Sức ép gia tăng, lãi suất “khéo co thì ấm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt xa huy động vốn, đưa tỷ lệ LDR lên tới 98%, trong khi mùa cao điểm cuối năm đang đến gần khiến thanh khoản hệ thống chịu áp lực đáng kể. Nhiều ý kiến nhận định, lãi suất có thể nhích tăng cục bộ, nhưng "khéo co thì ấm", mặt bằng lãi suất nhiều khả năng vẫn duy trì ổn định đến cuối năm.
aa

Sức ép thanh khoản và lãi suất dồn vào cuối năm

Chia sẻ tại buổi công bố kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2025, theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch Techcombank, tăng trưởng tín dụng toàn ngành hơn 13%, trong khi huy động vốn tăng 9,7%, tạo áp lực thanh khoản và tác động lên lãi suất huy động.

Cũng theo bà Thủy, lãi suất cho vay hiện chững lại, song cạnh tranh vẫn khốc liệt bởi ngân hàng nào cũng muốn giành thị phần cho vay và xây dựng nền tảng khách hàng cho những năm tiếp theo. Vì vậy, trong ngắn hạn, khó sự cải thiện vượt trội của NIM (biên lãi ròng).

Cùng chung quan điểm, ông Vũ Minh Trường - Giám đốc Khối Nguồn vốn và thị trường tài chính VPBank nhận định, tình trạng tín dụng tăng nhanh hơn huy động kéo dài đang tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản và mặt bằng lãi suất thời gian tới.

Sức ép gia tăng, lãi suất “khéo co thì ấm”
Nguồn: Techcombank. Đồ họa: Tư liệu

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cao hơn đáng kể huy động vốn khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) trên thị trường 1 lên tới khoảng 98%. Đây là mức tương đối cao và là nguyên nhân khiến áp lực tăng lãi suất VND trở nên rõ rệt.

Tuy nhiên, theo kịch bản cơ sở của VPBank, dù áp lực lãi suất còn hiện hữu trong ngắn hạn, đặc biệt cuối năm 2025, song dự kiến sẽ hạ nhiệt dần trong những tháng đầu năm 2026 khi thanh khoản hệ thống được cải thiện.

Cũng theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất đối mặt nhiều sức ép thời gian tới do lãi suất cho vay đã có xu hướng giảm sâu thời gian qua.

NIM ngân hàng chưa hết áp lực

Với huy động, chúng ta vẫn còn khá nhiều khó khăn. Từ quý IV/2025, bắt đầu thấy lãi suất huy động tăng trở lại, trong khi bức tranh về lãi suất cho vay chưa có câu trả lời rõ ràng. Do đó, NIM ngành ngân hàng sẽ tiếp tục thu hẹp và vẫn còn khó khăn.

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch Techcombank

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của toàn hệ thống tổ chức tín dụng đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ đã giảm mạnh trong năm 2023 - 2024, tương ứng mức giảm lần lượt 1,1%/năm và 1,24%/năm hai năm 2023 và năm 2024. Các tổ chức tín dụng đã công bố thông tin lãi suất cho vay trên website nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay.

"Tính đến ngày 30/9/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,54%/năm, giảm 0,4%/năm so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Cùng với đó, mặt bằng lãi suất thế giới có xu hướng giảm, tuy nhiên, lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn ở mức cao và thị trường tài chính toàn cầu khó đoán định dưới tác động từ chính sách thuế quan của Mỹ.

"Nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng dự kiến gia tăng, trong khi đó, huy động vốn toàn hệ thống tổ chức tín dụng có thể bị ảnh hưởng và cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác sẽ tạo áp lực đối với mặt bằng lãi suất" - Ngân hàng Nhà nước nhận định.

"Sóng" lãi suất nổi lên ở kỳ hạn ngắn

Khảo sát của phóng viên tại hơn 30 ngân hàng thương mại cho thấy, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9/2025, mặt bằng lãi suất huy động gần như không "gợn sóng", ngoại trừ GPBank có điều chỉnh nhỏ khi tăng 0,1% ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, nhưng giảm 0,1% tại các kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng.

Tuy nhiên, từ cuối tháng 9 đến nay, xu hướng nhích tăng lãi suất huy động quay trở lại tại nhiều ngân hàng, với mức tăng phổ biến từ 0,1 - 0,3 %/năm, tập trung ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng. Các ngân hàng ghi nhận điều chỉnh tăng gồm" VPBank, NCB, GPBank, BacABank..., trong đó BacABank nổi bật khi tăng lãi suất 2 lần liên tiếp ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, trong khi số ngân hàng giảm lãi suất xuất hiện thưa thớt và mức giảm không đáng kể.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, VPBank tăng mạnh 0,3% lên 3,9%/năm, BacABank tăng tổng cộng 0,4% lên 4,2%/năm sau hai lần điều chỉnh; GPBank và NCB cùng nâng 0,1%, lần lượt đạt 3,55%/năm và 3,8%/năm.

Tại kỳ hạn 3 tháng, GPBank tăng 0,1% lên 3,65%/năm, VPBank tăng 0,3% lên 3,9%/năm, còn BacABank tiếp tục nâng tổng cộng 0,4% lên 4,55%/năm sau hai lần tăng liên tiếp.

Đáng chú ý, kỳ hạn 6 tháng ghi nhận "sóng" tăng lãi suất sôi động nhất. Trong đó, VPBank dẫn đầu với mức tăng 0,3%, lên 4,5%/năm; VCBNeo tăng tương tự, đạt 5,6%/năm; NCB nâng 0,2% lên 5,15%/năm; Vikki Bank tăng 0,1% lên 5,33%/năm; BacABank tăng 0,15% lên 5,4%/năm. Ở chiều ngược lại, GPBank là một trong số ít ngân hàng điều chỉnh giảm, hạ 0,1% xuống 4,8%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VCBNeo tiếp tục tăng 0,3% lên 5,6%/năm, NCB tăng 0,1% lên 5,4%/năm, Vikki Bank nhích lên 5,62%/năm, trong khi GPBank giảm 0,1% còn 5,1%/năm.

Đối với kỳ hạn 24 tháng, NCB tăng nhẹ 0,1% lên 5,4%/năm, VCBNeo nâng thêm 0,25% đạt 5,7%/năm, còn GPBank tiếp tục giảm 0,1%, còn 5,1%/năm.

Tổng thể, xu hướng tăng nhẹ lãi suất huy động chủ yếu diễn ra ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ, phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, khiến mặt bằng lãi suất có xu hướng nhích lên.

Lãi suất khó giảm, nhưng nhiều khả năng ổn định đến cuối năm

Trao đổi với phóng viên, theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, các yếu tố vĩ mô bên ngoài đang tác động tích cực đến Việt Nam, đặc biệt là xu hướng giảm lãi suất của Fed và sự phục hồi của các nền kinh tế lớn. Những yếu tố này tạo dư địa thuận lợi cho việc điều hành chính sách tiền tệ trong nước.

Ở trong nước, mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất tiếp tục được ưu tiên. Khi đầu vào ổn định, lãi suất đầu ra cũng có cơ sở để duy trì bền vững. Tỷ giá cũng ở trạng thái thuận lợi, cùng chính sách điều hành linh hoạt và kịp thời của Ngân hàng Nhà nước, đang góp phần hỗ trợ ổn định lãi suất trên thị trường.

"Một vài ngân hàng có thể tăng lãi suất chỉ cục bộ và không chi phối toàn bộ thị trường. Chỉ khi các ngân hàng có tính chi phối lớn tăng lãi suất và trong khoảng thời gian dài mới tạo sự đáng ngại" - ông Linh nhận định.

Hiện cũng chưa có tín hiệu nào cho thấy Ngân hàng Nhà nước cần can thiệp mạnh về chính sách tiền tệ và các yếu tố vĩ mô chưa có thêm biến động tiêu cực. Do đó, TS. Châu Đình Linh dự báo từ nay đến cuối năm 2025, với nhiều yếu tố vĩ mô thuận lợi như môi trường quốc tế ổn định hơn, chính sách tiền tệ trong nước được điều hành linh hoạt, cùng với kinh nghiệm tích lũy từ đầu năm, tăng trưởng kinh tế duy trì tích cực và lạm phát vẫn được kiểm soát thì nhiều khả năng giữ được ổn định mặt bằng lãi suất, phù hợp với định hướng điều hành chung.

“Khéo co thì ấm”, song khả năng giảm thêm lãi suất gần thời gian tới là khó khả thi. Vị chuyên gia này cho rằng, lãi suất ngân hàng vẫn phải cạnh tranh gay gắt với nhiều kênh đầu tư khác. Người gửi tiền có xu hướng chuyển dịch sang các lĩnh vực có tỷ suất sinh lời cao hơn, khiến hoạt động huy động vốn của ngân hàng trở nên ngày càng thách thức.

Về phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước cho biết, sẽ tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, tỉnh hình kinh tế trong và ngoài nước để điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp đồng bộ, hài hoà, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Tiền gửi co xuống dưới 60%, ngân hàng bù đắp bằng nhiều nguồn vốn "nhạy" với lãi suất

Theo ghi nhận của TCBS Research, tiền gửi khách hàng co xuống 59,8% tổng nguồn vốn, tăng 5,5%, thấp hơn mức 9% của tín dụng. Phần thiếu hụt được bù bằng vốn liên ngân hàng và giấy tờ có giá, nhạy hơn với lãi suất ngắn hạn. Trong đó, giấy tờ có giá là nguồn vốn đắt nhất, khiến chi phí vốn toàn ngành sẽ còn neo ở mức cao.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 17:30
Ngân hàng