Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh, thiết lập mức cao kỷ lục. Cuối tháng 3/2025, giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC tiến sát 102 triệu đồng/lượng, tăng khoảng 11 triệu đồng/lượng chỉ trong 1 tháng. Giới chuyên gia dự báo giá vàng còn có thể chạm mốc kỷ lục mới.
aa

Cơn sốt giá vàng chưa hạ nhiệt song nhiều rủi ro

Giá vàng miếng chiều 31/3 lên mốc 101,8 triệu đồng/lượng
Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Thế giới thử thách mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc

Chốt phiên giao dịch ngày 31/3, giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh theo giá thế giới. Giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC bán ra tiến sát mốc 102 triệu đồng/lượng, cao chưa từng có.

Vàng sát mốc 102 triệu đồng/lượng, quý tăng trưởng kỷ lục trong 39 năm

Chiều ngày 31/3, giá vàng miếng tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết ở mức 99,5 - 101,8 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,1 triệu đồng mỗi lượng ở cả chiều mua và bán so với mức chốt cuối tuần qua. Các doanh nghiệp kinh doanh vàng khác như: Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI… đều niêm yết như mức trên - mức cao kỷ lục trong lịch sử.

Giá vàng nhẫn hôm nay tại các thương hiệu cũng tăng mạnh, đắt hơn từ 800 nghìn đồng đến hơn 1 triệu đồng mỗi lượng so với cuối tuần qua. Đa phần các doanh nghiệp niêm yết giá vàng nhẫn vượt mốc 101 triệu đồng/lượng, một số tiệm thì tiến sát mốc 102 triệu đồng/lượng ở chiều bán.

Đơn cử, Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn trơn ở mức 99,6 - 101,9 triệu đồng/lượng (mua - bán). Bên cạnh đó, Công ty SJC nâng giá vàng nhẫn trơn loại 1 - 5 chỉ lên mức 99 - 101,2 triệu đồng/lượng (mua - bán), cao hơn phiên cuối tuần trước 200 nghìn/lượng. Bên cạnh đó, Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji cũng kéo giá mua - bán vàng nhẫn 9999 lên mức 99,2 - 101,7 triệu đồng/lượng.

Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Giá vàng tăng 11 triệu đồng/lượng trong 1 tháng

Tính riêng tháng 3/2025, giá vàng nhẫn do Công ty SJC niêm yết tăng mạnh 10,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 10,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. So với đầu năm, mức tăng của vàng nhẫn lên tới 16,8 - 17,2 triệu đồng/lượng.

Vàng miếng SJC cũng không nằm ngoài xu hướng khi ghi nhận mức tăng 11 - 11,3 triệu đồng/lượng trong tháng 3, nhỉnh hơn vàng nhẫn. Tính từ đầu năm, giá vàng miếng đã tăng tổng cộng 17,3 - 17,6 triệu đồng/lượng, cho thấy đà tăng chưa có dấu hiệu chững lại.

Giá vàng trong nước tăng cao trong bối cảnh kim loại quý trên thị trường quốc tế thiết lập kỷ lục mới. Giá vàng giao ngay ngày 31/3 lần đầu tiên vượt mốc 3.100 USD/ounce, có thời điểm trong phiên tăng 44 USD/ounce, lên đỉnh cao thời đại 3.127,8 USD/ounce.

Giá vàng thế giới quy đổi tương đương 98,6 triệu đồng/lượng, thấp hơn 3,2 triệu đồng/lượng so với trong nước.

Dù giá vàng trong nước đã vượt ngưỡng 100 triệu đồng/lượng, dòng tiền đổ vào vàng vẫn mạnh. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, đây không phải thời điểm lý tưởng để tích sản, bởi tích sản nên thực hiện đều đặn hàng tháng. Hiện thị trường chủ yếu hấp dẫn nhà đầu cơ ngắn hạn, kỳ vọng lợi nhuận cao hơn các kênh khác, ít nhất là cao hơn lãi suất ngân hàng khoảng 6%/năm.

Nếu mua vàng ở mức 100 triệu đồng/lượng, để có lãi tối thiểu 6%, chưa kể chi phí chênh lệch mua bán, nhà đầu cơ cần đánh cược giá vàng tăng lên trên ít nhất 110 triệu đồng/lượng thì mới có lời. Do đó, cần cân nhắc cẩn trọng đầu tư mua vàng thời điểm này.

Nhu cầu trú ẩn cao, tiền sẽ còn đổ vào kênh vàng

Giá kim loại quý tăng cao do nhiều yếu tố đồng loạt hỗ trợ, bao gồm tác động từ chính sách thuế nhập khẩu sắp công bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump, cộng với căng thẳng tại Trung Đông và Ukraine leo thang, thúc đẩy dòng tiền đổ vào vàng như một kênh trú ẩn an toàn. Nhờ đó, giá vàng vừa khép lại quý tăng trưởng mạnh nhất trong 39 năm qua.

Tin tức kinh tế vào tuần tới sẽ xoay quanh việc chính quyền Trump thực hiện các mức thuế thương mại toàn cầu vào ngày 2/4, cùng với báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 3/2025 được công bố vào cuối tuần - đây là dữ liệu được mong đợi nhất trên thị trường lao động Mỹ có ảnh hưởng đặc biệt đến đồng USD. Các nhà phân tích cảnh báo rằng, cả hai sự kiện này đều có thể thúc đẩy nhu cầu trú ẩn an toàn của vàng.

Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới
Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới. Ảnh tư liệu.

Chia sẻ gần đây, ông Abel Lim - Giám đốc Tư vấn và chiến lược quản lý tài sản, Ngân hàng UOB (Singapore) khuyến nghị các nhà đầu tư xây dựng danh mục đầu tư đa dạng bằng cách phân bổ vốn vào nhiều loại tài sản, khu vực, ngành nghề khác nhau và duy trì sự linh hoạt, chủ động để tận dụng các cơ hội đầu tư chiến thuật.

Vàng duy trì sức hút trú ẩn

"Vàng có thể đóng vai trò là tài sản đa dạng hóa và hàng rào phòng vệ trước nguy cơ tăng trưởng kinh tế chậm lại và những bất ổn trên thị trường. Nhìn chung, nhu cầu dài hạn đối với vàng như một tài sản trú ẩn an toàn được kỳ vọng sẽ tiếp tục mạnh mẽ, dự báo giá vàng có thể lên đến là 3.200 USD/ounce trong quý I/2026" - ông Abel Lim - đại diện Ngân hàng UOB Singapore nhận định.

Cuộc khảo sát hàng tuần mới nhất của Kitco News về giá vàng cho thấy, sự lạc quan mạnh mẽ từ các chuyên gia trong ngành về tiềm năng tăng giá của vàng, với 85% ý kiến chuyên gia dự đoán giá vàng sẽ tiếp tục tăng trong tuần tới, chỉ có 5% dự báo giá giảm và 10% đi ngang.

Ông Adrian Day - Chủ tịch Công ty Adrian Day Asset Management cho rằng, vàng đã vượt qua mốc 3.000 USD mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Các lý do để mua vàng vẫn còn nguyên vẹn, với tiềm năng mua vào mạnh mẽ từ các ngân hàng trung ương, người tiêu dùng Trung Quốc và nhà đầu tư Bắc Mỹ, nhóm vẫn chưa được khai thác nhiều.

Ông John Weyer - Giám đốc bộ phận Phòng hộ thương mại tại Walsh Trading cũng nhìn thấy tiềm năng tăng giá đáng kể của vàng khi các lo ngại về thuế quan và lạm phát khiến nhà đầu tư tìm đến tài sản trú ẩn.

Theo ông John Weyer, sau một số dữ liệu lạm phát, cùng với những lo ngại liên tục về thuế quan khiến vàng trở thành lựa chọn trú ẩn an toàn cho nhiều nhà đầu tư. Ông lưu ý rằng, ngay cả khi các biện pháp thuế quan được giảm nhẹ, thấp hơn dự đoán vào ngày 2/4 tới đây, vàng vẫn có lý do để giữ mức cao quanh mốc 3.000 USD. Tuy nhiên, kịch bản có khả năng xảy ra hơn là thuế quan sẽ được áp dụng với mức đáng kể, gây ra tâm lý lo ngại và đẩy vàng lên mức cao mới trong tuần tới, có thể đạt 3.200 - 3.300 USD/ounce nếu mọi dự báo hiện tại trở thành hiện thực.

Không chỉ Bank of America nâng dự báo, Goldman Sachs hiện kỳ vọng giá vàng sẽ đạt 3.300 USD/ounce vào cuối năm nay. Ngân hàng Pháp Société Générale cũng dự báo vàng sẽ chạm mức này trong năm 2025. Thậm chí, các nhà phân tích của họ còn thấy khả năng vàng có thể tăng lên 4.000 USD/ounce nếu căng thẳng địa chính trị leo thang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17887 18462
CAD 17959 18234 18849
CHF 31793 32174 32816
CNY 0 3827 3920
EUR 29285 29505 30581
GBP 33887 34276 35218
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14546 15136
SGD 19758 20039 20616
THB 703 766 819
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80