Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới từng duy trì ổn định, có thời điểm quanh mức 1 triệu đồng/lượng, nhưng đã tăng vọt cuối tháng 4/2025, lên tới hơn 18 triệu đồng/lượng. Trước diễn biến này, Ngân hàng Nhà nước lý giải nguyên nhân và nhấn mạnh sự cần thiết của phối hợp liên ngành, nhằm ổn định thị trường vàng một cách căn cơ, lâu dài.
aa
Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng Giá vàng hôm nay (7/5): Thế giới, vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng sốc Thị trường tiền tệ tuần 14-18/4: Tỷ giá USD chợ đen dậy sóng, vàng tăng dựng đứng

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa có báo cáo về việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội liên quan đến hoạt động chất vấn trong lĩnh vực ngân hàng.

Không loại trừ việc thao túng giá

Theo NHNN, trong những tháng đầu năm 2025, giá vàng thế giới liên tục phá vỡ các mức kỷ lục trước đó. Nguyên nhân chủ yếu khiến giá vàng quốc tế tăng mạnh được NHNN chỉ ra.

Thứ nhất, tình hình chính trị toàn cầu gia tăng bất ổn, xung đột quân sự và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, điển hình như chiến sự Nga - Ukraine kéo dài, dẫn đến các biện pháp trừng phạt và trả đũa lẫn nhau giữa Nga với Mỹ và các đồng minh; xung đột tại Trung Đông giữa Israel và một số quốc gia, lực lượng Hồi giáo.

Thứ hai, hoạt động mua vào mạnh mẽ của nhiều ngân hàng trung ương và các quỹ đầu tư nhằm bổ sung dự trữ ngoại hối.

Thứ ba, tuyên bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc áp thuế cao đối ứng với nhiều quốc gia đã gây tâm lý lo ngại, tác động tiêu cực đến kỳ vọng tăng trưởng toàn cầu, khiến dòng tiền của nhà đầu tư có xu hướng chuyển dịch sang vàng - tài sản được coi là kênh trú ẩn an toàn.

Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục. Ảnh: T.L.

Chênh lệch giá vàng ổn định trước khi tăng vọt cuối tháng 4/2025

"Nhờ các giải pháp điều hành đồng bộ, cho đến đầu tháng 4/2025, chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và giá vàng thế giới vẫn được kiểm soát trong biên độ hợp lý, dao động khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng (tương đương 5 - 7%), thậm chí có thời điểm đầu năm chỉ còn quanh mức 1 triệu đồng/lượng (1 - 2%). Tuy nhiên, đến ngày 23/4, mức chênh lệch này đã tăng lên đáng kể, đạt khoảng 14,48 triệu đồng/lượng (tương đương khoảng 13,62%)" - NHNN nêu rõ.

Trong nước, giá vàng miếng SJC nhìn chung diễn biến đồng chiều với xu hướng của giá vàng thế giới.

Theo NHNN, diễn biến tăng mạnh của giá vàng miếng trong nước, vượt tốc độ tăng của giá vàng thế giới, dẫn đến mức chênh lệch cao, chủ yếu xuất phát từ một số nguyên nhân.

Theo đó, tâm lý thị trường kỳ vọng giá vàng thế giới sẽ tiếp tục tăng trong bối cảnh các yếu tố bất ổn như chính sách thuế của Chính quyền Tổng thống Trump, định hướng lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), tình hình địa chính trị và biến động giá hàng hóa toàn cầu tiếp tục diễn biến phức tạp, khiến nhu cầu tích trữ vàng gia tăng.

"Nguồn cung vàng miếng trong nước không được bổ sung thêm kể từ đầu năm 2025, trong khi thị trường ngoại hối và thị trường vàng tương đối ổn định, dẫn đến việc NHNN chưa cần thiết phải can thiệp thị trường. Bên cạnh đó, không loại trừ khả năng có một số tổ chức, cá nhân lợi dụng tình hình thị trường để đầu cơ, thao túng giá nhằm trục lợi" - NHNN nhận định.

Dù giá vàng trong nước tăng mạnh trong thời gian gần đây, nhưng theo đánh giá của NHNN, những biến động này chưa gây tác động đáng kể đến việc điều hành chính sách tiền tệ cũng như ổn định kinh tế vĩ mô.

Báo cáo do Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) mới công bố cũng cho thấy, nhu cầu đầu tư vào vàng miếng và vàng xu tại các thị trường ASEAN trong quý I/2025 tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước, song Việt Nam lại là một ngoại lệ. Theo đánh giá của chuyên gia WGC, nhu cầu đầu tư vàng tại Việt Nam giảm 15% so với cùng kỳ, chủ yếu do nguồn cung các sản phẩm vàng bị hạn chế, khiến chênh lệch giá vàng bị đẩy lên cao. Bên cạnh đó, việc đồng nội tệ suy yếu cũng làm giá vàng tính theo USD tăng lên, ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu dùng.

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cũng cho thấy, tính từ đầu năm đến nay, giá bán vàng miếng SJC trong nước tăng tới 38 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 45%; trong khi giá vàng thế giới tăng tới 761 USD/ounce, tương ứng tăng 29%.

Ngày 7/5, giá vàng thế giới quy đổi tương đương 109,36 triệu đồng/lượng, thấp hơn 12,86 triệu đồng/lượng so với trong nước. Đáng chú ý, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới liên tục nới rộng kể từ giữa tháng 4/2025, với mức cao nhất ghi nhận vào ngày 1/5, khi khoảng cách này vượt hơn 18 triệu đồng/lượng.

Thị trường vàng còn nhiều biến động, NHNN chủ động kiểm soát chặt

Theo nhận định của NHNN, thị trường vàng hiện vẫn chưa đạt được sự ổn định bền vững khi còn chịu tác động mạnh từ tâm lý và kỳ vọng của người dân cũng như nhà đầu tư, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ và ngoại hối.

NHNN khẳng định sẽ tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường vàng trong nước và quốc tế, đồng thời phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác quản lý, kịp thời triển khai các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo ổn định thị trường vàng theo đúng thẩm quyền và mục tiêu điều hành.

Ngân hàng Nhà nước giải mã mức chênh lệch giá vàng nới rộng kỷ lục
Chiều ngày 21/4, giá vàng thế giới chạm đỉnh lịch sử 3.500 USD USD/ounce. Ảnh: T.L.

Thời gian qua, NHNN triển khai các giải pháp quản lý và điều tiết thị trường vàng theo đúng quy định, bảo đảm giá vàng không gây tác động bất lợi đến ổn định kinh tế vĩ mô.

Cùng với đó, cơ quan này cũng nghiên cứu chính sách nhằm hạn chế tình trạng đầu cơ, tích trữ vàng, từ đó, khuyến khích chuyển hướng nguồn lực vào các hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế. Đồng thời, NHNN đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, kết hợp tăng cường các biện pháp phòng chống buôn lậu và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Đặc biệt, NHNN triển khai đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý thị trường vàng, xử lý tình trạng chênh lệch ở mức cao giữa giá vàng miếng trong nước và vàng quốc tế theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, NHNN thực hiện cung vàng miếng ra thị trường thông qua đấu thầu bán vàng miếng và bán vàng miếng trực tiếp, giúp thu hẹp đáng kể chênh lệch giữa giá vàng miếng SJC trong nước và giá vàng thế giới; đồng thời, NHNN phối hợp các bộ, ngành chức năng thanh tra hoạt động kinh doanh vàng của một số đơn vị, doanh nghiệp để từng bước chấn chỉnh hoạt động này.

Bên cạnh các giải pháp đã và đang được triển khai, NHNN cho rằng, để đạt được mục tiêu ổn định thị trường vàng một cách căn cơ và lâu dài, cần có sự phối hợp đồng bộ, quyết liệt của các bộ, ngành và địa phương theo đúng chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ./.

Hoàn thiện pháp lý, ổn định tâm lý thị trường

Trong thời gian tới, định hướng trọng tâm sẽ là tiếp tục đẩy mạnh công tác truyền thông để kịp thời cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác về các chủ trương, chính sách và giải pháp điều hành thị trường vàng, qua đó góp phần ổn định tâm lý thị trường. Đồng thời, NHNN sẽ khẩn trương xây dựng Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP theo trình tự, thủ tục rút gọn nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.

"Bên cạnh đó, sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan như Bộ Công an, Bộ Công thương, Bộ Tài chính... để tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, cửa hàng, đại lý phân phối và mua bán vàng miếng cũng như các chủ thể khác tham gia thị trường; kịp thời phát hiện những sơ hở, bất cập hoặc vi phạm để xử lý nghiêm theo thẩm quyền và báo cáo các cấp có thẩm quyền các biện pháp xử lý phù hợp" - NHNN nhấn mạnh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80