Dự án luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi): Giữ "lá chắn" an toàn, không hướng đến tối đa hóa lợi nhuận

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội cho rằng, dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi) cần hoàn thiện cơ chế phí, hạn mức chi trả và quy định đầu tư. Đồng thời, cân nhắc giữa việc mở rộng danh mục đầu tư hay nâng cao năng lực hoạt động cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi, trong đó, nhấn mạnh nguyên tắc bảo toàn vốn, bảo đảm thanh khoản và an toàn.
aa

Tăng tính linh hoạt, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XV, ngày 23/10, Quốc hội nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi). Dự án Luật được Chính phủ trình Quốc hội với 8 Chương, 42 Điều, trong đó sửa đổi, bổ sung 26 điều, bổ sung mới 7 điều, bãi bỏ 4 điều và giữ nguyên 9 điều.

Nội dung cơ bản xoay quanh việc tăng cường vai trò, năng lực và tính linh hoạt cho bảo hiểm tiền gửi Việt Nam; củng cố "tấm lá chắn" để tổ chức bảo hiểm tiền gửi bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, đồng thời đảm bảo duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, an toàn xã hội.

Dự án luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi): Giữ
Quốc hội nghe Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi). Ảnh: QUOCHOI.VN

Trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi).

Về phí bảo hiểm tiền gửi tại Điều 19 dự án Luật, Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản tán thành quy định, song đề nghị việc quy định mức phí bảo hiểm tiền gửi phải được nghiên cứu kỹ lưỡng. Từ đó, vừa bảo đảm ổn định nguồn thu cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi, phù hợp với năng lực tài chính của tổ chức tham gia. Đồng thời, cần thường xuyên rà soát, có lộ trình tính phí bảo hiểm tiền gửi phân biệt dựa trên việc đánh giá và phân loại tổ chức tham gia, phương pháp tính phí bảo hiểm tiền gửi dựa trên mức độ rủi ro.

Chỉ đầu tư khi bảo đảm năng lực và dự phòng rủi ro vững chắc

"Đề nghị nhận diện và đánh giá đầy đủ những rủi ro có liên quan khi mở rộng hoạt động đầu tư, xây dựng phương án phòng ngừa, kiểm soát và quản lý rủi ro, phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn khi mở rộng hoạt động đầu tư, hình thành các cơ chế bảo toàn vốn, bảo đảm thanh khoản và an toàn cho hoạt động đầu tư. Việc đầu tư chỉ được thực hiện khi đã bảo đảm cân đối năng lực và khả năng dự phòng cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi" - Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi.

Về hạn mức trả tiền bảo hiểm tại Điều 22 dự án Luật, theo ông Phan Văn Mãi, việc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định hạn mức trả tiền bảo hiểm trong từng thời kỳ là phù hợp, song cần có quy định hướng dẫn cụ thể về các nguyên tắc điều chỉnh hạn mức trả tiền bảo hiểm phù hợp với thực tiễn, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền.

"Đối với việc chi trả vượt hạn mức, cần quy định cụ thể căn cứ xác định “trường hợp đặc biệt” chi trả vượt hạn mức, nghiên cứu quy trình phê duyệt minh bạch với sự tham gia của các cơ quan có liên quan như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính" - Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính nêu rõ.

Về hoạt động đầu tư tại Điều 29 dự án Luật, Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị làm rõ vai trò của Ngân hàng Nhà nước với tư cách cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong việc quyết định tiêu chí danh mục đầu tư, cơ cấu đầu tư cũng như kiểm soát, quản lý rủi ro liên quan đến hoạt động đầu tư; quy định trách nhiệm của các bên liên quan khi xử lý rủi ro.

Kiểm soát, quản lý rủi ro trong đầu tư

Liên quan đến hoạt động đầu tư của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, trình bày tờ trình dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng cho biết, hoạt động đầu tư kế thừa và bổ sung các hình thức đầu tư an toàn, gồm mua bán trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi hoặc gửi tiền tại các ngân hàng thương mại có vốn nhà nước hoặc có vốn doanh nghiệp nhà nước trên 50%. Dự thảo quy định tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải kiểm soát, quản lý rủi ro trong đầu tư; Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định phương thức và quy trình quản lý rủi ro.

Góp ý về vấn đề này, đại biểu Trần Quang Minh (đoàn Quảng Trị) cho rằng, xung quanh điểm mới này vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau. Bởi bản chất của quỹ bảo hiểm tiền gửi là một quỹ tài chính công, phi lợi nhuận, được hình thành chủ yếu từ phí đóng góp bắt buộc của các tổ chức tín dụng tham gia, nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng, với mục tiêu cốt lõi là chi trả bảo hiểm khi tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán hoặc phá sản.

Khác với các quỹ đầu tư thương mại, quỹ bảo hiểm tiền gửi không hướng đến tối đa hóa lợi nhuận, mà chỉ hoạt động trên nguyên tắc bảo toàn và tích lũy vốn để đảm bảo khả năng chi trả. Bản chất của quỹ còn thể hiện ở chỗ đối tượng thụ hưởng cuối cùng không phải tổ chức tín dụng đóng phí, mà là người gửi tiền cá nhân, nhóm yếu thế trong quan hệ ngân hàng.

Việc sửa đổi, quy định để tạo sự chủ động, linh hoạt cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi nhằm nâng cao năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi là điều cần thiết. "Tuy nhiên, việc mở rộng hình thức đầu tư ra ngoài các danh mục đầu tư cần có sự thận trọng cân nhắc bởi bản chất hoạt động của quỹ bảo hiểm tiền gửi không phải là tổ chức tài chính hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận" - đại biểu Minh nêu rõ.

Theo đó, giải pháp chính sách trong dự thảo luật nên tập trung vào nâng cao năng lực hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi gồm: xác lập quyền mua bán trái phiếu chính phủ một cách linh hoạt và chủ động cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi; nâng cao năng lực phân tích thị trường, quản lý danh mục đầu tư và kiểm soát rủi ro lãi suất.

Làm rõ quy định bảo mật trước rủi ro lừa đảo và hạn mức chi trả

Thảo luận tại tổ về dự án Luật Bảo hiểm tiền gửi (sửa đổi), đại biểu Quản Minh Cường (đoàn Cao Bằng) nêu thực tế, tình trạng lừa đảo trực tuyến, chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng, gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng. Dẫn chứng tại Cao Bằng, cơ quan công an vừa triệt xóa đường dây lừa đảo công nghệ cao xuyên quốc gia, với hàng nghìn nạn nhân trên cả nước.

Theo đại biểu, hầu hết nạn nhân là người hiểu biết và có tiền gửi lớn trong ngân hàng, nhiều người mất từ vài chục triệu đến hàng tỷ đồng. Điều này đặt ra vấn đề Luật có đề cập đến bảo mật và trách nhiệm không, hay đề cập trong luật khác. Bởi người dân khó hiểu hết các cơ chế bảo mật phức tạp, do đó, cần làm rõ trường hợp tự truy cập đường link, tải phần mềm độc hại thì tự chịu trách nhiệm; còn nếu bị dẫn dụ hoặc hệ thống ngân hàng bị xâm nhập, ngân hàng phải chịu trách nhiệm.

Còn đại biểu Nguyễn Văn Quảng (đoàn TP. Đà Nẵng) nêu hai vấn đề trọng tâm liên quan đến Điều 22 và Điều 23 của dự thảo Luật. Theo đó, về hạn mức trả tiền bảo hiểm tại Điều 22, trước đây Luật quy định Chính phủ quyết định hạn mức, nhưng dự thảo sửa đổi chuyển sang giao Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định hạn mức trong từng thời kỳ. Cách quy định này khiến khi luật có hiệu lực, người dân và tổ chức gửi tiền chưa biết được cụ thể hạn mức bảo hiểm là bao nhiêu.

Về số tiền bảo hiểm được trả tại Điều 23, dự thảo nêu rõ tiền bảo hiểm được trả bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi của tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một người tại một tổ chức, với mức tối đa bằng hạn mức quy định tại Điều 22, nhưng lại không quy định mức tối thiểu. Do đó, ban soạn thảo cần bổ sung quy định về mức tối thiểu hoặc tỷ lệ bảo hiểm nhất định, đảm bảo quyền lợi người gửi tiền.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

Sun Life chi trả 608 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025, tăng 26% so với 2024

(TBTCO) - Trong năm 2025, Sun Life Việt Nam cho biết tiếp tục chiếm thị phần lớn mảng bảo hiểm hưu trí tự nguyện, duy trì tài chính an toàn và chiến lược đầu tư dài hạn.
Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

Đại hội đồng cổ đông NCB: Vạch loạt kế hoạch lớn, sẵn sàng trở lại “đường đua” sau năm 2027

(TBTCO) - Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, NCB thông qua kế hoạch kinh doanh 2026, với mục tiêu dư nợ cho vay đạt 131.686 tỷ đồng, tăng 35%; đồng thời, thông qua phương án chào bán riêng lẻ 1 tỷ cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, nâng vốn điều lệ lên gần 29.280 tỷ đồng. Lãnh đạo NCB cũng nhấn mạnh, mục tiêu hoàn thành phương án cơ cấu lại cuối năm 2027, sớm đưa NCB trở lại "đường đua" bình thường.
Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

Chủ thẻ nhận ưu đãi lớn từ BAC A BANK – Cả năm thỏa thích Shopee

(TBTCO) - Hàng chục ngàn lượt khách hàng sẽ được hưởng lợi từ chương trình “Lướt Shopee, săn deal Thẻ” với ưu đãi giảm giá trực tiếp lên tới 100.000 VND khi mua sắm trên Shopee và thanh toán bằng Thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK
Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

Tỷ giá USD hôm nay (2/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, có ngân hàng tăng mạnh 100 đồng chiều mua USD

(TBTCO) - Sáng 2/4, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.107 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.851,65 - 26.362 VND/USD. Trước đó, Sacombank gây chú ý khi giá mua vào tăng mạnh 101 đồng, trong khi bán ra chỉ tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm 0,11% xuống 99,54 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ.
Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

Ban hành Thông tư về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đặt trọng tâm bảo toàn vốn

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 33/2026/TT-BTC quy định về chế độ tài chính của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/5/2026 và áp dụng từ năm tài chính 2026. Thông tư nhấn mạnh nguyên tắc việc sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đảm bảo bảo toàn vốn khi thực hiện hoạt động đầu tư và gia tăng nguồn vốn hoạt động.
Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

Ngân hàng dựng “lá chắn số”, chặn gần 4.000 tỷ đồng giao dịch đáng ngờ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển ngân hàng số và đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống. Tính đến ngày 23/3, hệ thống đã cảnh báo 3,5 triệu lượt khách hàng; trong đó hơn 1,1 triệu lượt đã dừng hoặc hủy giao dịch, với tổng giá trị khoảng 3,99 nghìn tỷ đồng, góp phần hạn chế rủi ro gian lận.
Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu giữ nợ xấu dưới 4,5%, "để dành" trên 30.000 tỷ đồng lợi nhuận

Sacombank đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 8.100 tỷ đồng, tăng 6%; kiểm soát nợ xấu dưới 4,5%; đồng thời, trình loạt đề xuất mang tính "bước ngoặt" như đổi tên, chuyển trụ sở và gia hạn Đề án tái cơ cấu. Ngân hàng chưa có kế hoạch chia cổ tức, tiếp tục tích lũy vốn, nâng lợi nhuận giữ lại lũy kế lên 30.125,2 tỷ đồng.
Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Kim TT/AVPL 17,010 ▼370K 17,360 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Nguyên Liệu 99.99 15,550 ▼370K 15,750 ▼370K
Nguyên Liệu 99.9 15,500 ▼370K 15,700 ▼370K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 ▼420K 16,850 ▼320K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 ▼420K 16,800 ▼320K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 ▼420K 16,780 ▼320K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Hà Nội - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Đà Nẵng - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Miền Tây - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Tây Nguyên - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
Đông Nam Bộ - PNJ 169,500 ▼4200K 173,000 ▼3700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▼370K 17,350 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▼350K 17,300 ▼350K
NL 99.90 15,520 ▼350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550 ▼350K
Trang sức 99.9 16,490 ▼350K 17,190 ▼350K
Trang sức 99.99 16,500 ▼350K 17,200 ▼350K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 170 ▼1567K 17,352 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 170 ▼1567K 17,353 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,698 ▼37K 1,733 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,698 ▼37K 1,734 ▼32K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,678 ▼37K 1,718 ▲1543K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 ▼3168K 170,099 ▼3168K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 ▼2400K 129,013 ▼2400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 ▼2176K 116,986 ▼2176K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 ▼1953K 104,958 ▼1953K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 ▼1866K 100,319 ▼1866K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 ▼1334K 71,798 ▼1334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 170 ▼1567K 1,735 ▼32K
Cập nhật: 02/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17571 17843 18419
CAD 18386 18663 19280
CHF 32267 32650 33298
CNY 0 3470 3830
EUR 29715 29987 31012
GBP 33958 34347 35273
HKD 0 3228 3430
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19916 20198 20726
THB 719 782 835
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,945 29,969 31,208
JPY 160.99 161.28 169.95
GBP 34,280 34,373 35,351
AUD 17,844 17,908 18,471
CAD 18,633 18,693 19,264
CHF 32,650 32,752 33,506
SGD 20,102 20,165 20,833
CNY - 3,760 3,880
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.07 16.76 18.12
THB 770.41 779.93 830.4
NZD 14,766 14,903 15,252
SEK - 2,734 2,813
DKK - 4,008 4,123
NOK - 2,665 2,742
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,113.41 - 6,860.69
TWD 745.48 - 897.54
SAR - 6,917.38 7,241.41
KWD - 83,795 88,608
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,943 30,063 31,240
GBP 34,385 34,523 35,524
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,583 32,714 33,636
JPY 161.88 162.53 169.85
AUD 17,861 17,933 18,518
SGD 20,165 20,246 20,824
THB 788 791 825
CAD 18,633 18,708 19,272
NZD 14,880 15,408
KRW 16.69 18.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26222 26222 26362
AUD 17748 17848 18779
CAD 18568 18668 19682
CHF 32523 32553 34140
CNY 3758.7 3783.7 3918.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29900 29930 31653
GBP 34258 34308 36069
HKD 0 3355 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20072 20202 20935
THB 0 748.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17000000 17000000 17350000
SBJ 16000000 16000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,362
USD20 26,168 26,218 26,362
USD1 26,168 26,218 26,362
AUD 17,807 17,907 19,016
EUR 30,073 30,073 31,484
CAD 18,526 18,626 19,935
SGD 20,160 20,310 20,875
JPY 162.13 163.63 168.21
GBP 34,211 34,561 35,428
XAU 16,878,000 0 17,282,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80