Thế giới thử thách mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau khi neo giữ 100 triệu đồng/lượng thời gian không lâu, giá vàng miếng rớt xuống mốc 97 triệu đồng/lượng và có thể giảm sâu hơn ngày 22/3 do giá vàng thế giới đang thử thách trước mốc 3.000 USD/ounce. Thay vì rồng rắn xếp hàng mua vàng như ngày trước đây, nhiều người lo sợ giá vàng giảm nên đến bán vàng tăng đột biến.
aa
Cơn sốt giá vàng chưa hạ nhiệt song nhiều rủi ro Giá vàng hôm nay (20/3): Thế giới tăng dựng đứng, trong nước vượt 100 triệu đồng/lượng Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Kết phiên giao dịch chiều ngày 21/3, giá vàng trong nước bất ngờ giảm mạnh, đưa giá vàng miếng xuống mốc 97 triệu đồng/lượng, trong đó, chiều mua giảm sâu hơn chiều bán. Như vậy, những người mua vàng miếng vào sáng 20/3, chỉ sau 1 ngày đã gánh lỗ trên 5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng rời xa mốc 100 triệu đồng/lượng

Cụ thể, tại Công ty TNHH MTV Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn SJC, giá vàng miếng được niêm yết ở mức 94,7 - 97,7 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm mạnh 3,1 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,1 triệu đồng/lượng ở chiều bán, chênh lệch mua bán được nới rộng lên 3 triệu đồng/lượng. Tương tự, Doji và PNJ cũng niêm yết giá mua vào - bán ra như trên.

Giá vàng nhẫn SJC cũng giảm, niêm yết ở mức 94,6 - 97,3 triệu đồng/lượng, giảm 3,1 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán so với đầu giờ sáng. Doji niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 95,9 - 98,5 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm mạnh ở cả hai chiều.

Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn tròn trơn ở mức 96 - 99 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 3 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 1,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán so với phiên sáng trước đó; chênh lệch mua bán là 3 triệu đồng/lượng.

giá vàng tụt dốc không
Thế giới thử thách trước mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc. Ảnh tư liệu.

Giá vàng thế giới thử thách trước mốc 3.000 USD/ounce

Sau giờ các tiệm vàng trong nước đóng cửa, trên thị trường quốc tế, có thời điểm mỗi ounce vàng giao ngay lao dốc 57 USD từ mức đỉnh, xuống còn 3.000,59 USD/ounce. Giá vàng thế giới quy đổi tương đương 94,5 triệu đồng/lượng, chỉ còn thấp hơn 3,2 triệu đồng/lượng so với trong nước.

Tính trong vòng 1 tuần (từ ngày 14-21/3), giá vàng SJC chỉ tăng 400 nghìn đồng/lượng - 1,9 triệu đồng/lượng hai chiều mua - bán. Còn nếu so với mức đỉnh được thiết lập ngày 20/3, giá vàng SJC rơi sâu 3,1 triệu đồng/lượng (chiều mua) và 2,1 triệu đồng/lượng (chiều bán).

Khác với cảnh xếp hàng mua vàng như ngày hôm qua, chiều 21/3, số lượng người đến bán vàng tăng đột biến. Thậm chí, một số cửa hàng gần hết tiền mặt, với những người bán trên 3 lượng vàng, cửa hàng hẹn tuần sau đến nhận tiền.

Các cửa hàng kinh doanh vàng không giới hạn số lượng mua như trước, cho phép khách mua thoải mái. Thay vì đặt niềm tin vàng tăng giá như những ngày vừa qua, nhiều người lại thận trọng chờ đợi nhịp cuối năm điều chỉnh giá, mới gom vàng tích luỹ thay vì mua tại thời điểm này.

Tâm lý "mua đỉnh, bán đáy" chi phối thị trường vàng

Chu kỳ nới lỏng tiền tệ toàn cầu trong bối cảnh thuế quan thương mại leo thang khiến các nhà đầu tư đổ xô vào vàng, lo sợ về suy thoái đình lạm. Kim loại quý này tiếp tục đạt mức cao kỷ lục mới trên 3.050 USD/ounce ngày 20/3, tăng hơn 15% từ đầu năm, sau các tuyên bố chính sách tiền tệ ôn hòa gần đây từ một số ngân hàng trung ương.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cho rằng, trong những ngày qua, tâm lý lo sợ sự mất giá của đồng tiền và sợ giá vàng tiếp tục tăng khiến nhiều người dù chỉ có vài chục triệu đồng, kể cả những người đầu cơ, đều đổ xô mua vàng, tạo nên cảnh xếp hàng dài mua vàng, tương tự như thời bao cấp mua tem phiếu.

"Tại Việt Nam, có hiện tượng lạ là khi giá vàng lên cao, người dân lại đổ xô đi mua, dẫn đến khả năng thua lỗ, ngược với nhiều nơi trên thế giới khi giá vàng tăng, người dân thường bán ra, kể cả chứng khoán" - ông Nhân bày tỏ.

giá vàng tụt dốc không
Tại Việt Nam, có hiện tượng lạ là khi giá vàng lên cao, người dân lại đổ xô đi mua, dẫn đến khả năng thua lỗ. Ảnh tư liệu.

Cũng theo PGS. TS. Trần Việt Dũng - Học viện Ngân hàng, tâm lý đầu cơ và tích trữ cũng góp phần đẩy giá vàng trong nước lên cao. Người Việt Nam có thói quen mua vàng để tích trữ, xem đây là tài sản lâu dài. Điều này tạo ra một thị trường vàng đặc thù, nơi nhu cầu không chỉ đến từ các yếu tố kinh tế mà còn từ tâm lý và văn hóa.

Đặc biệt, khi giá vàng tăng, nhu cầu tích trữ càng mạnh, làm cho giá vàng càng tăng cao hơn. Khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và thế giới cũng là yếu tố quan trọng. Giá vàng trong nước cao hơn đáng kể so với giá vàng thế giới, khiến nhiều người kỳ vọng giá vàng nội địa sẽ còn tăng, thúc đẩy thêm tâm lý đầu cơ và tích trữ.

"Điều này dẫn đến vòng luẩn quẩn giá vàng cao kéo theo nhu cầu mua vàng tăng, làm cung càng hạn chế và giá tiếp tục leo thang" - ông Dũng chỉ rõ.

Theo TS. Lê Bá Chí Nhân, giá vàng khó giảm sâu do nguồn cung vàng hàng năm có hạn và các quốc gia, kể cả Mỹ, mua vàng để dự trữ quốc gia nhằm duy trì quyền lực và vị thế kinh tế. Cùng với đó, các biến động địa chính trị chưa kết thúc, như xung đột Israel - Hamas, Nga - Ukraine, cùng hàng loạt biến động chính trị khác, khiến người dân lo sợ đồng tiền mất giá và coi vàng là nơi trú ẩn an toàn.

"Để đầu tư có lợi nhuận, người dân cần am hiểu về thị trường, không chỉ thị trường, kinh tế trong nước, mà còn cần tìm hiểu về kinh tế thế giới, biến động địa chính trị, các kênh đầu tư và xu hướng thị trường. Bởi nếu chỉ nắm được thông tin kinh tế trong nước, nhà đầu tư có thể gặp bất lợi" - ông Nhân lưu ý.

Ba kịch bản dự báo, giá vàng có thể lao dốc

PGS. TS. Trần Việt Dũng và nhóm nghiên cứu vĩ mô Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) đưa ra ba kịch bản dự báo giá vàng năm 2025.

Kịch bản cơ sở, trong kịch bản kinh tế toàn cầu dần ổn định, tình hình căng thẳng địa chính trị không xảy ra biến động lớn, các ngân hàng trung ương lớn giữ chính sách tiền tệ thận trọng, giá vàng quốc tế dự kiến tăng trong biên độ hẹp.

Theo đó, giá vàng trong nước cũng duy trì xu hướng tăng nhẹ trong năm 2025 do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới và nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, các chính sách kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sẽ giúp hạn chế tình trạng đầu cơ và ổn định thị trường.

Kịch bản tăng mạnh xảy ra khi một số yếu tố thúc đẩy thị trường vàng có thể bao gồm: giá vàng thế giới tăng đột biến lên mức 3.200 - 3.300 USD/ounce do bất ổn địa chính trị hoặc chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức từ các ngân hàng trung ương; đồng USD suy yếu mạnh; lạm phát tại Việt Nam tăng cao hơn dự kiến, thúc đẩy nhu cầu tích lũy vàng của dân cư; các kênh đầu tư khác như chứng khoán và bất động sản trở nên kém hấp dẫn, dòng tiền đổ mạnh vào vàng.

Kịch bản giảm khi giá vàng thế giới giảm xuống mức 2.500 - 2.600 USD/ounce do các nền kinh tế lớn phục hồi nhanh chóng, các ngân hàng trung ương ưu tiên chính sách tiền tệ thắt chặt; hoặc đồng USD tăng giá mạnh, kéo theo tỷ giá USD/VND tăng, làm giảm nhu cầu vàng quốc tế và nội địa.

Cùng với đó, lãi suất trong nước tăng mạnh hơn dự kiến, do đó kéo dòng tiền trở lại kênh tiết kiệm ngân hàng và giảm nhu cầu đầu tư vàng.

Khi đó, giá vàng trong nước có thể giảm xuống mức 72 - 80 triệu đồng/lượng và có khả năng giảm thấp hơn trong trường hợp nhu cầu tích trữ và đầu tư trong nước giảm mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 21/6: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt tăng giá trở lại

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đảo chiều đi lên ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn, đưa mặt bằng giá phổ biến trở lại vùng 143,7 - 147,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 20/6: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm xuống còn 4.156 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm cao nhất lên tới 5,1 triệu đồng/lượng.
Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

(TBTCO) - Tập đoàn Goldman Sachs đã cắt giảm dự báo giá vàng cuối năm thêm 500 USD/ounce do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không còn được kỳ vọng sẽ giảm lãi suất trong năm 2026.
Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng tiếp tục duy trì phổ biến ở mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn giảm tại nhiều thương hiệu, có nơi lùi về vùng 145,8 - 149,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

Giá vàng hôm nay ngày 18/6: Giá vàng quay đầu giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn, đưa giá vàng miếng về mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn cũng ghi nhận xu hướng đi xuống trên diện rộng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17617 17890 18465
CAD 17962 18237 18851
CHF 31794 32175 32812
CNY 0 3829 3921
EUR 29265 29486 30560
GBP 33899 34288 35218
HKD 0 3227 3429
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14539 15120
SGD 19755 20037 20613
THB 704 767 820
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26149 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80