Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới?

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục leo thang, chiều bán ra áp sát 134 triệu đồng/lượng, tăng 59% từ đầu năm và vượt xa mức tăng thế giới, đẩy chênh lệch giá nội - ngoại nới rộng. Trong bối cảnh nguồn cung khan hiếm và tâm lý tích trữ mạnh, Nghị định 232/2025/NĐ-CP sắp có hiệu lực được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn cung, góp phần ổn định thị trường.
aa
Chính thức bỏ độc quyền, nhiều ngân hàng đủ sức nhập "cuộc đua" sản xuất vàng miếng Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Giá vàng hôm nay (4/9): Giá vàng tiếp tục tăng, vượt các mức cao kỷ lục từ trước đến nay

Chốt phiên sáng ngày 4/9, giá vàng trong nước tiếp tục đi lên, nối dài đà tăng sau cú bật gần 3 triệu đồng ở phiên trước. Đơn cử, tại Công ty TNHH MTV Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn (SJC), vàng miếng tăng thêm 500 nghìn đồng, lên 132,4 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 133,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. PNJ và DOJI cũng niêm yết mức giá này, đưa chiều bán lên sát 134 triệu đồng/lượng.

Vàng trong nước lên đỉnh, cao hơn thế giới 17,5 triệu đồng/lượng

Vàng nhẫn cũng bứt phá lên kỷ lục mới, sát ngưỡng 130 triệu đồng/lượng. Cụ thể, vàng nhẫn tại SJC tăng 700 nghìn đồng, lên 126,2 triệu đồng/lượng mua vào và 128,7 triệu đồng/lượng bán ra; trong khi tại Công ty PNJ, giá tăng tới 1,1 triệu đồng, lên 126,9 - 129,9 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra).

Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới?
Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới? Ảnh: T.L.

Trên thị trường quốc tế, giá vàng sau khi leo lên mức cao nhất mọi thời đại, đạt 3.640 USD/ounce thì quay đầu giảm mạnh, hiện giao dịch ở mức 3.587,5 USD/ounce.

Vàng miếng SJC tăng 59% từ đầu năm, bỏ xa đà tăng thế giới

Vàng thế giới quy đổi theo giá USD ngân hàng ở mức khoảng 116,4 triệu đồng/lượng (chưa bao gồm thuế, phí), thấp hơn vàng miếng SJC trong nước tới 17,5 triệu đồng mỗi lượng. Từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới tăng 35,8%, tương ứng mức tăng 946 USD/ounce. Còn mức tăng của vàng miếng SJC trong nước lên tới 59%, tương ứng bật tăng 49,7 triệu đồng/lượng chiều bán ra.

Giá vàng leo lên mức cao kỷ lục khi những tín hiệu xấu đi từ thị trường lao động Mỹ làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ sớm nới lỏng chính sách tiền tệ.

Dữ liệu việc làm đáng thất vọng công bố gần đây càng củng cố niềm tin rằng Fed sẽ cắt giảm lãi suất, với khả năng tới 98% thị trường đang định giá một đợt giảm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp ngày 17/9 tới.

Một số nhà phân tích thậm chí không loại trừ kịch bản Fed mạnh tay giảm 50 điểm cơ bản nếu dữ liệu kinh tế sắp tới tiếp tục xấu đi, kịch bản có thể khiến đồng USD yếu hơn và thổi bùng thêm nhu cầu vàng.

Không chỉ yếu tố chính sách, giá vàng còn được nâng đỡ bởi những bất ổn kinh tế - chính trị và những lo ngại về sự độc lập của Fed cùng các chính sách thương mại thay đổi, càng làm nổi bật vai trò trú ẩn truyền thống của kim loại quý.

Đáng chú ý, đồng USD mất khoảng 11% giá trị kể từ khi Tổng thống Trump trở lại Nhà Trắng, khiến vàng trở nên rẻ hơn với nhà đầu tư nắm giữ các đồng tiền khác, qua đó thúc đẩy nhu cầu toàn cầu.

Về dự trữ, Mỹ hiện dẫn đầu với vàng chiếm tới 78% dự trữ chính thức, tiếp đến là Đức với 3.350 tấn (77,5% dự trữ ngoại hối), trong khi tỷ lệ này ở Bồ Đào Nha lên tới 84%.

Theo ông Tavi Costa - Chiến lược gia Vĩ mô tại Crescat Capital, một công ty quản lý đầu tư có trụ sở tại Mỹ, các ngân hàng trung ương vẫn ở giai đoạn đầu của chu kỳ tích lũy vàng và nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh mua vào nếu đồng USD và trái phiếu Kho bạc Mỹ tiếp tục mất giá, nhằm bảo vệ sức mua của đồng tiền.

Mở cơ chế sản xuất vàng miếng, thị trường chờ hiệu ứng chính sách mới

Từ đầu năm 2025 đến nay, giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh theo xu hướng tích trữ toàn cầu, trong khi nguồn cung thắt chặt càng nới rộng chênh lệch giá trong nước - quốc tế, thúc đẩy tâm lý nắm giữ vàng khiến cung càng hạn hẹp.

Tăng sốc 59% từ đầu năm, giá vàng trong nước liệu sẽ hạ nhiệt nhờ chính sách mới?
Nguồn: Chứng khoán Guotai Junan.

Sau khi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) ban hành ngày 26/8/2025, khoảng cách chênh lệch vẫn chưa được thu hẹp.

Dù vậy, giới phân tích vẫn kỳ vọng Nghị định 232 chính thức có hiệu lực từ ngày 10/10 tới đây, sẽ tạo chuyển biến tích cực khi mở cơ chế cho phép nhiều doanh nghiệp, ngân hàng thương mại tham gia sản xuất vàng miếng, thay vì duy trì cơ chế độc quyền như trước. Sự đa dạng hóa nguồn cung hứa hẹn sẽ góp phần giảm khan hiếm, hạn chế đầu cơ và giảm áp lực tâm lý cho nhà đầu tư.

Một trong những điểm đáng chú ý tại Nghị định 232 là việc bãi bỏ khoản 3 Điều 4 của Nghị định 24, xóa bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng (thương hiệu SJC độc quyền từ năm 2012).

Theo đó, doanh nghiệp và ngân hàng thương mại có thể tham gia sản xuất vàng miếng thương hiệu riêng theo quy định, dưới sự giám sát và cấp phép của Ngân hàng Nhà nước. Nghị định 232 ra đời trong bối cảnh Chính phủ triển khai nhiều giải pháp ổn định thị trường vàng khi mức chênh lệch giá trong nước và quốc tế ngày càng nới rộng, được kỳ vọng sẽ tác động tích cực trong dài hạn với số lượng đơn vị cung ứng tăng lên.

TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế nhận định, thị trường vàng thời gian tới sẽ có nhiều chuyển biến. Trong nhiều năm qua, Ngân hàng Nhà nước không còn nhập khẩu vàng, dẫn đến sự khan hiếm nguồn cung, trong khi giá vàng thế giới biến động mạnh, khiến giá vàng trong nước bị đẩy lên rất cao.

Để thu hẹp khoảng cách, ông Hiếu cho rằng, cần cung ứng một nguồn vàng dồi dào cho thị trường và hướng tới sự liên thông giữa giá vàng trong nước và thế giới, qua đó hạn chế đầu cơ và buôn lậu.

Khi cho phép ngân hàng thương mại tham gia sản xuất, phân phối vàng miếng, nên ưu tiên những ngân hàng có mạng lưới chi nhánh rộng khắp, đủ khả năng tiếp cận từ thành thị đến vùng sâu vùng xa, đảm bảo độ bao phủ và phục vụ hiệu quả người dân.

"Các ngân hàng tham gia cần thành lập bộ phận chuyên trách có kinh nghiệm trong sản xuất và thẩm định vàng miếng, với năng lực chuyên môn, tuân thủ đầy đủ các quy chuẩn kỹ thuật và quy định của Nhà nước" - ông Hiếu lưu ý.

Đánh giá về tác động của chính sách mới lên thị trường vàng, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Guotai Junan cho rằng, thị trường vàng vẫn mang tính đặc thù, vận hành theo cơ chế “mua ở đâu, bán ở đó”, cộng hưởng với tâm lý tích trữ vàng sâu sắc của người Á Đông và vị thế lâu năm của thương hiệu SJC, nên trong ngắn hạn, yếu tố tâm lý và nguồn cung vẫn sẽ chi phối./.

"Chính sách mới được kỳ vọng gia tăng nguồn cung vàng miếng thương hiệu ngoài SJC, góp phần hạn chế đầu cơ và giảm áp lực tâm lý cho nhà đầu tư, người mua vàng. Tuy nhiên, tác động tức thời với giá vàng trong nước khó kỳ vọng khi nguồn cung còn phụ thuộc xuất nhập khẩu và yếu tố tỷ giá" - nhóm phân tích Guotai Junan đánh giá./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 3/9: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi xuống, trong đó vàng nhẫn giảm tới 700.000 đồng/lượng, vàng miếng giảm tối đa 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▼110K 14,650 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▼110K 14,650 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▼110K 14,650 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼110K 14,700 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼110K 14,700 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼110K 14,700 ▼110K
NL 99.99 13,450 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350 ▼150K
Trang sức 99.9 14,010 ▼110K 14,610 ▼110K
Trang sức 99.99 14,020 ▼110K 14,620 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▼11K 14,652 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▼11K 14,653 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1298K 146 ▼1325K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1298K 1,461 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▼11K 145 ▼1316K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼1089K 143,564 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼825K 108,911 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80812K 9,876 ▼89632K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲70861K 88,609 ▲79681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼642K 84,693 ▼642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲45693K 60,621 ▲54513K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Cập nhật: 07/09/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18245 18521 19097
CAD 18296 18572 19194
CHF 31522 31902 32546
CNY 0 3834 3931
EUR 29612 29834 30915
GBP 34425 34816 35749
HKD 0 3188 3390
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14992 15580
SGD 20011 20294 20865
THB 706 770 823
USD (1,2) 25756 0 0
USD (5,10,20) 25795 0 0
USD (50,100) 25823 25837 26207
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,865 25,865 26,245
USD(1-2-5) 24,831 - -
USD(10-20) 24,831 - -
EUR 29,685 29,709 31,115
JPY 163.03 163.32 173.17
GBP 34,610 34,704 35,917
AUD 18,464 18,531 19,233
CAD 18,486 18,545 19,230
CHF 31,765 31,864 32,814
SGD 20,142 20,205 21,006
CNY - 3,808 3,953
HKD 3,256 3,266 3,403
KRW 17.85 18.61 20.26
THB 755.74 765.07 818.92
NZD 14,983 15,122 15,571
SEK - 2,670 2,765
DKK - 3,982 4,122
NOK - 2,756 2,857
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.68 - 6,792.11
TWD 745.38 - 903.03
SAR - 6,819.59 7,183.68
KWD - 82,626 87,918
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,717 29,836 31,030
GBP 34,607 34,746 35,778
HKD 3,256 3,269 3,385
CHF 31,641 31,768 32,693
JPY 163.05 163.70 171.66
AUD 18,435 18,509 19,106
SGD 20,216 20,297 20,894
THB 772 775 812
CAD 18,501 18,575 19,169
NZD 15,073 15,618
KRW 18.64 20.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25840 25840 26200
AUD 18425 18525 19456
CAD 18470 18570 19582
CHF 31754 31784 33374
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29784 29814 31537
GBP 34709 34759 36527
HKD 0 3330 0
JPY 164.88 165.38 175.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.6 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15099 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 736.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,845 25,875 26,250
USD20 25,825 25,875 26,841
USD1 25,775 25,875 26,891
AUD 18,486 18,586 19,692
EUR 29,604 29,704 31,122
CAD 18,428 18,528 19,835
SGD 20,263 20,413 21,678
JPY 164.23 165.73 171.31
GBP 34,626 34,776 35,842
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 0 0
THB 0 3,731 0
CHF 0 772 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/09/2026 22:30
Ngân hàng