chẽ. Trước đây, từng có 10, 12 thương hiệu vàng khác nhau, còn với quy định vốn tối thiểu tại Nghị định 232, mới có vài đơn vị đáp ứng, như vậy, hoàn toàn có thể băn khoăn về khả năng độc quyền nhóm. Cùng với đó, trong ngành vàng, công nghệ và kỹ thuật cực kỳ quan trọng. Với các công ty vàng bạc có vốn điều lệ như trên rất ít doanh nghiệp tham gia được, cần có những sửa đổi, hiệu chỉnh hợp lý hơn.

"Việc bỏ độc quyền vàng miếng là bước ngoặt, việc vận hành mô hình sàn vàng là bước đi hợp lý, trong năm 2026 có thể ra đời giúp kiểm soát nguồn lực này tốt. Mục tiêu nhằm minh bạch hóa dữ liệu thị trường, hỗ trợ hoạch định chính sách, giúp kiểm soát hoạt động mua bán bất thường, ngăn chặn rửa tiền và đầu cơ" - lãnh đạo FIDT nhận định.

Cũng theo ông Huỳnh Minh Tuấn - Nhà sáng lập Công ty cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT kiêm Phó Chủ tịch Chứng khoán APG, thị trường vàng trong nước gần đây đang chứng kiến nhiều biến động.

Nghị định 232 được coi là bước đột phá, thể hiện sự chuyển đổi tư duy quản lý vàng từ cách làm “siết chặt” sang “quản lý" theo cơ chế thị trường. Việc siết chặt quá mức trong thời gian qua khiến thị trường méo mó, vì kinh tế thị trường vận hành theo quy luật cung - cầu.

Ước tính người dân đang nắm giữ khoảng 300 - 500 tấn vàng, có nơi ước tới 2.000 tấn, tương đương hàng trăm tỷ USD. Khi quản lý linh hoạt hơn, lượng vàng "nằm im" trước đây có thể được chuyển hóa thành các sản phẩm đầu tư như: phái sinh hoặc giao dịch qua sàn vàng, giúp khơi thông nguồn lực lớn và minh bạch hóa thị trường vàng trong nước. Cùng với những chính sách mới như: bỏ độc quyền vàng và đề xuất đánh thuế thu nhập vàng sẽ giúp thị trường vàng dần ổn định và minh bạch hóa.

Chia sẻ thêm quan điểm về việc thí điểm sàn giao dịch vàng, chuyên gia Ngô Trí Long cho biết, Ngân hàng Nhà nước dự kiến lộ trình thí điểm chia làm 3 giai đoạn, đó là: giai đoạn 1 - vàng nguyên liệu, giai đoạn 2 - vàng vật chất, vàng miếng và giai đoạn 3 - vàng phái sinh. Theo ông Long, quản lý theo cách như vậy rất thận trọng, đúng đắn, bởi còn phải tính đến lưu trữ, kho bãi, thanh toán bù trừ, lưu ký.

"Với mô hình thành lập sàn giao dịch với các tiêu chí minh bạch công khai, cùng huy động nguồn vàng trong dân, nhiều khả năng nguồn cung vàng có thể tăng lên trong trung và dài hạn" - ông Long kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 21/09/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 21/09/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30