Đánh thức dòng tín dụng chuỗi giá trị từng bị bỏ ngỏ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khoảng 15 năm trước, một đề xuất cho vay theo chuỗi giá trị từng bị bỏ ngỏ. Hiện hình thức cho vay theo dòng tiền, yếu tố cốt lõi của cho vay theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị được nhấn mạnh trở lại trong Nghị quyết 68-NQ/TW, như một giải pháp thúc đẩy và đa dạng hóa nguồn vốn cho khu vực kinh tế tư nhân. Dù một số ngân hàng đã triển khai, mô hình này vẫn cần thêm “mắt xích” để thành hình.
aa
Đánh thức dòng tín dụng chuỗi giá trị từng bị bỏ ngỏ
Cho vay theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị là một hình thức cho vay theo dòng tiền. Ảnh tư liệu

Trao đổi với báo chí, ông Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng đã chia sẻ về đề xuất từng ấp ủ suốt nhiều năm, đó là xây dựng một nghị định mới về cho vay theo chuỗi giá trị, với trọng tâm là chuỗi nông sản. Gần 15 năm trước, ông Hòe là người đã dồn nhiều công sức để hoàn thiện các chương nội dung của dự thảo nghị định này. Thế nhưng, điều khiến nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng trăn trở là đến nay, kiến nghị đó vẫn chưa đưa vào thực tiễn, dù nhu cầu và tính cấp thiết của cho vay theo chuỗi giá trị ngày càng rõ.

Tín dụng chuỗi giá trị được “gọi tên” trong Nghị quyết 68-NQ/TW

Tại hội thảo do một "ông lớn" Big 4 tổ chức ở Phú Quốc nhiều năm trước, trong vai trò Phó Viện trưởng phụ trách Viện Chiến lược Ngân hàng, ông Phạm Xuân Hòe trực tiếp trình bày đề xuất và kết luận chuyển dự thảo nghị định sang Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) để tiếp tục xử lý. Đến nay, ông Hòe vẫn khẳng định rằng, đề xuất này còn nguyên giá trị thực tiễn, Việt Nam vẫn chưa có mô hình tài chính chuỗi giá trị đúng nghĩa "value chain finance".

Ba trụ cột trong cho vay chuỗi giá trị

"Cho vay chuỗi giá trị có 3 trụ cột chính. Trụ cột 1 gồm doanh nghiệp chủ chuỗi, các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân trong toàn chuỗi sản xuất và cung ứng sản phẩm - đây cũng là trụ cột xương sống của toàn chuỗi trong 3 trụ cột của quá trình triển khai cho vay theo chuỗi giá trị. Trụ cột 2 là các định chế tài chính và sản phẩm dịch vụ tài chính cung ứng cho toàn chuỗi giá trị. Ở trụ cột này điểm cốt tử để duy trì được thành công và có thể cho vay tín chấp 100% đó là kiểm soát được dòng tiền, đương nhiên đi liền phải duy trì được kỷ luật thanh toán không dùng tiền mặt - các khoản cho vay, chuyển tiền phải nằm trong các ngân hàng. Ở trụ cột 3 gồm các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, tổ chức xã hội nghề nghiệp là người cung ứng dịch vụ công/dịch vụ hỗ trợ". Ông Phạm Xuân Hòe - nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Ngân hàng

Tầm quan trọng của việc xây dựng tín dụng gắn với chuỗi giá trị hiện đang tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân. Một trong những nhiệm vụ, giải pháp được nêu rõ trong Nghị quyết là đẩy mạnh và đa dạng hóa nguồn vốn cho khu vực kinh tế tư nhân, trong đó, yêu cầu các cơ quan, đơn vị rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng, nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt trong các lĩnh vực như tín dụng xuất khẩu và tín dụng theo chuỗi cung ứng.

Nghị quyết cũng khuyến khích các tổ chức tín dụng và tài chính cho vay trên cơ sở thẩm định phương thức sản xuất kinh doanh, phương án mở rộng thị trường đầu ra, dòng tiền và khả năng tham gia vào chuỗi giá trị thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.

Nhiều ngân hàng nhập cuộc, nhưng vốn chưa chảy mạnh

Một số ngân hàng lớn trong nước như VietinBank, BIDV, Agribank, hay các ngân hàng ngoại như UOB đang từng bước xây dựng hệ sinh thái tài chính số, tích hợp đa dạng dịch vụ trên một nền tảng ứng dụng duy nhất.

Trao đổi với phóng viên, đại diện Ngân hàng UOB cho biết, hiện giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng mới chỉ được áp dụng cho một số doanh nghiệp lớn, chưa triển khai đại trà đối với tất cả các doanh nghiệp. Đây là một giải pháp do phía Singapore phát triển và hiện mới được triển khai tại Việt Nam.

Theo mô hình của UOB, ngân hàng sẽ cấp tín dụng cho một doanh nghiệp lớn cùng với các nhà cung cấp và nhà phân phối có liên kết trực tiếp với doanh nghiệp đó. Chẳng hạn, nếu Coca-Cola là doanh nghiệp trung tâm, thì các nhà cung cấp nguyên liệu và nhà phân phối đáp ứng tiêu chuẩn của Coca-Cola sẽ được cấp vốn để phục vụ hoạt động kinh doanh trong chuỗi. Toàn bộ quy trình được số hóa và xử lý trực tuyến thông qua ứng dụng. Ngân hàng vẫn trong quá trình đánh giá hiệu quả và mức độ đáp ứng của thị trường trước khi mở rộng triển khai.

Thay vì cho nhiều nông dân vay trực tiếp, vốn gặp nhiều rào cản do thiếu tài sản đảm bảo và thu nhập bấp bênh, nhiều ngân hàng cho vay thẳng qua các mắt xích chính, đầu mối trong chuỗi giá trị như: đại lý vật tư, thương lái hay doanh nghiệp chế biến. Cách làm này không chỉ giúp kiểm soát rủi ro tín dụng tốt hơn, nhờ các đối tác này có năng lực tài chính và uy tín cao, mà còn tối ưu hóa quy trình thẩm định và thu hồi nợ thông qua các hợp đồng bao tiêu, dòng tiền minh bạch và thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là hướng đi hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực và phù hợp với thực tiễn sản xuất nông nghiệp hiện nay.

"Chẳng hạn, ngân hàng có thể cho vay trước thu hoạch, tức là cho vay người cung ứng các sản phẩm đầu vào cho người nông dân, còn người nông dân có thể thanh toán trực tiếp từ việc bán các sản phẩm mà không cần phải đi theo một quá trình cho vay truyền thống là cho người nông dân trực tiếp vay" - ông Phạm Xuân Hoè dẫn chứng.

Mặc dù có những đơn vị tiên phong, nhưng phần lớn các ngân hàng thương mại vẫn tỏ ra thận trọng do lo ngại các rủi ro tiềm ẩn liên quan đến tài trợ chuỗi giá trị. Theo một báo cáo của Viện Chiến lược Ngân hàng, dù có tới 87% ngân hàng thương mại triển khai cho vay theo chuỗi giá trị, nhưng dư nợ với lĩnh vực nông nghiệp vẫn ở mức rất khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 1,5% tổng dư nợ.

"Mắt xích" quyết định thành bại của tín dụng chuỗi giá trị

Theo ông Phạm Xuân Hòe, vai trò của doanh nghiệp cốt lõi lo đầu ra trong trụ cột 1 vô cùng quan trọng. Nếu không có doanh nghiệp này, coi như cách tiếp cận cho vay chuỗi giá trị thất bại, vì hàng hóa sản xuất ra không tiêu thụ được thì dòng tiền đầu tư các khâu trước cũng sẽ khó thu hồi, mọi nguồn lực như đổ sông, đổ biển.

Cùng với đó, các tổ chức tín dụng cần vào cuộc mạnh hơn, nghiên cứu thấu đáo để có nhiều sản phẩm dịch vụ ngân hàng phục vụ cho chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp, thực hiện cho vay theo dòng tiền, giảm tỷ lệ cho vay thế chấp tài sản… "Cái khó của Việt Nam hiện nay là liên kết ngang của ngân hàng lỏng lẻo, sợ mất thị phần và thường vẫn giải ngân bằng tiền mặt từ 100 triệu trở xuống. Khi dòng tiền chạy ra khỏi ngân hàng thì quản lý thu hồi nợ sẽ rất khó khăn nếu như ý thức trả nợ người vay không tốt" - ông Hòe nhận định.

Cùng chung quan điểm, theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu, cho vay theo chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị là một hình thức cho vay theo dòng tiền. Khi chuỗi hoạt động khép kín, mọi giao dịch thanh toán giữa các bên đều được thực hiện qua hệ thống ngân hàng, điều này cho phép ngân hàng kiểm soát chặt chẽ dòng tiền và xác định được nguồn trả nợ, từ đó có thể bỏ qua yêu cầu về tài sản thế chấp, một bước tiến lớn so với mô hình như ngân hàng "cầm đồ" truyền thống.

Mô hình này không phức tạp như nhiều người nghĩ, mà ngược lại khá đơn giản và khả thi nếu triển khai đúng cách. Từ kinh nghiệm thực tiễn, các doanh nghiệp Việt Nam nên xây dựng mô hình tài chính khép kín, tập trung quan hệ tín dụng vào một hoặc một vài ngân hàng, khi đó, ngân hàng có đủ cơ sở để cho vay tín chấp, dựa trên dòng tiền và giảm rủi ro tín dụng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80