Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường vàng trong nước vừa trải qua một năm 2024 đầy sóng gió và để lại nhiều cung bậc cảm xúc, lúc lên bổng, xuống trầm cho người dân, nhà đầu tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất ổn. Nhiều giải pháp đang được bàn thảo để nguồn tiền chôn trong vàng chảy vào nền kinh tế và không để biến động giá vàng ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô những năm tới.
aa
Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng
Ảnh tư liệu

Những kỷ lục lịch sử

Trong bối cảnh nhu cầu mua vàng tăng đột biến năm 2024, thị trường vàng ghi dấu những kỷ lục lịch sử khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước lập đỉnh; chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế nới rộng chưa từng có; mức chênh giá vàng bán ra mua vào trong phiên... Tính đến ngày 13/12, giá vàng miếng SJC tăng 13,7% so với đầu năm, từ 76 triệu đồng/lượng lên 86,4 triệu đồng/lượng; giá vàng nhẫn tăng 34%, từ 63,55 triệu đồng/lượng lên 85,2 triệu đồng/lượng.

Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Nhiều yếu tố tác động đa chiều, thận trọng đầu tư vàng

Giá vàng phụ thuộc nhiều yếu tố như chính sách tiền tệ của Fed hay tình hình kinh tế toàn cầu, lạm phát, vấn đề căng thẳng địa chính trị. Việc dự báo chính xác giá vàng trong tương lai là điều vô cùng khó khăn. Thời gian tới, giá vàng chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố đa chiều, nhà đầu tư cần theo dõi sát sao, thường xuyên cập nhật thông tin các diễn biến và thận trọng quyết định trước khi đầu tư. PGS. TS. Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế

Theo đó, giá vàng miếng trong nước lập đỉnh cao nhất mọi thời đại ngày 10/5/2024 với giá bán ra 92,4 triệu đồng/lượng, đây cũng là thời điểm chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế nới rộng gần 19 triệu đồng/lượng. Cũng không thể quên ngày 7/11, sau khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ, thị trường nhuốm màu đau thương, giá vàng giảm sốc 6 triệu đồng/lượng chiều mua, mức chênh giá mua - bán vàng miếng trong nước nới rộng 4,5 triệu đồng/lượng. Còn giai đoạn giảm sốc nhất từ ngày 29/5 - 6/6, chỉ trong vòng 1 tuần, giá vàng bay 13,6 triệu/lượng cả hai chiều sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lệnh bán vàng miếng trực tiếp cho thị trường nhằm hạn chế tác động đến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, ngoại hối.

Cơn sốt săn vàng trong nước

Sự chênh lệch giá vàng trong nước - quốc tế nửa đầu năm khiến cơn sốt săn vàng dâng cao chưa từng có, người dân xếp hàng thâu đêm lùng sục mua vàng, cũng có nhiều người dân tất toán sổ tiết kiệm đổ xô đi mua vàng, thậm chí hùn vốn mua vàng.

Đợt giá vàng giảm về 82 triệu đồng/lượng, anh X.G (Hà Tĩnh) cho biết cùng mấy người chung vốn mua 21 cây giá 82,5 triệu đồng/lượng. Khi vàng lên giá 84 triệu đồng, trong nhóm hồ hởi, nhưng mới giảm nhẹ về 83 triệu đồng mọi người đã nằng nặc đòi bán. Việc góp tiền chung mua vàng rất rủi ro, biến động giá vàng ngắn hạn rất lớn, do đó, nhiều ý kiến cho rằng khi hùn vốn mua vàng cần viết hợp đồng hợp tác, các điều khoản rõ ràng, tỷ lệ góp và phân chia lãi lỗ, tránh mâu thuẫn sau này.

Cũng trong năm qua, nhiều người rút hết sổ tiết kiệm mua vàng. Chị M.T (Hà Nội) đáo hạn sổ tiết kiệm giữa tháng 5, tính đến tháng 10 lãi gần 100 triệu đồng trong khi gửi tiết kiệm ngân hàng chỉ 17 triệu đồng, như vậy trong khoảng thời gian này, mua vàng lãi gấp 6 lần gửi ngân hàng. Tuy nhiên, giá vàng trong hai tháng cuối năm biến động mạnh khiến người mua vàng lướt sóng đứng ngồi không yên.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, PGS. TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế cho rằng, so với những năm trước, nhu cầu người dân tăng cao năm 2024 do lo ngại lạm phát, bất ổn về kinh tế và địa chính trị. “Nhiều tổ chức dự báo giá vàng tăng cao, lên đến 3.000 USD/ounce, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác xập xệ nên người dân đổ xô xếp hàng mua vàng năm qua” - ông Long lý giải.

Thị trường vàng năm 2024 biến động mạnh so với những năm trước nên tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư, có những thời điểm giá vàng tăng không ngừng nghỉ nhưng có lúc, chỉ sau 1 tuần lại ôm khoản lỗ hàng triệu đồng/lượng.

Nhìn lại những nhân tố cộng hưởng khiến giá vàng thế giới năm 2024 liên tục phá các kỷ lục, giới phân tích đưa ra các lý do: Thứ nhất, giá vàng khá nhạy cảm với lãi suất thị trường và thường biến động nghịch chiều. Tính đến ngày 7/11, Fed giảm lãi suất 2 lần với tổng 75 điểm cơ bản và dự kiến giảm lần thứ ba trong năm 2024, khi lãi suất có xu hướng giảm thì giá vàng tăng.

Thứ hai, rủi ro địa chính trị toàn cầu leo thang là động lực khiến các nhà đầu tư và ngân hàng trung ương các nước nắm giữ vàng nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Thứ ba, nhu cầu lớn từ các ngân hàng trung ương trên toàn cầu khiến nhu cầu vàng tăng kỷ lục là 1.313 tấn trong quý III, tăng mạnh 35% cùng kỳ và vượt 100 tỷ USD.

Xoay xở ứng biến

Trong bối cảnh đó, nguồn cung trong nước ở trạng thái khan hiếm kể từ khi thực hiện Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định số 24). Suốt 10 năm giai đoạn 2014-2023, NHNN không tăng cung vàng miếng SJC ra thị trường, các doanh nghiệp không được nhập khẩu vàng nguyên liệu mà chỉ thu mua trên thị trường, đây là nguồn nguyên liệu duy nhất sản xuất trang sức mỹ nghệ.

Nguồn cung thắt chặt song bị châm ngòi, thổi bùng bởi sức nóng giá vàng thế giới đã tạo tâm lý đầu cơ trong nước, cũng không loại trừ khả năng tồn tại các hành vi thao túng thị trường.

Bên cạnh đó, nhiều biện pháp của cơ quan chức năng trong việc chấn chỉnh, minh bạch hóa thị trường vàng khiến một số cửa hàng vàng đóng cửa, tạm ngừng kinh doanh khiến nguồn cung ngày càng thu hẹp. Sau đó, người dân bị giới hạn mua vàng, có những nơi chỉ bán nhỏ giọt 1 cây vàng, vài chỉ vàng mỗi lần giao dịch càng khiến vàng khan hiếm.

Dù vậy, nhìn lại năm 2024, khoảng cách chênh lệch giá vàng trong nước - quốc tế được kéo gần lại, đến đầu tháng 12 chỉ còn chênh lệch chưa đến 3 triệu đồng/lượng.

TS. Nguyễn Đức Độ - Phó viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, thành công lớn nhất trong điều hành thị trường vàng năm 2024 là NHNN dùng nhiều giải pháp tăng cung vàng để kéo giảm chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới. Nguồn lực của các ngân hàng thương mại dồi dào và tạo nên thị trường có tính cạnh tranh cao hơn, không còn những đối tượng có thể điều khiển thị trường vàng theo ý mình.

Có giải pháp căn cơ quản lý thị trường vàng năm 2025

Giá vàng thế giới đạt kỷ lục vào ngày 20/10 hơn 2.747 USD/ounce, tăng 34% so với đầu năm và tăng 39% so với cùng kỳ. Sau đó, giá vàng giảm và dao động trong biên độ 2.600 - 2.700 USD/ounce cuối năm khi nín thở chờ đợi các động thái chính sách tiền tệ tiếp theo và chính sách mới trong nhiệm kỳ Tổng thống Trump.

Nhìn lại một năm ứng biến, xoay xở điều hành thị trường vàng, NHNN liên tiếp tổ chức 5 cuộc đấu thầu vàng miếng SJC để cải thiện nguồn cung vàng SJC. Trên thực tế, 3/5 cuộc bị hoãn do không đủ thành viên tham gia và chỉ có hai cuộc thành công, bán ra tổng cộng 6.800 lượng vàng SJC. Sau đó, thay vì đấu giá vàng nhiều nghịch lý và bất cập như trên, trong đầu tháng 6/2024, NHNN mạnh dạn thay đổi cách thức cung vàng ra thị trường, cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC bán vàng SJC trực tiếp cho người mua với giá thấp dần. Đây được cho là phương án phù hợp trong giai đoạn này, giúp nguồn cung vàng miếng tăng lên và đến thẳng tay người tiêu dùng.

Cùng với đó, các giao dịch được công khai minh bạch, có hóa đơn điện tử góp phần giảm thiểu tình trạng găm hàng, buôn lậu, trục lợi chính sách. Giới phân tích cho rằng, đây là hướng đi đúng, mới giúp giảm nhanh động lực đầu cơ và thu hẹp nhanh sự chênh lệch giá trong nước và nước ngoài, giá vàng miếng và vàng nhẫn, cũng như giữa các thương hiệu vàng khác nhau. Nhờ những biện pháp quyết liệt từ phía NHNN và các cơ quan chức năng, ngày 13/12, giá vàng miếng SJC ở mức 86,4 triệu đồng/lượng, thu hẹp khoảng cách với giá vàng thế giới (82,9 triệu đồng/lượng) còn 3,5 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, trước nhiều bất cập trên thị trường vàng, Quốc hội yêu cầu Chính phủ chậm nhất tháng 6/2025 tiến hành tổng kết, nghiên cứu và đề xuất sửa đổi Nghị định số 24. Các giải pháp căn cơ đang được bàn luận để tạo nền tảng vững chắc xây dựng một thị trường vàng trong nước chuyên nghiệp, ổn định, tăng tính liên thông và lành mạnh hoá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều đi lên ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn, đưa mặt bằng giá phổ biến trở lại vùng 143,7 - 147,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống còn 4.156 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm cao nhất lên tới 5,1 triệu đồng/lượng.
Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

(TBTCO) - Tập đoàn Goldman Sachs đã cắt giảm dự báo giá vàng cuối năm thêm 500 USD/ounce do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không còn được kỳ vọng sẽ giảm lãi suất trong năm 2026.
Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng tiếp tục duy trì phổ biến ở mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn giảm tại nhiều thương hiệu, có nơi lùi về vùng 145,8 - 149,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn, đưa giá vàng miếng về mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn cũng ghi nhận xu hướng đi xuống trên diện rộng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17887 18462
CAD 17959 18234 18849
CHF 31793 32174 32816
CNY 0 3827 3920
EUR 29285 29505 30581
GBP 33887 34276 35218
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14546 15136
SGD 19758 20039 20616
THB 703 766 819
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80