Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên TBTCVN về diễn biến thị trường vàng năm 2024, PGS. TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế nhấn mạnh nhiều thành công trong công tác quản lý, điều hành thị trường vàng, gợi mở những định hướng để "đánh thức" nguồn vốn bất động đang chôn trong vàng và chuyển hoá thành tiền phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
aa
Sửa đổi Nghị định 24 sẽ
Gợi mở định hướng sửa đổi Nghị định 24, "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng

PV: Những biến động trên thị trường vàng năm 2024 có điểm gì khác biệt so với những năm trước đây, thưa ông? Trong bối cảnh đó, ông đánh giá thế nào về công tác quản lý và điều hành thị trường vàng năm nay?

Gợi mở định hướng sửa đổi Nghị định 24, "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng

Ông Ngô Trí Long: Nhiều dự báo cho thấy giá vàng thế giới đầu năm chỉ tăng lên 2.400 USD/ounce, cuối năm lên mức 2.600 USD/ounce song giá vàng tăng bất ngờ, gần chạm ngưỡng 2.800 USD/ounce vào tháng 10/2024, tương ứng mức tăng 36% so với cuối năm 2023.

Giá vàng trong nước phụ thuộc phần lớn vào giá vàng thế giới, cũng tăng cao song có những hiện tượng bất thường so với những năm khác. Trong khi giá vàng thế giới đạt đỉnh tháng 10/2024 thì giá vàng trong nước lại đạt kỷ lục vào tháng 5/2024 là 92,4 triệu đồng/lượng. Nghịch lý nhất khi chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới rất cao, gần 20 triệu đồng/lượng, kéo theo nhiều hệ luỵ, bất ổn, trong đó có nguy cơ buôn lậu vàng gia tăng.

Khác với những năm trước, nhu cầu tích trữ vàng của người dân tăng cao đột biến do lo ngại vấn đề lạm phát, những biến động và bất ổn về kinh tế, địa chính trị khiến nhiều tổ chức quốc tế dự báo giá vàng có thể đến 3.000 USD/ounce. Thêm vào đó, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác xập xệ nên người dân đổ xô mua vàng, xếp hàng chờ thâu đêm. Giá vàng năm 2024 cũng biến động rất mạnh so với các năm trước, biên độ dao động lớn, tác động mạnh tới tâm lý nhà đầu tư.

Sự bất ổn, chênh lệnh chủ yếu do nguồn cung hạn chế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) độc quyền sản xuất vàng miếng và quản lý nhập khẩu vàng nguyên liệu rất chặt chẽ, dẫn đến nguồn cung trong nước không đáp ứng được nhu cầu và tạo áp lực tăng giá. Cũng trong năm 2024, NHNN đang tiến hành tổng kết, đánh giá Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24) và đưa ra những đề xuất, giải pháp quản lý thị trường vàng hiệu quả trong tình hình mới.

PV: Hạn chót Quốc hội giao Chính phủ là tổng kết đầy đủ, nghiên cứu sửa đổi Nghị định 24 trước tháng 6/2025. Theo ông, cần lưu ý những điểm gì khi sửa đổi Nghị định 24, nhằm đạt một trong những mục tiêu lớn là khuyến khích người dân bán vàng phục vụ sản xuất kinh doanh?

Ông Ngô Trí Long: Khi sửa Nghị định 24 cần lưu ý thứ nhất, khuyến khích người dân bán vàng và đầu tư sản xuất kinh doanh. Theo đó, Chính phủ, NHNN phải đưa ra các chính sách thật sự hấp dẫn về thuế, các chính sách ưu đãi để người dân không mua vàng mà đầu tư vào sản xuất. Đồng thời, phải tăng cường niềm tin cho người dân vào đồng nội tệ, đảm bảo chính sách tiền tệ ổn định để người dân an tâm sử dụng VND thay vì giữ vàng.

Giải pháp nhất thời, khó duy trì kéo dài

Năm vừa qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp bình ổn, ngăn tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, xử lý tình trạng chênh lệch giá vàng và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, giúp thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới. Tuy nhiên, biện pháp tăng cung vàng hiện tại, đặc biệt bán vàng qua các ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC chỉ là giải pháp nhất thời, khó thể tồn tại lâu dài.

Thứ hai, kiểm soát thị trường vàng, tránh tác động tiêu cực thông qua tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, tránh các hoạt động đầu cơ, làm giá, giảm thiểu sử dụng vàng trong thanh toán. Phải kiểm soát hoạt động nhập khẩu vàng, tránh ảnh hưởng tiêu cực đến cán thân thương mại và tỷ giá hối đoái.

Thứ ba, phát triển các sản phẩm tài chính, đầu tư thay thế. Nghiên cứu xây dựng thị trường phái sinh vàng, vàng tài khoản hay chứng chỉ vàng, xem xét lập sàn vàng hay không để người dân vẫn có thể đầu tư vàng mà không cần tích trữ vàng vật chất.

Thứ tư, bảo vệ quyền lợi của người dân thông qua đảm bảo tính minh bạch, cạnh tranh, tránh hiện tượng độc quyền kinh doanh vàng hoặc lợi dụng vị thế để thao túng, thống lĩnh thị trường.

Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền, trang bị kiến thức tài chính, giúp người dân hiểu lợi ích của việc chuyển đổi vàng sang tiền tệ để tái đầu tư.

Cuối cùng, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, trong đó, NHNN phải phát huy vai trò chủ đạo trong kiểm soát và điều tiết thị trường, đặc biệt là vàng miếng.

Cùng với đó, tránh hiện tượng cơ quan quản lý thực hiện chức năng kinh doanh, sản xuất vàng miếng. Không ngân hàng trung ương nào trên thế giới sản xuất và bán vàng, thay vào đó, điều hành thị trường bằng những chính sách, công cụ.

Việc sửa đổi Nghị định 24 cần hướng đến mục tiêu quản lý hiệu quả, vừa khuyến khích để huy động nguồn lực từ vàng đưa vào phục vụ sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển đất nước.

PV: Trong bối cảnh thị trường vàng tiếp tục có nhiều biến động, ông nhận diện những yếu tố nào đẩy tăng giá vàng hoặc kéo giảm giá vàng thời gian tới?

Ông Ngô Trí Long: Các ngân hàng trung ương trên thế giới, đặc biệt là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ cắt giảm lãi suất thời gian tới và kim loại quý này trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư. Vàng là một tài sản trú ẩn tương đối an toàn, bất ổn về địa chính trị có thể gia tăng nhu cầu tích trữ vàng, đặc biệt từ nhiều ngân hàng trung ương, tạo lực cầu giúp vàng tăng giá.

Bên cạnh đó, cũng có những yếu tố làm giảm giá vàng, đặc biệt khi đồng USD mạnh lên thời Tổng thống Trump cầm quyền. Các chính sách kiểm soát, quản lý thị trường vàng cũng có thể hạn chế biến động giá vàng. Khi tình hình kinh tế toàn cầu cải thiện, phục hồi, nhà đầu tư cũng chuyển sang các tài sản ít rủi ro hơn, làm giảm nhu cầu giữ vàng và gây áp giảm giá.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhận diện rõ những nhân tố đẩy tăng hay giảm giá vàng

Tiếp đà tăng bền bỉ từ cuối năm 2023, bước sang năm 2024, "sóng" vàng trong nước dâng cao nhờ cộng hưởng nhiều yếu tố thuận lợi. Năm 2024, giá vàng thế giới lập kỷ lục ngày 30/10/2024, giao dịch ở mức 2.786 USD/ounce, tăng khoảng 36% so với cuối năm 2023 và đang gián đoạn đà tăng sau khi đồng USD tăng giá kể từ sau kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ, tương ứng mức tăng co hẹp lại chỉ còn khoảng 28% so với đầu năm.

Tại thị trường trong nước, sau khi Chính phủ, NHNN cùng các bộ, ngành và các địa phương can thiệp bằng nhiều giải pháp để xử lý tình trạng chênh lệch giá vàng cao, đặc biệt là từ khi chuyển sang phương thức bán vàng miếng với khối lượng phù hợp qua 04 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC, chênh lệch giá bán vàng miếng trong nước so với giá thế giới giảm sâu. Theo đó, giá trong nước chỉ còn chênh khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng so với giá vàng thế giới (khoảng 5 - 7%), thay vì mức 18 triệu đồng/lượng như trước đây. Trong phiên giao dịch ngày 24/12, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới hiện chỉ ở mức 2,2 triệu đồng/lượng.

Cũng trong năm 2024, thị trường vàng còn chứng kiến nhiều diễn biến bất thường như: giá vàng tăng cao kỷ lục, chênh lệch giá vàng bán ra - mua vào nới rộng chưa từng có, biên độ tăng giảm giá trong ngày lớn nhất từ trước đến nay...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17887 18462
CAD 17959 18234 18849
CHF 31793 32174 32816
CNY 0 3827 3920
EUR 29285 29505 30581
GBP 33887 34276 35218
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14546 15136
SGD 19758 20039 20616
THB 703 766 819
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80