Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới từng duy trì ổn định, có thời điểm quanh mức 1 triệu đồng/lượng, nhưng đã tăng vọt cuối tháng 4/2025, lên tới hơn 18 triệu đồng/lượng. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước lý giải nguyên nhân và nhấn mạnh sự cần thiết của phối hợp liên ngành, nhằm ổn định thị trường vàng một cách căn cơ, lâu dài.
aa
Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng Giá vàng hôm nay (7/5): Thế giới, vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng sốc Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến hoạt động chất vấn trong lĩnh vực ngân hàng.

Không loại trừ việc thao túng giá

Theo NHNN, trong những tháng đầu năm 2025, giá vàng thế giới liên tục phá vỡ các mức kỷ lục trước đó. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá vàng quốc tế tăng mạnh được NHNN chỉ ra.

Thứ nhất, tình hình chính trị toàn cầu gia tăng bất ổn, xung đột quân sự và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, điển hình như chiến sự Nga - Ukraine kéo dài, dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa lẫn nhau giữa Nga với Mỹ và các đồng minh; xung đột tại Trung Đông giữa Israel và một số quốc gia, lực lượng Hồi giáo.

Thứ hai, hoạt động mua vào mạnh mẽ của nhiều ngân hàng trung ương và các quỹ đầu tư nhằm bổ sung dự trữ ngoại hối.

Thứ ba, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc áp thuế cao đối ứng với nhiều quốc gia đã gây tâm lý lo ngại, tác động tiêu cực đến kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu, khiến dòng tiền của nhà đầu tư có xu hướng chuyển dịch sang vàng - tài sản được coi là kênh trú ẩn an toàn.

Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục. Ảnh: T.L.

Chênh lệch giá vàng ổn định trước khi tăng vọt cuối tháng 4/2025

"Nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ, cho đến đầu tháng 4/2025, chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và giá vàng thế giới vẫn được kiểm soát trong biên độ hợp lý, dao động khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng (tương đương 5 - 7%), thậm chí có thời điểm đầu năm chỉ còn quanh mức 1 triệu đồng/lượng (1 - 2%). Tuy nhiên, đến ngày 23/4, mức chênh lệch này đã tăng lên đáng kể, đạt khoảng 14,48 triệu đồng/lượng (tương đương khoảng 13,62%)" - NHNN nêu rõ.

Trong nước, giá vàng miếng SJC nhìn chung diễn biến đồng chiều với xu hướng của giá vàng thế giới.

Theo NHNN, diễn biến tăng mạnh của giá vàng miếng trong nước, vượt tốc độ tăng của giá vàng thế giới, dẫn đến mức chênh lệch cao, chủ yếu xuất phát từ một số nguyên nhân.

Theo đó, tâm lý thị trường kỳ vọng giá vàng thế giới sẽ tiếp tục tăng trong bối cảnh các yếu tố bất ổn như chính sách thuế của Chính quyền Tổng thống Trump, định hướng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), tình hình địa chính trị và biến động giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp, khiến nhu cầu tích trữ vàng gia tăng.

"Nguồn cung vàng miếng trong nước không được bổ sung thêm kể từ đầu năm 2025, trong khi thị trường ngoại hối và thị trường vàng tương đối ổn định, dẫn đến việc NHNN chưa cần thiết phải can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng có một số tổ chức, cá nhân lợi dụng tình hình thị trường để đầu cơ, thao túng giá nhằm trục lợi" - NHNN nhận định.

Dù giá vàng trong nước tăng mạnh trong thời gian gần đây, nhưng theo đánh giá của NHNN, những biến động này chưa gây tác động đáng kể đến việc điều hành chính sách tiền tệ cũng như ổn định kinh tế vĩ mô.

Báo cáo do Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) mới công bố cũng cho thấy, nhu cầu đầu tư vào vàng miếng và vàng xu tại các thị trường ASEAN trong quý I/2025 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, song Việt Nam lại là một ngoại lệ. Theo đánh giá của chuyên gia WGC, nhu cầu đầu tư vàng tại Việt Nam giảm 15% so với cùng kỳ, chủ yếu do nguồn cung các sản phẩm vàng bị hạn chế, khiến chênh lệch giá vàng bị đẩy lên cao. Bên cạnh đó, việc đồng nội tệ suy yếu cũng làm giá vàng tính theo USD tăng lên, ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng.

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cũng cho thấy, tính từ đầu năm đến nay, giá bán vàng miếng SJC trong nước tăng tới 38 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 45%; trong khi giá vàng thế giới tăng tới 761 USD/ounce, tương ứng tăng 29%.

Ngày 7/5, giá vàng thế giới quy đổi tương đương 109,36 triệu đồng/lượng, thấp hơn 12,86 triệu đồng/lượng so với trong nước. Đáng chú ý, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới liên tục nới rộng kể từ giữa tháng 4/2025, với mức cao nhất ghi nhận vào ngày 1/5, khi khoảng cách này vượt hơn 18 triệu đồng/lượng.

Thị trường vàng còn nhiều biến động, NHNN chủ động kiểm soát chặt

Theo nhận định của NHNN, thị trường vàng hiện vẫn chưa đạt được sự ổn định bền vững khi còn chịu tác động mạnh từ tâm lý và kỳ vọng của người dân cũng như nhà đầu tư, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ và ngoại hối.

NHNN khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường vàng trong nước và quốc tế, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác quản lý, kịp thời triển khai các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo ổn định thị trường vàng theo đúng thẩm quyền và mục tiêu điều hành.

Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Chiều ngày 21/4, giá vàng thế giới chạm đỉnh lịch sử 3.500 USD USD/ounce. Ảnh: T.L.

Thời gian qua, NHNN triển khai các giải pháp quản lý và điều tiết thị trường vàng theo đúng quy định, bảo đảm giá vàng không gây tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Cùng với đó, cơ quan này cũng nghiên cứu chính sách nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, tích trữ vàng, từ đó, khuyến khích chuyển hướng nguồn lực vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế. Đồng thời, NHNN đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, kết hợp tăng cường các biện pháp phòng chống buôn lậu và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Đặc biệt, NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý thị trường vàng, xử lý tình trạng chênh lệch ở mức cao giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, NHNN thực hiện cung vàng miếng ra thị trường thông qua đấu thầu bán vàng miếng và bán vàng miếng trực tiếp, giúp thu hẹp đáng kể chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC trong nước và giá vàng thế giới; đồng thời, NHNN phối hợp các bộ, ngành chức năng thanh tra hoạt động kinh doanh vàng của một số đơn vị, doanh nghiệp để từng bước chấn chỉnh hoạt động này.

Bên cạnh các giải pháp đã và đang được triển khai, NHNN cho rằng, để đạt được mục tiêu ổn định thị trường vàng một cách căn cơ và lâu dài, cần có sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt của các bộ, ngành và địa phương theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ./.

Hoàn thiện pháp lý, ổn định tâm lý thị trường

Trong thời gian tới, định hướng trọng tâm sẽ là tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông để kịp thời cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về các chủ trương, chính sách và giải pháp điều hành thị trường vàng, qua đó góp phần ổn định tâm lý thị trường. Đồng thời, NHNN sẽ khẩn trương xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.

"Bên cạnh đó, sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan như Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Tài chính... để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, cửa hàng, đại lý phân phối và mua bán vàng miếng cũng như các chủ thể khác tham gia thị trường; kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập hoặc vi phạm để xử lý nghiêm theo thẩm quyền và báo cáo các cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý phù hợp" - NHNN nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80