Thế giới thử thách mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau khi neo giữ 100 triệu đồng/lượng thời gian không lâu, giá vàng miếng rớt xuống mốc 97 triệu đồng/lượng và có thể giảm sâu hơn ngày 22/3 do giá vàng thế giới đang thử thách trước mốc 3.000 USD/ounce. Thay vì rồng rắn xếp hàng mua vàng như ngày trước đây, nhiều người lo sợ giá vàng giảm nên đến bán vàng tăng đột biến.
aa
Cơn sốt giá vàng chưa hạ nhiệt song nhiều rủi ro Giá vàng hôm nay (20/3): Thế giới tăng dựng đứng, trong nước vượt 100 triệu đồng/lượng Một năm đầy sóng gió với thị trường vàng

Kết phiên giao dịch chiều ngày 21/3, giá vàng trong nước bất ngờ giảm mạnh, đưa giá vàng miếng xuống mốc 97 triệu đồng/lượng, trong đó, chiều mua giảm sâu hơn chiều bán. Như vậy, những người mua vàng miếng vào sáng 20/3, chỉ sau 1 ngày đã gánh lỗ trên 5 triệu đồng/lượng.

Giá vàng rời xa mốc 100 triệu đồng/lượng

Cụ thể, tại Công ty TNHH MTV Vàng Bạc Đá Quý Sài Gòn SJC, giá vàng miếng được niêm yết ở mức 94,7 - 97,7 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm mạnh 3,1 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,1 triệu đồng/lượng ở chiều bán, chênh lệch mua bán được nới rộng lên 3 triệu đồng/lượng. Tương tự, Doji và PNJ cũng niêm yết giá mua vào - bán ra như trên.

Giá vàng nhẫn SJC cũng giảm, niêm yết ở mức 94,6 - 97,3 triệu đồng/lượng, giảm 3,1 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 2,4 triệu đồng/lượng ở chiều bán so với đầu giờ sáng. Doji niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 95,9 - 98,5 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm mạnh ở cả hai chiều.

Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn tròn trơn ở mức 96 - 99 triệu đồng/lượng (mua - bán), giảm 3 triệu đồng/lượng ở chiều mua và 1,8 triệu đồng/lượng ở chiều bán so với phiên sáng trước đó; chênh lệch mua bán là 3 triệu đồng/lượng.

giá vàng tụt dốc không
Thế giới thử thách trước mốc 3.000 USD/ounce, cẩn trọng kịch bản giá vàng có thể lao dốc. Ảnh tư liệu.

Giá vàng thế giới thử thách trước mốc 3.000 USD/ounce

Sau giờ các tiệm vàng trong nước đóng cửa, trên thị trường quốc tế, có thời điểm mỗi ounce vàng giao ngay lao dốc 57 USD từ mức đỉnh, xuống còn 3.000,59 USD/ounce. Giá vàng thế giới quy đổi tương đương 94,5 triệu đồng/lượng, chỉ còn thấp hơn 3,2 triệu đồng/lượng so với trong nước.

Tính trong vòng 1 tuần (từ ngày 14-21/3), giá vàng SJC chỉ tăng 400 nghìn đồng/lượng - 1,9 triệu đồng/lượng hai chiều mua - bán. Còn nếu so với mức đỉnh được thiết lập ngày 20/3, giá vàng SJC rơi sâu 3,1 triệu đồng/lượng (chiều mua) và 2,1 triệu đồng/lượng (chiều bán).

Khác với cảnh xếp hàng mua vàng như ngày hôm qua, chiều 21/3, số lượng người đến bán vàng tăng đột biến. Thậm chí, một số cửa hàng gần hết tiền mặt, với những người bán trên 3 lượng vàng, cửa hàng hẹn tuần sau đến nhận tiền.

Các cửa hàng kinh doanh vàng không giới hạn số lượng mua như trước, cho phép khách mua thoải mái. Thay vì đặt niềm tin vàng tăng giá như những ngày vừa qua, nhiều người lại thận trọng chờ đợi nhịp cuối năm điều chỉnh giá, mới gom vàng tích luỹ thay vì mua tại thời điểm này.

Tâm lý "mua đỉnh, bán đáy" chi phối thị trường vàng

Chu kỳ nới lỏng tiền tệ toàn cầu trong bối cảnh thuế quan thương mại leo thang khiến các nhà đầu tư đổ xô vào vàng, lo sợ về suy thoái đình lạm. Kim loại quý này tiếp tục đạt mức cao kỷ lục mới trên 3.050 USD/ounce ngày 20/3, tăng hơn 15% từ đầu năm, sau các tuyên bố chính sách tiền tệ ôn hòa gần đây từ một số ngân hàng trung ương.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cho rằng, trong những ngày qua, tâm lý lo sợ sự mất giá của đồng tiền và sợ giá vàng tiếp tục tăng khiến nhiều người dù chỉ có vài chục triệu đồng, kể cả những người đầu cơ, đều đổ xô mua vàng, tạo nên cảnh xếp hàng dài mua vàng, tương tự như thời bao cấp mua tem phiếu.

"Tại Việt Nam, có hiện tượng lạ là khi giá vàng lên cao, người dân lại đổ xô đi mua, dẫn đến khả năng thua lỗ, ngược với nhiều nơi trên thế giới khi giá vàng tăng, người dân thường bán ra, kể cả chứng khoán" - ông Nhân bày tỏ.

giá vàng tụt dốc không
Tại Việt Nam, có hiện tượng lạ là khi giá vàng lên cao, người dân lại đổ xô đi mua, dẫn đến khả năng thua lỗ. Ảnh tư liệu.

Cũng theo PGS. TS. Trần Việt Dũng - Học viện Ngân hàng, tâm lý đầu cơ và tích trữ cũng góp phần đẩy giá vàng trong nước lên cao. Người Việt Nam có thói quen mua vàng để tích trữ, xem đây là tài sản lâu dài. Điều này tạo ra một thị trường vàng đặc thù, nơi nhu cầu không chỉ đến từ các yếu tố kinh tế mà còn từ tâm lý và văn hóa.

Đặc biệt, khi giá vàng tăng, nhu cầu tích trữ càng mạnh, làm cho giá vàng càng tăng cao hơn. Khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và thế giới cũng là yếu tố quan trọng. Giá vàng trong nước cao hơn đáng kể so với giá vàng thế giới, khiến nhiều người kỳ vọng giá vàng nội địa sẽ còn tăng, thúc đẩy thêm tâm lý đầu cơ và tích trữ.

"Điều này dẫn đến vòng luẩn quẩn giá vàng cao kéo theo nhu cầu mua vàng tăng, làm cung càng hạn chế và giá tiếp tục leo thang" - ông Dũng chỉ rõ.

Theo TS. Lê Bá Chí Nhân, giá vàng khó giảm sâu do nguồn cung vàng hàng năm có hạn và các quốc gia, kể cả Mỹ, mua vàng để dự trữ quốc gia nhằm duy trì quyền lực và vị thế kinh tế. Cùng với đó, các biến động địa chính trị chưa kết thúc, như xung đột Israel - Hamas, Nga - Ukraine, cùng hàng loạt biến động chính trị khác, khiến người dân lo sợ đồng tiền mất giá và coi vàng là nơi trú ẩn an toàn.

"Để đầu tư có lợi nhuận, người dân cần am hiểu về thị trường, không chỉ thị trường, kinh tế trong nước, mà còn cần tìm hiểu về kinh tế thế giới, biến động địa chính trị, các kênh đầu tư và xu hướng thị trường. Bởi nếu chỉ nắm được thông tin kinh tế trong nước, nhà đầu tư có thể gặp bất lợi" - ông Nhân lưu ý.

Ba kịch bản dự báo, giá vàng có thể lao dốc

PGS. TS. Trần Việt Dũng và nhóm nghiên cứu vĩ mô Viện Nghiên cứu khoa học Ngân hàng (Học viện Ngân hàng) đưa ra ba kịch bản dự báo giá vàng năm 2025.

Kịch bản cơ sở, trong kịch bản kinh tế toàn cầu dần ổn định, tình hình căng thẳng địa chính trị không xảy ra biến động lớn, các ngân hàng trung ương lớn giữ chính sách tiền tệ thận trọng, giá vàng quốc tế dự kiến tăng trong biên độ hẹp.

Theo đó, giá vàng trong nước cũng duy trì xu hướng tăng nhẹ trong năm 2025 do ảnh hưởng từ giá vàng thế giới và nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, các chính sách kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước sẽ giúp hạn chế tình trạng đầu cơ và ổn định thị trường.

Kịch bản tăng mạnh xảy ra khi một số yếu tố thúc đẩy thị trường vàng có thể bao gồm: giá vàng thế giới tăng đột biến lên mức 3.200 - 3.300 USD/ounce do bất ổn địa chính trị hoặc chính sách tiền tệ nới lỏng quá mức từ các ngân hàng trung ương; đồng USD suy yếu mạnh; lạm phát tại Việt Nam tăng cao hơn dự kiến, thúc đẩy nhu cầu tích lũy vàng của dân cư; các kênh đầu tư khác như chứng khoán và bất động sản trở nên kém hấp dẫn, dòng tiền đổ mạnh vào vàng.

Kịch bản giảm khi giá vàng thế giới giảm xuống mức 2.500 - 2.600 USD/ounce do các nền kinh tế lớn phục hồi nhanh chóng, các ngân hàng trung ương ưu tiên chính sách tiền tệ thắt chặt; hoặc đồng USD tăng giá mạnh, kéo theo tỷ giá USD/VND tăng, làm giảm nhu cầu vàng quốc tế và nội địa.

Cùng với đó, lãi suất trong nước tăng mạnh hơn dự kiến, do đó kéo dòng tiền trở lại kênh tiết kiệm ngân hàng và giảm nhu cầu đầu tư vàng.

Khi đó, giá vàng trong nước có thể giảm xuống mức 72 - 80 triệu đồng/lượng và có khả năng giảm thấp hơn trong trường hợp nhu cầu tích trữ và đầu tư trong nước giảm mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/5: Giá vàng giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 5/5 đồng loạt giảm mạnh, lùi về vùng 162 - 165 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục suy yếu, khiến chênh lệch giữa hai thị trường vẫn duy trì trên 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/5: Giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng đến 600.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng nhẫn và vàng miếng sáng ngày 4/5 tăng từ 500.000 - 600.000 đồng/lượng, đưa mặt bằng giá giao dịch lên ngưỡng 163 - 166,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 3/5: Giá vàng trong nước đi ngang quanh vùng 163 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 3/5, giá vàng trong nước duy trì ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, phổ biến quanh ngưỡng 163 - 166 triệu đồng/lượng ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

Các ngân hàng trung ương tăng mua vàng dự trữ, vì sao?

(TBTCO) - Trong quý đầu tiên của năm 2026, nhiều ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ vàng với tốc độ nhanh nhất so với cùng kỳ, do giá vàng giảm mạnh đã khuyến khích làn sóng mua vào, bù đắp hoàn toàn cho lượng bán ra của một số ít tổ chức.
Giá vàng hôm nay ngày 2/5: Giá vàng thế giới tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/5: Giá vàng thế giới tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giảm về quanh ngưỡng 4.613 USD/ounce, kéo giãn chênh lệch với giá vàng trong nước lên gần 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/5: Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang quanh vùng 162,5 - 166 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, vàng miếng duy trì quanh 163 - 166 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giao dịch chủ yếu từ 162,5 - 166 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80