Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh, thiết lập mức cao kỷ lục. Cuối tháng 3/2025, giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC tiến sát 102 triệu đồng/lượng, tăng khoảng 11 triệu đồng/lượng chỉ trong 1 tháng. Giới chuyên gia dự báo giá vàng còn có thể chạm mốc kỷ lục mới.
aa

Cơn sốt giá vàng chưa hạ nhiệt song nhiều rủi ro

Giá vàng miếng chiều 31/3 lên mốc 101,8 triệu đồng/lượng
Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Thế giới thử thách mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc

Chốt phiên giao dịch ngày 31/3, giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh theo giá thế giới. Giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC bán ra tiến sát mốc 102 triệu đồng/lượng, cao chưa từng có.

Vàng sát mốc 102 triệu đồng/lượng, quý tăng trưởng kỷ lục trong 39 năm

Chiều ngày 31/3, giá vàng miếng tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết ở mức 99,5 - 101,8 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,1 triệu đồng mỗi lượng ở cả chiều mua và bán so với mức chốt cuối tuần qua. Các doanh nghiệp kinh doanh vàng khác như: Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI… đều niêm yết như mức trên - mức cao kỷ lục trong lịch sử.

Giá vàng nhẫn hôm nay tại các thương hiệu cũng tăng mạnh, đắt hơn từ 800 nghìn đồng đến hơn 1 triệu đồng mỗi lượng so với cuối tuần qua. Đa phần các doanh nghiệp niêm yết giá vàng nhẫn vượt mốc 101 triệu đồng/lượng, một số tiệm thì tiến sát mốc 102 triệu đồng/lượng ở chiều bán.

Đơn cử, Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn trơn ở mức 99,6 - 101,9 triệu đồng/lượng (mua - bán). Bên cạnh đó, Công ty SJC nâng giá vàng nhẫn trơn loại 1 - 5 chỉ lên mức 99 - 101,2 triệu đồng/lượng (mua - bán), cao hơn phiên cuối tuần trước 200 nghìn/lượng. Bên cạnh đó, Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji cũng kéo giá mua - bán vàng nhẫn 9999 lên mức 99,2 - 101,7 triệu đồng/lượng.

Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Giá vàng tăng 11 triệu đồng/lượng trong 1 tháng

Tính riêng tháng 3/2025, giá vàng nhẫn do Công ty SJC niêm yết tăng mạnh 10,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 10,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. So với đầu năm, mức tăng của vàng nhẫn lên tới 16,8 - 17,2 triệu đồng/lượng.

Vàng miếng SJC cũng không nằm ngoài xu hướng khi ghi nhận mức tăng 11 - 11,3 triệu đồng/lượng trong tháng 3, nhỉnh hơn vàng nhẫn. Tính từ đầu năm, giá vàng miếng đã tăng tổng cộng 17,3 - 17,6 triệu đồng/lượng, cho thấy đà tăng chưa có dấu hiệu chững lại.

Giá vàng trong nước tăng cao trong bối cảnh kim loại quý trên thị trường quốc tế thiết lập kỷ lục mới. Giá vàng giao ngay ngày 31/3 lần đầu tiên vượt mốc 3.100 USD/ounce, có thời điểm trong phiên tăng 44 USD/ounce, lên đỉnh cao thời đại 3.127,8 USD/ounce.

Giá vàng thế giới quy đổi tương đương 98,6 triệu đồng/lượng, thấp hơn 3,2 triệu đồng/lượng so với trong nước.

Dù giá vàng trong nước đã vượt ngưỡng 100 triệu đồng/lượng, dòng tiền đổ vào vàng vẫn mạnh. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, đây không phải thời điểm lý tưởng để tích sản, bởi tích sản nên thực hiện đều đặn hàng tháng. Hiện thị trường chủ yếu hấp dẫn nhà đầu cơ ngắn hạn, kỳ vọng lợi nhuận cao hơn các kênh khác, ít nhất là cao hơn lãi suất ngân hàng khoảng 6%/năm.

Nếu mua vàng ở mức 100 triệu đồng/lượng, để có lãi tối thiểu 6%, chưa kể chi phí chênh lệch mua bán, nhà đầu cơ cần đánh cược giá vàng tăng lên trên ít nhất 110 triệu đồng/lượng thì mới có lời. Do đó, cần cân nhắc cẩn trọng đầu tư mua vàng thời điểm này.

Nhu cầu trú ẩn cao, tiền sẽ còn đổ vào kênh vàng

Giá kim loại quý tăng cao do nhiều yếu tố đồng loạt hỗ trợ, bao gồm tác động từ chính sách thuế nhập khẩu sắp công bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump, cộng với căng thẳng tại Trung Đông và Ukraine leo thang, thúc đẩy dòng tiền đổ vào vàng như một kênh trú ẩn an toàn. Nhờ đó, giá vàng vừa khép lại quý tăng trưởng mạnh nhất trong 39 năm qua.

Tin tức kinh tế vào tuần tới sẽ xoay quanh việc chính quyền Trump thực hiện các mức thuế thương mại toàn cầu vào ngày 2/4, cùng với báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 3/2025 được công bố vào cuối tuần - đây là dữ liệu được mong đợi nhất trên thị trường lao động Mỹ có ảnh hưởng đặc biệt đến đồng USD. Các nhà phân tích cảnh báo rằng, cả hai sự kiện này đều có thể thúc đẩy nhu cầu trú ẩn an toàn của vàng.

Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới
Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới. Ảnh tư liệu.

Chia sẻ gần đây, ông Abel Lim - Giám đốc Tư vấn và chiến lược quản lý tài sản, Ngân hàng UOB (Singapore) khuyến nghị các nhà đầu tư xây dựng danh mục đầu tư đa dạng bằng cách phân bổ vốn vào nhiều loại tài sản, khu vực, ngành nghề khác nhau và duy trì sự linh hoạt, chủ động để tận dụng các cơ hội đầu tư chiến thuật.

Vàng duy trì sức hút trú ẩn

"Vàng có thể đóng vai trò là tài sản đa dạng hóa và hàng rào phòng vệ trước nguy cơ tăng trưởng kinh tế chậm lại và những bất ổn trên thị trường. Nhìn chung, nhu cầu dài hạn đối với vàng như một tài sản trú ẩn an toàn được kỳ vọng sẽ tiếp tục mạnh mẽ, dự báo giá vàng có thể lên đến là 3.200 USD/ounce trong quý I/2026" - ông Abel Lim - đại diện Ngân hàng UOB Singapore nhận định.

Cuộc khảo sát hàng tuần mới nhất của Kitco News về giá vàng cho thấy, sự lạc quan mạnh mẽ từ các chuyên gia trong ngành về tiềm năng tăng giá của vàng, với 85% ý kiến chuyên gia dự đoán giá vàng sẽ tiếp tục tăng trong tuần tới, chỉ có 5% dự báo giá giảm và 10% đi ngang.

Ông Adrian Day - Chủ tịch Công ty Adrian Day Asset Management cho rằng, vàng đã vượt qua mốc 3.000 USD mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Các lý do để mua vàng vẫn còn nguyên vẹn, với tiềm năng mua vào mạnh mẽ từ các ngân hàng trung ương, người tiêu dùng Trung Quốc và nhà đầu tư Bắc Mỹ, nhóm vẫn chưa được khai thác nhiều.

Ông John Weyer - Giám đốc bộ phận Phòng hộ thương mại tại Walsh Trading cũng nhìn thấy tiềm năng tăng giá đáng kể của vàng khi các lo ngại về thuế quan và lạm phát khiến nhà đầu tư tìm đến tài sản trú ẩn.

Theo ông John Weyer, sau một số dữ liệu lạm phát, cùng với những lo ngại liên tục về thuế quan khiến vàng trở thành lựa chọn trú ẩn an toàn cho nhiều nhà đầu tư. Ông lưu ý rằng, ngay cả khi các biện pháp thuế quan được giảm nhẹ, thấp hơn dự đoán vào ngày 2/4 tới đây, vàng vẫn có lý do để giữ mức cao quanh mốc 3.000 USD. Tuy nhiên, kịch bản có khả năng xảy ra hơn là thuế quan sẽ được áp dụng với mức đáng kể, gây ra tâm lý lo ngại và đẩy vàng lên mức cao mới trong tuần tới, có thể đạt 3.200 - 3.300 USD/ounce nếu mọi dự báo hiện tại trở thành hiện thực.

Không chỉ Bank of America nâng dự báo, Goldman Sachs hiện kỳ vọng giá vàng sẽ đạt 3.300 USD/ounce vào cuối năm nay. Ngân hàng Pháp Société Générale cũng dự báo vàng sẽ chạm mức này trong năm 2025. Thậm chí, các nhà phân tích của họ còn thấy khả năng vàng có thể tăng lên 4.000 USD/ounce nếu căng thẳng địa chính trị leo thang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17737 18010 18586
CAD 17884 18158 18774
CHF 30769 31146 31793
CNY 0 3829 3925
EUR 28931 29150 30231
GBP 33583 33971 34909
HKD 0 3183 3386
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14428 15015
SGD 19774 20056 20626
THB 692 755 808
USD (1,2) 25729 0 0
USD (5,10,20) 25768 0 0
USD (50,100) 25796 25810 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,026 29,049 30,427
JPY 159.64 159.93 169.61
GBP 33,816 33,908 35,082
AUD 17,958 18,023 18,706
CAD 18,087 18,145 18,815
CHF 31,197 31,294 32,216
SGD 19,900 19,962 20,744
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.51 18.26 19.88
THB 741.95 751.11 804.23
NZD 14,445 14,579 15,012
SEK - 2,580 2,671
DKK - 3,893 4,031
NOK - 2,696 2,792
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,957.79 - 6,724.66
TWD 737.34 - 892.76
SAR - 6,805.45 7,168.62
KWD - 82,209 87,477
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25815 25815 26175
AUD 17927 18027 18950
CAD 18076 18176 19190
CHF 31010 31040 32621
CNY 3811.8 3836.8 3972.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29112 29142 30867
GBP 33873 33923 35694
HKD 0 3315 0
JPY 160.21 160.71 171.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14537 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19929 20059 20780
THB 0 721.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 25/09/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30