Sửa đổi Nghị định 24 sẽ "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên TBTCVN về diễn biến thị trường vàng năm 2024, PGS. TS. Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế nhấn mạnh nhiều thành công trong công tác quản lý, điều hành thị trường vàng, gợi mở những định hướng để "đánh thức" nguồn vốn bất động đang chôn trong vàng và chuyển hoá thành tiền phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
aa
Sửa đổi Nghị định 24 sẽ
Gợi mở định hướng sửa đổi Nghị định 24, "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng

PV: Những biến động trên thị trường vàng năm 2024 có điểm gì khác biệt so với những năm trước đây, thưa ông? Trong bối cảnh đó, ông đánh giá thế nào về công tác quản lý và điều hành thị trường vàng năm nay?

Gợi mở định hướng sửa đổi Nghị định 24, "đánh thức" nguồn lực đang chôn trong vàng

Ông Ngô Trí Long: Nhiều dự báo cho thấy giá vàng thế giới đầu năm chỉ tăng lên 2.400 USD/ounce, cuối năm lên mức 2.600 USD/ounce song giá vàng tăng bất ngờ, gần chạm ngưỡng 2.800 USD/ounce vào tháng 10/2024, tương ứng mức tăng 36% so với cuối năm 2023.

Giá vàng trong nước phụ thuộc phần lớn vào giá vàng thế giới, cũng tăng cao song có những hiện tượng bất thường so với những năm khác. Trong khi giá vàng thế giới đạt đỉnh tháng 10/2024 thì giá vàng trong nước lại đạt kỷ lục vào tháng 5/2024 là 92,4 triệu đồng/lượng. Nghịch lý nhất khi chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới rất cao, gần 20 triệu đồng/lượng, kéo theo nhiều hệ luỵ, bất ổn, trong đó có nguy cơ buôn lậu vàng gia tăng.

Khác với những năm trước, nhu cầu tích trữ vàng của người dân tăng cao đột biến do lo ngại vấn đề lạm phát, những biến động và bất ổn về kinh tế, địa chính trị khiến nhiều tổ chức quốc tế dự báo giá vàng có thể đến 3.000 USD/ounce. Thêm vào đó, trong bối cảnh các kênh đầu tư khác xập xệ nên người dân đổ xô mua vàng, xếp hàng chờ thâu đêm. Giá vàng năm 2024 cũng biến động rất mạnh so với các năm trước, biên độ dao động lớn, tác động mạnh tới tâm lý nhà đầu tư.

Sự bất ổn, chênh lệnh chủ yếu do nguồn cung hạn chế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) độc quyền sản xuất vàng miếng và quản lý nhập khẩu vàng nguyên liệu rất chặt chẽ, dẫn đến nguồn cung trong nước không đáp ứng được nhu cầu và tạo áp lực tăng giá. Cũng trong năm 2024, NHNN đang tiến hành tổng kết, đánh giá Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 24) và đưa ra những đề xuất, giải pháp quản lý thị trường vàng hiệu quả trong tình hình mới.

PV: Hạn chót Quốc hội giao Chính phủ là tổng kết đầy đủ, nghiên cứu sửa đổi Nghị định 24 trước tháng 6/2025. Theo ông, cần lưu ý những điểm gì khi sửa đổi Nghị định 24, nhằm đạt một trong những mục tiêu lớn là khuyến khích người dân bán vàng phục vụ sản xuất kinh doanh?

Ông Ngô Trí Long: Khi sửa Nghị định 24 cần lưu ý thứ nhất, khuyến khích người dân bán vàng và đầu tư sản xuất kinh doanh. Theo đó, Chính phủ, NHNN phải đưa ra các chính sách thật sự hấp dẫn về thuế, các chính sách ưu đãi để người dân không mua vàng mà đầu tư vào sản xuất. Đồng thời, phải tăng cường niềm tin cho người dân vào đồng nội tệ, đảm bảo chính sách tiền tệ ổn định để người dân an tâm sử dụng VND thay vì giữ vàng.

Giải pháp nhất thời, khó duy trì kéo dài

Năm vừa qua, Ngân hàng Nhà nước triển khai nhiều giải pháp bình ổn, ngăn tình trạng "vàng hóa" nền kinh tế, xử lý tình trạng chênh lệch giá vàng và đã đạt được nhiều kết quả tích cực, giúp thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới. Tuy nhiên, biện pháp tăng cung vàng hiện tại, đặc biệt bán vàng qua các ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty SJC chỉ là giải pháp nhất thời, khó thể tồn tại lâu dài.

Thứ hai, kiểm soát thị trường vàng, tránh tác động tiêu cực thông qua tăng cường các biện pháp kiểm tra, giám sát, tránh các hoạt động đầu cơ, làm giá, giảm thiểu sử dụng vàng trong thanh toán. Phải kiểm soát hoạt động nhập khẩu vàng, tránh ảnh hưởng tiêu cực đến cán thân thương mại và tỷ giá hối đoái.

Thứ ba, phát triển các sản phẩm tài chính, đầu tư thay thế. Nghiên cứu xây dựng thị trường phái sinh vàng, vàng tài khoản hay chứng chỉ vàng, xem xét lập sàn vàng hay không để người dân vẫn có thể đầu tư vàng mà không cần tích trữ vàng vật chất.

Thứ tư, bảo vệ quyền lợi của người dân thông qua đảm bảo tính minh bạch, cạnh tranh, tránh hiện tượng độc quyền kinh doanh vàng hoặc lợi dụng vị thế để thao túng, thống lĩnh thị trường.

Thứ năm, tăng cường công tác tuyên truyền, trang bị kiến thức tài chính, giúp người dân hiểu lợi ích của việc chuyển đổi vàng sang tiền tệ để tái đầu tư.

Cuối cùng, tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, trong đó, NHNN phải phát huy vai trò chủ đạo trong kiểm soát và điều tiết thị trường, đặc biệt là vàng miếng.

Cùng với đó, tránh hiện tượng cơ quan quản lý thực hiện chức năng kinh doanh, sản xuất vàng miếng. Không ngân hàng trung ương nào trên thế giới sản xuất và bán vàng, thay vào đó, điều hành thị trường bằng những chính sách, công cụ.

Việc sửa đổi Nghị định 24 cần hướng đến mục tiêu quản lý hiệu quả, vừa khuyến khích để huy động nguồn lực từ vàng đưa vào phục vụ sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển đất nước.

PV: Trong bối cảnh thị trường vàng tiếp tục có nhiều biến động, ông nhận diện những yếu tố nào đẩy tăng giá vàng hoặc kéo giảm giá vàng thời gian tới?

Ông Ngô Trí Long: Các ngân hàng trung ương trên thế giới, đặc biệt là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến sẽ cắt giảm lãi suất thời gian tới và kim loại quý này trở nên hấp dẫn hơn với nhà đầu tư. Vàng là một tài sản trú ẩn tương đối an toàn, bất ổn về địa chính trị có thể gia tăng nhu cầu tích trữ vàng, đặc biệt từ nhiều ngân hàng trung ương, tạo lực cầu giúp vàng tăng giá.

Bên cạnh đó, cũng có những yếu tố làm giảm giá vàng, đặc biệt khi đồng USD mạnh lên thời Tổng thống Trump cầm quyền. Các chính sách kiểm soát, quản lý thị trường vàng cũng có thể hạn chế biến động giá vàng. Khi tình hình kinh tế toàn cầu cải thiện, phục hồi, nhà đầu tư cũng chuyển sang các tài sản ít rủi ro hơn, làm giảm nhu cầu giữ vàng và gây áp giảm giá.

PV: Xin cảm ơn ông!

Nhận diện rõ những nhân tố đẩy tăng hay giảm giá vàng

Tiếp đà tăng bền bỉ từ cuối năm 2023, bước sang năm 2024, "sóng" vàng trong nước dâng cao nhờ cộng hưởng nhiều yếu tố thuận lợi. Năm 2024, giá vàng thế giới lập kỷ lục ngày 30/10/2024, giao dịch ở mức 2.786 USD/ounce, tăng khoảng 36% so với cuối năm 2023 và đang gián đoạn đà tăng sau khi đồng USD tăng giá kể từ sau kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ, tương ứng mức tăng co hẹp lại chỉ còn khoảng 28% so với đầu năm.

Tại thị trường trong nước, sau khi Chính phủ, NHNN cùng các bộ, ngành và các địa phương can thiệp bằng nhiều giải pháp để xử lý tình trạng chênh lệch giá vàng cao, đặc biệt là từ khi chuyển sang phương thức bán vàng miếng với khối lượng phù hợp qua 04 ngân hàng thương mại nhà nước và Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn SJC, chênh lệch giá bán vàng miếng trong nước so với giá thế giới giảm sâu. Theo đó, giá trong nước chỉ còn chênh khoảng 3 - 5 triệu đồng/lượng so với giá vàng thế giới (khoảng 5 - 7%), thay vì mức 18 triệu đồng/lượng như trước đây. Trong phiên giao dịch ngày 24/12, chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới hiện chỉ ở mức 2,2 triệu đồng/lượng.

Cũng trong năm 2024, thị trường vàng còn chứng kiến nhiều diễn biến bất thường như: giá vàng tăng cao kỷ lục, chênh lệch giá vàng bán ra - mua vào nới rộng chưa từng có, biên độ tăng giảm giá trong ngày lớn nhất từ trước đến nay...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80