Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh, thiết lập mức cao kỷ lục. Cuối tháng 3/2025, giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC tiến sát 102 triệu đồng/lượng, tăng khoảng 11 triệu đồng/lượng chỉ trong 1 tháng. Giới chuyên gia dự báo giá vàng còn có thể chạm mốc kỷ lục mới.
aa

Cơn sốt giá vàng chưa hạ nhiệt song nhiều rủi ro

Giá vàng miếng chiều 31/3 lên mốc 101,8 triệu đồng/lượng
Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Thế giới thử thách mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc

Chốt phiên giao dịch ngày 31/3, giá vàng trong nước tiếp đà tăng mạnh theo giá thế giới. Giá vàng nhẫn và vàng miếng SJC bán ra tiến sát mốc 102 triệu đồng/lượng, cao chưa từng có.

Vàng sát mốc 102 triệu đồng/lượng, quý tăng trưởng kỷ lục trong 39 năm

Chiều ngày 31/3, giá vàng miếng tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết ở mức 99,5 - 101,8 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), tăng 1,1 triệu đồng mỗi lượng ở cả chiều mua và bán so với mức chốt cuối tuần qua. Các doanh nghiệp kinh doanh vàng khác như: Công ty cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Tập đoàn Vàng bạc đá quý DOJI… đều niêm yết như mức trên - mức cao kỷ lục trong lịch sử.

Giá vàng nhẫn hôm nay tại các thương hiệu cũng tăng mạnh, đắt hơn từ 800 nghìn đồng đến hơn 1 triệu đồng mỗi lượng so với cuối tuần qua. Đa phần các doanh nghiệp niêm yết giá vàng nhẫn vượt mốc 101 triệu đồng/lượng, một số tiệm thì tiến sát mốc 102 triệu đồng/lượng ở chiều bán.

Đơn cử, Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng nhẫn trơn ở mức 99,6 - 101,9 triệu đồng/lượng (mua - bán). Bên cạnh đó, Công ty SJC nâng giá vàng nhẫn trơn loại 1 - 5 chỉ lên mức 99 - 101,2 triệu đồng/lượng (mua - bán), cao hơn phiên cuối tuần trước 200 nghìn/lượng. Bên cạnh đó, Tập đoàn Vàng bạc đá quý Doji cũng kéo giá mua - bán vàng nhẫn 9999 lên mức 99,2 - 101,7 triệu đồng/lượng.

Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới
Nguồn: TBTCVN tổng hợp.

Giá vàng tăng 11 triệu đồng/lượng trong 1 tháng

Tính riêng tháng 3/2025, giá vàng nhẫn do Công ty SJC niêm yết tăng mạnh 10,5 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 10,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra. So với đầu năm, mức tăng của vàng nhẫn lên tới 16,8 - 17,2 triệu đồng/lượng.

Vàng miếng SJC cũng không nằm ngoài xu hướng khi ghi nhận mức tăng 11 - 11,3 triệu đồng/lượng trong tháng 3, nhỉnh hơn vàng nhẫn. Tính từ đầu năm, giá vàng miếng đã tăng tổng cộng 17,3 - 17,6 triệu đồng/lượng, cho thấy đà tăng chưa có dấu hiệu chững lại.

Giá vàng trong nước tăng cao trong bối cảnh kim loại quý trên thị trường quốc tế thiết lập kỷ lục mới. Giá vàng giao ngay ngày 31/3 lần đầu tiên vượt mốc 3.100 USD/ounce, có thời điểm trong phiên tăng 44 USD/ounce, lên đỉnh cao thời đại 3.127,8 USD/ounce.

Giá vàng thế giới quy đổi tương đương 98,6 triệu đồng/lượng, thấp hơn 3,2 triệu đồng/lượng so với trong nước.

Dù giá vàng trong nước đã vượt ngưỡng 100 triệu đồng/lượng, dòng tiền đổ vào vàng vẫn mạnh. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, đây không phải thời điểm lý tưởng để tích sản, bởi tích sản nên thực hiện đều đặn hàng tháng. Hiện thị trường chủ yếu hấp dẫn nhà đầu cơ ngắn hạn, kỳ vọng lợi nhuận cao hơn các kênh khác, ít nhất là cao hơn lãi suất ngân hàng khoảng 6%/năm.

Nếu mua vàng ở mức 100 triệu đồng/lượng, để có lãi tối thiểu 6%, chưa kể chi phí chênh lệch mua bán, nhà đầu cơ cần đánh cược giá vàng tăng lên trên ít nhất 110 triệu đồng/lượng thì mới có lời. Do đó, cần cân nhắc cẩn trọng đầu tư mua vàng thời điểm này.

Nhu cầu trú ẩn cao, tiền sẽ còn đổ vào kênh vàng

Giá kim loại quý tăng cao do nhiều yếu tố đồng loạt hỗ trợ, bao gồm tác động từ chính sách thuế nhập khẩu sắp công bố của Tổng thống Mỹ Donald Trump, cộng với căng thẳng tại Trung Đông và Ukraine leo thang, thúc đẩy dòng tiền đổ vào vàng như một kênh trú ẩn an toàn. Nhờ đó, giá vàng vừa khép lại quý tăng trưởng mạnh nhất trong 39 năm qua.

Tin tức kinh tế vào tuần tới sẽ xoay quanh việc chính quyền Trump thực hiện các mức thuế thương mại toàn cầu vào ngày 2/4, cùng với báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 3/2025 được công bố vào cuối tuần - đây là dữ liệu được mong đợi nhất trên thị trường lao động Mỹ có ảnh hưởng đặc biệt đến đồng USD. Các nhà phân tích cảnh báo rằng, cả hai sự kiện này đều có thể thúc đẩy nhu cầu trú ẩn an toàn của vàng.

Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới
Giá vàng khép lại tháng 3 tăng sốc 11 triệu đồng/lượng, xác lập đỉnh cao mới. Ảnh tư liệu.

Chia sẻ gần đây, ông Abel Lim - Giám đốc Tư vấn và chiến lược quản lý tài sản, Ngân hàng UOB (Singapore) khuyến nghị các nhà đầu tư xây dựng danh mục đầu tư đa dạng bằng cách phân bổ vốn vào nhiều loại tài sản, khu vực, ngành nghề khác nhau và duy trì sự linh hoạt, chủ động để tận dụng các cơ hội đầu tư chiến thuật.

Vàng duy trì sức hút trú ẩn

"Vàng có thể đóng vai trò là tài sản đa dạng hóa và hàng rào phòng vệ trước nguy cơ tăng trưởng kinh tế chậm lại và những bất ổn trên thị trường. Nhìn chung, nhu cầu dài hạn đối với vàng như một tài sản trú ẩn an toàn được kỳ vọng sẽ tiếp tục mạnh mẽ, dự báo giá vàng có thể lên đến là 3.200 USD/ounce trong quý I/2026" - ông Abel Lim - đại diện Ngân hàng UOB Singapore nhận định.

Cuộc khảo sát hàng tuần mới nhất của Kitco News về giá vàng cho thấy, sự lạc quan mạnh mẽ từ các chuyên gia trong ngành về tiềm năng tăng giá của vàng, với 85% ý kiến chuyên gia dự đoán giá vàng sẽ tiếp tục tăng trong tuần tới, chỉ có 5% dự báo giá giảm và 10% đi ngang.

Ông Adrian Day - Chủ tịch Công ty Adrian Day Asset Management cho rằng, vàng đã vượt qua mốc 3.000 USD mà không gặp bất kỳ trở ngại nào. Các lý do để mua vàng vẫn còn nguyên vẹn, với tiềm năng mua vào mạnh mẽ từ các ngân hàng trung ương, người tiêu dùng Trung Quốc và nhà đầu tư Bắc Mỹ, nhóm vẫn chưa được khai thác nhiều.

Ông John Weyer - Giám đốc bộ phận Phòng hộ thương mại tại Walsh Trading cũng nhìn thấy tiềm năng tăng giá đáng kể của vàng khi các lo ngại về thuế quan và lạm phát khiến nhà đầu tư tìm đến tài sản trú ẩn.

Theo ông John Weyer, sau một số dữ liệu lạm phát, cùng với những lo ngại liên tục về thuế quan khiến vàng trở thành lựa chọn trú ẩn an toàn cho nhiều nhà đầu tư. Ông lưu ý rằng, ngay cả khi các biện pháp thuế quan được giảm nhẹ, thấp hơn dự đoán vào ngày 2/4 tới đây, vàng vẫn có lý do để giữ mức cao quanh mốc 3.000 USD. Tuy nhiên, kịch bản có khả năng xảy ra hơn là thuế quan sẽ được áp dụng với mức đáng kể, gây ra tâm lý lo ngại và đẩy vàng lên mức cao mới trong tuần tới, có thể đạt 3.200 - 3.300 USD/ounce nếu mọi dự báo hiện tại trở thành hiện thực.

Không chỉ Bank of America nâng dự báo, Goldman Sachs hiện kỳ vọng giá vàng sẽ đạt 3.300 USD/ounce vào cuối năm nay. Ngân hàng Pháp Société Générale cũng dự báo vàng sẽ chạm mức này trong năm 2025. Thậm chí, các nhà phân tích của họ còn thấy khả năng vàng có thể tăng lên 4.000 USD/ounce nếu căng thẳng địa chính trị leo thang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80