Sức ép gia tăng, lãi suất “khéo co thì ấm”

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tăng trưởng tín dụng toàn ngành vượt xa huy động vốn, đưa tỷ lệ LDR lên tới 98%, trong khi mùa cao điểm cuối năm đang đến gần khiến thanh khoản hệ thống chịu áp lực đáng kể. Nhiều ý kiến nhận định, lãi suất có thể nhích tăng cục bộ, nhưng "khéo co thì ấm", mặt bằng lãi suất nhiều khả năng vẫn duy trì ổn định đến cuối năm.
aa

Sức ép thanh khoản và lãi suất dồn vào cuối năm

Chia sẻ tại buổi công bố kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2025, theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch Techcombank, tăng trưởng tín dụng toàn ngành hơn 13%, trong khi huy động vốn tăng 9,7%, tạo áp lực thanh khoản và tác động lên lãi suất huy động.

Cũng theo bà Thủy, lãi suất cho vay hiện chững lại, song cạnh tranh vẫn khốc liệt bởi ngân hàng nào cũng muốn giành thị phần cho vay và xây dựng nền tảng khách hàng cho những năm tiếp theo. Vì vậy, trong ngắn hạn, khó sự cải thiện vượt trội của NIM (biên lãi ròng).

Cùng chung quan điểm, ông Vũ Minh Trường - Giám đốc Khối Nguồn vốn và thị trường tài chính VPBank nhận định, tình trạng tín dụng tăng nhanh hơn huy động kéo dài đang tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản và mặt bằng lãi suất thời gian tới.

Sức ép gia tăng, lãi suất “khéo co thì ấm”
Nguồn: Techcombank. Đồ họa: Tư liệu

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống cao hơn đáng kể huy động vốn khiến tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) trên thị trường 1 lên tới khoảng 98%. Đây là mức tương đối cao và là nguyên nhân khiến áp lực tăng lãi suất VND trở nên rõ rệt.

Tuy nhiên, theo kịch bản cơ sở của VPBank, dù áp lực lãi suất còn hiện hữu trong ngắn hạn, đặc biệt cuối năm 2025, song dự kiến sẽ hạ nhiệt dần trong những tháng đầu năm 2026 khi thanh khoản hệ thống được cải thiện.

Cũng theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất đối mặt nhiều sức ép thời gian tới do lãi suất cho vay đã có xu hướng giảm sâu thời gian qua.

NIM ngân hàng chưa hết áp lực

Với huy động, chúng ta vẫn còn khá nhiều khó khăn. Từ quý IV/2025, bắt đầu thấy lãi suất huy động tăng trở lại, trong khi bức tranh về lãi suất cho vay chưa có câu trả lời rõ ràng. Do đó, NIM ngành ngân hàng sẽ tiếp tục thu hẹp và vẫn còn khó khăn.

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp - Khối Tài chính kế hoạch Techcombank

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mặt bằng lãi suất cho vay bình quân của toàn hệ thống tổ chức tín dụng đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ đã giảm mạnh trong năm 2023 - 2024, tương ứng mức giảm lần lượt 1,1%/năm và 1,24%/năm hai năm 2023 và năm 2024. Các tổ chức tín dụng đã công bố thông tin lãi suất cho vay trên website nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay.

"Tính đến ngày 30/9/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức 6,54%/năm, giảm 0,4%/năm so với cuối năm 2024" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Cùng với đó, mặt bằng lãi suất thế giới có xu hướng giảm, tuy nhiên, lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn ở mức cao và thị trường tài chính toàn cầu khó đoán định dưới tác động từ chính sách thuế quan của Mỹ.

"Nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng dự kiến gia tăng, trong khi đó, huy động vốn toàn hệ thống tổ chức tín dụng có thể bị ảnh hưởng và cạnh tranh từ các kênh đầu tư khác sẽ tạo áp lực đối với mặt bằng lãi suất" - Ngân hàng Nhà nước nhận định.

"Sóng" lãi suất nổi lên ở kỳ hạn ngắn

Khảo sát của phóng viên tại hơn 30 ngân hàng thương mại cho thấy, từ đầu tháng 8 đến giữa tháng 9/2025, mặt bằng lãi suất huy động gần như không "gợn sóng", ngoại trừ GPBank có điều chỉnh nhỏ khi tăng 0,1% ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, nhưng giảm 0,1% tại các kỳ hạn 6 tháng, 12 tháng và 24 tháng.

Tuy nhiên, từ cuối tháng 9 đến nay, xu hướng nhích tăng lãi suất huy động quay trở lại tại nhiều ngân hàng, với mức tăng phổ biến từ 0,1 - 0,3 %/năm, tập trung ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng. Các ngân hàng ghi nhận điều chỉnh tăng gồm" VPBank, NCB, GPBank, BacABank..., trong đó BacABank nổi bật khi tăng lãi suất 2 lần liên tiếp ở kỳ hạn 1 - 3 tháng, trong khi số ngân hàng giảm lãi suất xuất hiện thưa thớt và mức giảm không đáng kể.

Đơn cử, ở kỳ hạn 1 tháng, VPBank tăng mạnh 0,3% lên 3,9%/năm, BacABank tăng tổng cộng 0,4% lên 4,2%/năm sau hai lần điều chỉnh; GPBank và NCB cùng nâng 0,1%, lần lượt đạt 3,55%/năm và 3,8%/năm.

Tại kỳ hạn 3 tháng, GPBank tăng 0,1% lên 3,65%/năm, VPBank tăng 0,3% lên 3,9%/năm, còn BacABank tiếp tục nâng tổng cộng 0,4% lên 4,55%/năm sau hai lần tăng liên tiếp.

Đáng chú ý, kỳ hạn 6 tháng ghi nhận "sóng" tăng lãi suất sôi động nhất. Trong đó, VPBank dẫn đầu với mức tăng 0,3%, lên 4,5%/năm; VCBNeo tăng tương tự, đạt 5,6%/năm; NCB nâng 0,2% lên 5,15%/năm; Vikki Bank tăng 0,1% lên 5,33%/năm; BacABank tăng 0,15% lên 5,4%/năm. Ở chiều ngược lại, GPBank là một trong số ít ngân hàng điều chỉnh giảm, hạ 0,1% xuống 4,8%/năm.

Tại kỳ hạn 12 tháng, VCBNeo tiếp tục tăng 0,3% lên 5,6%/năm, NCB tăng 0,1% lên 5,4%/năm, Vikki Bank nhích lên 5,62%/năm, trong khi GPBank giảm 0,1% còn 5,1%/năm.

Đối với kỳ hạn 24 tháng, NCB tăng nhẹ 0,1% lên 5,4%/năm, VCBNeo nâng thêm 0,25% đạt 5,7%/năm, còn GPBank tiếp tục giảm 0,1%, còn 5,1%/năm.

Tổng thể, xu hướng tăng nhẹ lãi suất huy động chủ yếu diễn ra ở nhóm ngân hàng vừa và nhỏ, phản ánh áp lực cân đối nguồn vốn trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, khiến mặt bằng lãi suất có xu hướng nhích lên.

Lãi suất khó giảm, nhưng nhiều khả năng ổn định đến cuối năm

Trao đổi với phóng viên, theo TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh, các yếu tố vĩ mô bên ngoài đang tác động tích cực đến Việt Nam, đặc biệt là xu hướng giảm lãi suất của Fed và sự phục hồi của các nền kinh tế lớn. Những yếu tố này tạo dư địa thuận lợi cho việc điều hành chính sách tiền tệ trong nước.

Ở trong nước, mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất tiếp tục được ưu tiên. Khi đầu vào ổn định, lãi suất đầu ra cũng có cơ sở để duy trì bền vững. Tỷ giá cũng ở trạng thái thuận lợi, cùng chính sách điều hành linh hoạt và kịp thời của Ngân hàng Nhà nước, đang góp phần hỗ trợ ổn định lãi suất trên thị trường.

"Một vài ngân hàng có thể tăng lãi suất chỉ cục bộ và không chi phối toàn bộ thị trường. Chỉ khi các ngân hàng có tính chi phối lớn tăng lãi suất và trong khoảng thời gian dài mới tạo sự đáng ngại" - ông Linh nhận định.

Hiện cũng chưa có tín hiệu nào cho thấy Ngân hàng Nhà nước cần can thiệp mạnh về chính sách tiền tệ và các yếu tố vĩ mô chưa có thêm biến động tiêu cực. Do đó, TS. Châu Đình Linh dự báo từ nay đến cuối năm 2025, với nhiều yếu tố vĩ mô thuận lợi như môi trường quốc tế ổn định hơn, chính sách tiền tệ trong nước được điều hành linh hoạt, cùng với kinh nghiệm tích lũy từ đầu năm, tăng trưởng kinh tế duy trì tích cực và lạm phát vẫn được kiểm soát thì nhiều khả năng giữ được ổn định mặt bằng lãi suất, phù hợp với định hướng điều hành chung.

“Khéo co thì ấm”, song khả năng giảm thêm lãi suất gần thời gian tới là khó khả thi. Vị chuyên gia này cho rằng, lãi suất ngân hàng vẫn phải cạnh tranh gay gắt với nhiều kênh đầu tư khác. Người gửi tiền có xu hướng chuyển dịch sang các lĩnh vực có tỷ suất sinh lời cao hơn, khiến hoạt động huy động vốn của ngân hàng trở nên ngày càng thách thức.

Về phía cơ quan quản lý, Ngân hàng Nhà nước cho biết, sẽ tiếp tục bám sát diễn biến thị trường, tỉnh hình kinh tế trong và ngoài nước để điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, phối hợp đồng bộ, hài hoà, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80