Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường vàng trong nước vừa trải qua một năm 2024 đầy sóng gió và để lại nhiều cung bậc cảm xúc, lúc lên bổng, xuống trầm cho người dân, nhà đầu tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất ổn. Nhiều giải pháp đang được bàn thảo để nguồn tiền chôn trong vàng chảy vào nền kinh tế và không để biến động giá vàng ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô những năm tới.
aa
Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng
Ảnh tư liệu

Những kỷ lục lịch sử

Trong bối cảnh nhu cầu mua vàng tăng đột biến năm 2024, thị trường vàng ghi dấu những kỷ lục lịch sử khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước lập đỉnh; chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế nới rộng chưa từng có; mức chênh giá vàng bán ra mua vào trong phiên... Tính đến ngày 13/12, giá vàng miếng SJC tăng 13,7% so với đầu năm, từ 76 triệu đồng/lượng lên 86,4 triệu đồng/lượng; giá vàng nhẫn tăng 34%, từ 63,55 triệu đồng/lượng lên 85,2 triệu đồng/lượng.

Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Nhiều yếu tố tác động đa chiều, thận trọng đầu tư vàng

Giá vàng phụ thuộc nhiều yếu tố như chính sách tiền tệ của Fed hay tình hình kinh tế toàn cầu, lạm phát, vấn đề căng thẳng địa chính trị. Việc dự báo chính xác giá vàng trong tương lai là điều vô cùng khó khăn. Thời gian tới, giá vàng chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố đa chiều, nhà đầu tư cần theo dõi sát sao, thường xuyên cập nhật thông tin các diễn biến và thận trọng quyết định trước khi đầu tư. PGS. TS. Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế

Theo đó, giá vàng miếng trong nước lập đỉnh cao nhất mọi thời đại ngày 10/5/2024 với giá bán ra 92,4 triệu đồng/lượng, đây cũng là thời điểm chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế nới rộng gần 19 triệu đồng/lượng. Cũng không thể quên ngày 7/11, sau khi ông Donald Trump tái đắc cử Tổng thống Mỹ, thị trường nhuốm màu đau thương, giá vàng giảm sốc 6 triệu đồng/lượng chiều mua, mức chênh giá mua - bán vàng miếng trong nước nới rộng 4,5 triệu đồng/lượng. Còn giai đoạn giảm sốc nhất từ ngày 29/5 - 6/6, chỉ trong vòng 1 tuần, giá vàng bay 13,6 triệu/lượng cả hai chiều sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) lệnh bán vàng miếng trực tiếp cho thị trường nhằm hạn chế tác động đến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, ngoại hối.

Cơn sốt săn vàng trong nước

Sự chênh lệch giá vàng trong nước - quốc tế nửa đầu năm khiến cơn sốt săn vàng dâng cao chưa từng có, người dân xếp hàng thâu đêm lùng sục mua vàng, cũng có nhiều người dân tất toán sổ tiết kiệm đổ xô đi mua vàng, thậm chí hùn vốn mua vàng.

Đợt giá vàng giảm về 82 triệu đồng/lượng, anh X.G (Hà Tĩnh) cho biết cùng mấy người chung vốn mua 21 cây giá 82,5 triệu đồng/lượng. Khi vàng lên giá 84 triệu đồng, trong nhóm hồ hởi, nhưng mới giảm nhẹ về 83 triệu đồng mọi người đã nằng nặc đòi bán. Việc góp tiền chung mua vàng rất rủi ro, biến động giá vàng ngắn hạn rất lớn, do đó, nhiều ý kiến cho rằng khi hùn vốn mua vàng cần viết hợp đồng hợp tác, các điều khoản rõ ràng, tỷ lệ góp và phân chia lãi lỗ, tránh mâu thuẫn sau này.

Cũng trong năm qua, nhiều người rút hết sổ tiết kiệm mua vàng. Chị M.T (Hà Nội) đáo hạn sổ tiết kiệm giữa tháng 5, tính đến tháng 10 lãi gần 100 triệu đồng trong khi gửi tiết kiệm ngân hàng chỉ 17 triệu đồng, như vậy trong khoảng thời gian này, mua vàng lãi gấp 6 lần gửi ngân hàng. Tuy nhiên, giá vàng trong hai tháng cuối năm biến động mạnh khiến người mua vàng lướt sóng đứng ngồi không yên.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, PGS. TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế cho rằng, so với những năm trước, nhu cầu người dân tăng cao năm 2024 do lo ngại lạm phát, bất ổn về kinh tế và địa chính trị. “Nhiều tổ chức dự báo giá vàng tăng cao, lên đến 3.000 USD/ounce, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác xập xệ nên người dân đổ xô xếp hàng mua vàng năm qua” - ông Long lý giải.

Thị trường vàng năm 2024 biến động mạnh so với những năm trước nên tác động mạnh đến tâm lý nhà đầu tư, có những thời điểm giá vàng tăng không ngừng nghỉ nhưng có lúc, chỉ sau 1 tuần lại ôm khoản lỗ hàng triệu đồng/lượng.

Nhìn lại những nhân tố cộng hưởng khiến giá vàng thế giới năm 2024 liên tục phá các kỷ lục, giới phân tích đưa ra các lý do: Thứ nhất, giá vàng khá nhạy cảm với lãi suất thị trường và thường biến động nghịch chiều. Tính đến ngày 7/11, Fed giảm lãi suất 2 lần với tổng 75 điểm cơ bản và dự kiến giảm lần thứ ba trong năm 2024, khi lãi suất có xu hướng giảm thì giá vàng tăng.

Thứ hai, rủi ro địa chính trị toàn cầu leo thang là động lực khiến các nhà đầu tư và ngân hàng trung ương các nước nắm giữ vàng nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.

Thứ ba, nhu cầu lớn từ các ngân hàng trung ương trên toàn cầu khiến nhu cầu vàng tăng kỷ lục là 1.313 tấn trong quý III, tăng mạnh 35% cùng kỳ và vượt 100 tỷ USD.

Xoay xở ứng biến

Trong bối cảnh đó, nguồn cung trong nước ở trạng thái khan hiếm kể từ khi thực hiện Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định số 24). Suốt 10 năm giai đoạn 2014-2023, NHNN không tăng cung vàng miếng SJC ra thị trường, các doanh nghiệp không được nhập khẩu vàng nguyên liệu mà chỉ thu mua trên thị trường, đây là nguồn nguyên liệu duy nhất sản xuất trang sức mỹ nghệ.

Nguồn cung thắt chặt song bị châm ngòi, thổi bùng bởi sức nóng giá vàng thế giới đã tạo tâm lý đầu cơ trong nước, cũng không loại trừ khả năng tồn tại các hành vi thao túng thị trường.

Bên cạnh đó, nhiều biện pháp của cơ quan chức năng trong việc chấn chỉnh, minh bạch hóa thị trường vàng khiến một số cửa hàng vàng đóng cửa, tạm ngừng kinh doanh khiến nguồn cung ngày càng thu hẹp. Sau đó, người dân bị giới hạn mua vàng, có những nơi chỉ bán nhỏ giọt 1 cây vàng, vài chỉ vàng mỗi lần giao dịch càng khiến vàng khan hiếm.

Dù vậy, nhìn lại năm 2024, khoảng cách chênh lệch giá vàng trong nước - quốc tế được kéo gần lại, đến đầu tháng 12 chỉ còn chênh lệch chưa đến 3 triệu đồng/lượng.

TS. Nguyễn Đức Độ - Phó viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, thành công lớn nhất trong điều hành thị trường vàng năm 2024 là NHNN dùng nhiều giải pháp tăng cung vàng để kéo giảm chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới. Nguồn lực của các ngân hàng thương mại dồi dào và tạo nên thị trường có tính cạnh tranh cao hơn, không còn những đối tượng có thể điều khiển thị trường vàng theo ý mình.

Có giải pháp căn cơ quản lý thị trường vàng năm 2025

Giá vàng thế giới đạt kỷ lục vào ngày 20/10 hơn 2.747 USD/ounce, tăng 34% so với đầu năm và tăng 39% so với cùng kỳ. Sau đó, giá vàng giảm và dao động trong biên độ 2.600 - 2.700 USD/ounce cuối năm khi nín thở chờ đợi các động thái chính sách tiền tệ tiếp theo và chính sách mới trong nhiệm kỳ Tổng thống Trump.

Nhìn lại một năm ứng biến, xoay xở điều hành thị trường vàng, NHNN liên tiếp tổ chức 5 cuộc đấu thầu vàng miếng SJC để cải thiện nguồn cung vàng SJC. Trên thực tế, 3/5 cuộc bị hoãn do không đủ thành viên tham gia và chỉ có hai cuộc thành công, bán ra tổng cộng 6.800 lượng vàng SJC. Sau đó, thay vì đấu giá vàng nhiều nghịch lý và bất cập như trên, trong đầu tháng 6/2024, NHNN mạnh dạn thay đổi cách thức cung vàng ra thị trường, cho phép các ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC bán vàng SJC trực tiếp cho người mua với giá thấp dần. Đây được cho là phương án phù hợp trong giai đoạn này, giúp nguồn cung vàng miếng tăng lên và đến thẳng tay người tiêu dùng.

Cùng với đó, các giao dịch được công khai minh bạch, có hóa đơn điện tử góp phần giảm thiểu tình trạng găm hàng, buôn lậu, trục lợi chính sách. Giới phân tích cho rằng, đây là hướng đi đúng, mới giúp giảm nhanh động lực đầu cơ và thu hẹp nhanh sự chênh lệch giá trong nước và nước ngoài, giá vàng miếng và vàng nhẫn, cũng như giữa các thương hiệu vàng khác nhau. Nhờ những biện pháp quyết liệt từ phía NHNN và các cơ quan chức năng, ngày 13/12, giá vàng miếng SJC ở mức 86,4 triệu đồng/lượng, thu hẹp khoảng cách với giá vàng thế giới (82,9 triệu đồng/lượng) còn 3,5 triệu đồng/lượng.

Tuy nhiên, trước nhiều bất cập trên thị trường vàng, Quốc hội yêu cầu Chính phủ chậm nhất tháng 6/2025 tiến hành tổng kết, nghiên cứu và đề xuất sửa đổi Nghị định số 24. Các giải pháp căn cơ đang được bàn luận để tạo nền tảng vững chắc xây dựng một thị trường vàng trong nước chuyên nghiệp, ổn định, tăng tính liên thông và lành mạnh hoá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 5/5 đồng loạt giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, khiến chênh lệch giữa hai thị trường vẫn duy trì trên 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 3/5, giá vàng trong nước duy trì ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, phổ biến quanh ngưỡng 163 - 166 triệu đồng/lượng ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

(TBTCO) - Trong quý đầu tiên của năm 2026, nhiều ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ vàng với tốc độ nhanh nhất so với cùng kỳ, do giá vàng giảm mạnh đã khuyến khích làn sóng mua vào, bù đắp hoàn toàn cho lượng bán ra của một số ít tổ chức.
Giá vàng hôm nay ngày 2/5: Giá vàng thế giới tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/5: Giá vàng thế giới tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm về quanh ngưỡng 4.613 USD/ounce, kéo giãn chênh lệch với giá vàng trong nước lên gần 20 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80