Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới từng duy trì ổn định, có thời điểm quanh mức 1 triệu đồng/lượng, nhưng đã tăng vọt cuối tháng 4/2025, lên tới hơn 18 triệu đồng/lượng. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước lý giải nguyên nhân và nhấn mạnh sự cần thiết của phối hợp liên ngành, nhằm ổn định thị trường vàng một cách căn cơ, lâu dài.
aa
Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng Giá vàng hôm nay (7/5): Thế giới, vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng sốc Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến hoạt động chất vấn trong lĩnh vực ngân hàng.

Không loại trừ việc thao túng giá

Theo NHNN, trong những tháng đầu năm 2025, giá vàng thế giới liên tục phá vỡ các mức kỷ lục trước đó. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá vàng quốc tế tăng mạnh được NHNN chỉ ra.

Thứ nhất, tình hình chính trị toàn cầu gia tăng bất ổn, xung đột quân sự và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, điển hình như chiến sự Nga - Ukraine kéo dài, dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa lẫn nhau giữa Nga với Mỹ và các đồng minh; xung đột tại Trung Đông giữa Israel và một số quốc gia, lực lượng Hồi giáo.

Thứ hai, hoạt động mua vào mạnh mẽ của nhiều ngân hàng trung ương và các quỹ đầu tư nhằm bổ sung dự trữ ngoại hối.

Thứ ba, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc áp thuế cao đối ứng với nhiều quốc gia đã gây tâm lý lo ngại, tác động tiêu cực đến kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu, khiến dòng tiền của nhà đầu tư có xu hướng chuyển dịch sang vàng - tài sản được coi là kênh trú ẩn an toàn.

Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục. Ảnh: T.L.

Chênh lệch giá vàng ổn định trước khi tăng vọt cuối tháng 4/2025

"Nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ, cho đến đầu tháng 4/2025, chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và giá vàng thế giới vẫn được kiểm soát trong biên độ hợp lý, dao động khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng (tương đương 5 - 7%), thậm chí có thời điểm đầu năm chỉ còn quanh mức 1 triệu đồng/lượng (1 - 2%). Tuy nhiên, đến ngày 23/4, mức chênh lệch này đã tăng lên đáng kể, đạt khoảng 14,48 triệu đồng/lượng (tương đương khoảng 13,62%)" - NHNN nêu rõ.

Trong nước, giá vàng miếng SJC nhìn chung diễn biến đồng chiều với xu hướng của giá vàng thế giới.

Theo NHNN, diễn biến tăng mạnh của giá vàng miếng trong nước, vượt tốc độ tăng của giá vàng thế giới, dẫn đến mức chênh lệch cao, chủ yếu xuất phát từ một số nguyên nhân.

Theo đó, tâm lý thị trường kỳ vọng giá vàng thế giới sẽ tiếp tục tăng trong bối cảnh các yếu tố bất ổn như chính sách thuế của Chính quyền Tổng thống Trump, định hướng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), tình hình địa chính trị và biến động giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp, khiến nhu cầu tích trữ vàng gia tăng.

"Nguồn cung vàng miếng trong nước không được bổ sung thêm kể từ đầu năm 2025, trong khi thị trường ngoại hối và thị trường vàng tương đối ổn định, dẫn đến việc NHNN chưa cần thiết phải can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng có một số tổ chức, cá nhân lợi dụng tình hình thị trường để đầu cơ, thao túng giá nhằm trục lợi" - NHNN nhận định.

Dù giá vàng trong nước tăng mạnh trong thời gian gần đây, nhưng theo đánh giá của NHNN, những biến động này chưa gây tác động đáng kể đến việc điều hành chính sách tiền tệ cũng như ổn định kinh tế vĩ mô.

Báo cáo do Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) mới công bố cũng cho thấy, nhu cầu đầu tư vào vàng miếng và vàng xu tại các thị trường ASEAN trong quý I/2025 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, song Việt Nam lại là một ngoại lệ. Theo đánh giá của chuyên gia WGC, nhu cầu đầu tư vàng tại Việt Nam giảm 15% so với cùng kỳ, chủ yếu do nguồn cung các sản phẩm vàng bị hạn chế, khiến chênh lệch giá vàng bị đẩy lên cao. Bên cạnh đó, việc đồng nội tệ suy yếu cũng làm giá vàng tính theo USD tăng lên, ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng.

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cũng cho thấy, tính từ đầu năm đến nay, giá bán vàng miếng SJC trong nước tăng tới 38 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 45%; trong khi giá vàng thế giới tăng tới 761 USD/ounce, tương ứng tăng 29%.

Ngày 7/5, giá vàng thế giới quy đổi tương đương 109,36 triệu đồng/lượng, thấp hơn 12,86 triệu đồng/lượng so với trong nước. Đáng chú ý, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới liên tục nới rộng kể từ giữa tháng 4/2025, với mức cao nhất ghi nhận vào ngày 1/5, khi khoảng cách này vượt hơn 18 triệu đồng/lượng.

Thị trường vàng còn nhiều biến động, NHNN chủ động kiểm soát chặt

Theo nhận định của NHNN, thị trường vàng hiện vẫn chưa đạt được sự ổn định bền vững khi còn chịu tác động mạnh từ tâm lý và kỳ vọng của người dân cũng như nhà đầu tư, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ và ngoại hối.

NHNN khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường vàng trong nước và quốc tế, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác quản lý, kịp thời triển khai các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo ổn định thị trường vàng theo đúng thẩm quyền và mục tiêu điều hành.

Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Chiều ngày 21/4, giá vàng thế giới chạm đỉnh lịch sử 3.500 USD USD/ounce. Ảnh: T.L.

Thời gian qua, NHNN triển khai các giải pháp quản lý và điều tiết thị trường vàng theo đúng quy định, bảo đảm giá vàng không gây tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Cùng với đó, cơ quan này cũng nghiên cứu chính sách nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, tích trữ vàng, từ đó, khuyến khích chuyển hướng nguồn lực vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế. Đồng thời, NHNN đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, kết hợp tăng cường các biện pháp phòng chống buôn lậu và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Đặc biệt, NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý thị trường vàng, xử lý tình trạng chênh lệch ở mức cao giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, NHNN thực hiện cung vàng miếng ra thị trường thông qua đấu thầu bán vàng miếng và bán vàng miếng trực tiếp, giúp thu hẹp đáng kể chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC trong nước và giá vàng thế giới; đồng thời, NHNN phối hợp các bộ, ngành chức năng thanh tra hoạt động kinh doanh vàng của một số đơn vị, doanh nghiệp để từng bước chấn chỉnh hoạt động này.

Bên cạnh các giải pháp đã và đang được triển khai, NHNN cho rằng, để đạt được mục tiêu ổn định thị trường vàng một cách căn cơ và lâu dài, cần có sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt của các bộ, ngành và địa phương theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ./.

Hoàn thiện pháp lý, ổn định tâm lý thị trường

Trong thời gian tới, định hướng trọng tâm sẽ là tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông để kịp thời cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về các chủ trương, chính sách và giải pháp điều hành thị trường vàng, qua đó góp phần ổn định tâm lý thị trường. Đồng thời, NHNN sẽ khẩn trương xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.

"Bên cạnh đó, sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan như Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Tài chính... để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, cửa hàng, đại lý phân phối và mua bán vàng miếng cũng như các chủ thể khác tham gia thị trường; kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập hoặc vi phạm để xử lý nghiêm theo thẩm quyền và báo cáo các cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý phù hợp" - NHNN nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17630 17903 18478
CAD 17970 18245 18862
CHF 31821 32202 32852
CNY 0 3829 3922
EUR 29301 29521 30602
GBP 33905 34295 35228
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14551 15136
SGD 19762 20044 20614
THB 704 767 821
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80