Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh ngành ngân hàng nửa đầu 2025 rõ nét khi đến ngày 31/7, tất cả 27 ngân hàng niêm yết đều công bố báo cáo tài chính. Tín dụng tăng tốc mạnh nhờ lãi suất hạ, nhiều nhà băng vượt xa trung bình toàn ngành, song hiệu quả sinh lời co hẹp và rủi ro phân bổ vốn, bài toán nắn dòng tín dụng đúng hướng vẫn là điểm đáng lưu ý.
aa
Bất động sản vẫn là “mạch" tín dụng chủ lực, song cần lưu ý kiểm soát rủi ro Đánh thức dòng tín dụng chuỗi giá trị từng bị bỏ ngỏ Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, nhờ triển khai quyết liệt và đồng bộ các giải pháp, đến cuối quý II/2025, dư nợ tín dụng toàn hệ thống ước đạt 17,2 triệu tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2024 và tăng mạnh 19,32% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng tín dụng cao nhất trong nhiều năm trở lại đây, phản ánh dòng vốn tín dụng đang được khơi thông mạnh mẽ.

Nhiều ngân hàng tăng dư nợ trên 10%, bỏ xa toàn ngành

Tín dụng tăng tốc mạnh mẽ được “tiếp sức” bởi mặt bằng lãi suất cho vay tiếp đà hạ nhiệt. Trong bối cảnh chi phí vốn trở nên dễ chịu hơn, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản giải ngân mới của các ngân hàng thương mại giảm xuống còn 6,29%/năm, thấp hơn 0,64% so với cuối năm 2024. Điều này tạo điều kiện thuận lợi để dòng vốn lan tỏa nhanh hơn vào nền kinh tế, thúc đẩy cầu tín dụng phục hồi mạnh mẽ.

Thống kê của phóng viên cho thấy, có tới 6/9 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính ghi nhận tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng vượt mặt bẳng chung toàn ngành như: KienlongBank (tăng 13,2% so với cuối năm 2024); LPBank (11,2%); PGBank (10,2%); Techcombank (12,4%); VIB (9,9%), VPBank (19,7%), đó còn chưa tính đến tổng mức đầu tư trái phiếu doanh nghiệp.

Theo thống kê của phóng viên về dư nợ cho vay khách hàng, tất cả các ngân hàng ghi nhận mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước, trong đó nổi bật nhất là VPBank với mức tăng 32,8% cùng kỳ và tăng 19,7% so với cuối năm 2024, đưa dư nợ lên hơn 829 nghìn tỷ đồng.

Theo sát là KienlongBank cũng tăng trưởng 13,2% so với cuối năm 2024 và 22% cùng kỳ, cho thấy nỗ lực đẩy vốn ra thị trường.

Những
Một số chỉ tiêu kinh doanh chính của các ngân hàng 6 tháng đầu năm 2025. Ảnh: T.L.

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chính sách nới lỏng có kiểm soát, phần nới lỏng có thể nhiều hơn phần kiểm soát so với các năm trước, sắp tới có thể là bỏ trần tín dụng. Một trong những thay đổi đáng chú ý sắp tới có thể là việc gỡ bỏ trần tín dụng và được kỳ vọng sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng cho các ngân hàng nhưng cũng đòi hỏi đi kèm với công cụ điều tiết hiệu quả để kiểm soát rủi ro.

Theo lĩnh vực, tăng trưởng nhóm lĩnh vực ưu tiên khởi sắc ở lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ và công nghệ cao, dù nhóm này chiếm tỷ trọng không đáng kể. Trong khi đó, động lực tăng trưởng tín dụng vẫn dựa nhiều vào vận tải, kinh doanh bất động sản và lĩnh vực khác. Chính phủ cũng nỗ lực nắn dòng tín dụng dựa vào các gói tín dụng ưu đãi khoảng 745 nghìn tỷ đồng.

Tránh để dòng vốn lệch hướng, hiệu quả sinh lời co hẹp

Ở một góc nhìn khác, bức tranh tăng trưởng tín dụng vẫn còn tiềm ẩn những gam màu xám với không ít rủi ro đáng lưu ý.

Theo nhóm nghiên cứu của VDSC, tín dụng/GDP toàn hệ thống cuối tháng 6/2025 đạt xấp xỉ 142%, cao hơn nhóm thu nhập trung bình - thấp (134%) và tương đương nhóm thu nhập trung bình - cao (143%). "Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước có thể phải kiểm soát chất lượng tăng tín dụng để tránh lặp lại bài học giai đoạn 2007 - 2010" - VDSC đánh giá.

Cũng theo ông Nguyễn Hoàng Linh - Giám đốc Nghiên cứu của Công ty Quản lý quỹ Vietcombank (VCBF), tín dụng bất động sản tăng gần gấp đôi mức tăng trưởng chung toàn hệ thống. Chỉ riêng lĩnh vực này đã đóng góp tới 40% vào mức tăng tín dụng chung.

Trong bối cảnh chưa có công cụ định hướng dòng chảy tín dụng một cách hiệu quả khiến các ngành sản xuất có thể tiếp tục gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng, trong khi dòng vốn lại dồn vào các kênh đầu cơ cũng gây nhiều quan ngại.

Những
Những mảng xám sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025. Ảnh: T.L.

Cùng với đó, hiện tăng trưởng tín dụng không đồng nghĩa với gia tăng thu nhập lãi thuần. Theo thống kê của phóng viên, nhiều nhà băng tăng trưởng bất ngờ về tín dụng, tuy nhiên, có tới 4/9 nhà băng suy giảm về lãi thuần so với cùng kỳ dù tăng trưởng tín dụng cao, cho thấy áp lực rõ rệt về chi phí huy động và khả năng tối ưu tài sản sinh lời, biên lãi ròng (NIM) có khả năng co hẹp. Việc lãi thuần từ hoạt động kinh doanh suy giảm đã kéo theo tổng thu nhập hoạt động của hai ngân hàng tụt dốc.

Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng tăng tốc đáng kể nhưng hiệu quả sinh lời không như mong đợi, nhiều nhà băng đẩy mạnh, đa dạng hóa nguồn thu ngoài lãi từ: hoạt động bancassurance, phí thanh toán, dịch vụ quản lý tài sản, cũng như thu nhập từ kinh doanh ngoại hối và đầu tư chứng khoán... giảm sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng truyền thống. Đơn cử, ACB, KienlongBank, LPBank và PGBank đều tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động.

VDSC cũng lưu ý, khi nhu cầu tín dụng vẫn chủ yếu tập trung vào bất động sản và thiếu sự đa dạng hóa, NIM của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ chỉ đi ngang so với nửa đầu năm và giảm nhẹ khoảng 10 - 20 điểm cơ bản so với cùng kỳ./.

Cuộc đua lợi nhuận nửa đầu năm, nhiều ngân hàng trỗi dậy

Xét trên những nhà băng công bố lợi nhuận chính thức, dẫn đầu về quy mô lợi nhuận vẫn là Techcombank với hơn 15.134 tỷ đồng, dù giảm nhẹ so với cùng kỳ. VPBank theo sát với 11.229 tỷ đồng, tăng mạnh 29,5%. ACB và LPBank lần lượt đạt 10.690 tỷ đồng và 6.163 tỷ đồng, duy trì mức tăng trưởng ổn định. Đặc biệt, nhóm ngân hàng quy mô vừa đang nổi lên mạnh mẽ. KienlongBank tăng ấn tượng tới 67%, đạt lợi nhuận trước thuế 921 tỷ đồng. PGBank và VietABank cũng có mức tăng lần lượt 34,6% và 26,8%.

Ở chiều ngược lại, BVBank là ngân hàng duy nhất ghi nhận lợi nhuận sụt giảm sâu tới 38,8%, chỉ còn 93,4 tỷ đồng. Đại diện BVBank cho biết, lợi nhuận giảm chủ yếu do chủ động hạ lãi suất cho vay hỗ trợ khách hàng, tăng trích lập dự phòng để củng cố vùng đệm an toàn và chi phí hoạt động tăng 17% nhằm đầu tư mở rộng mạng lưới, nâng cấp hạ tầng công nghệ phục vụ chiến lược số hóa./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80