Kỳ vọng "thay áo" đổi vận sau khi chuyển giao ngân hàng yếu kém

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo các chuyên gia, việc "thay áo" kỳ vọng đổi vận các ngân hàng yếu kém, sớm khắc phục lỗ lũy kế và trở thành những ngân hàng hoạt động an toàn, có lợi nhuận. Ở chiều ngược lại, tác động trực tiếp từ các ngân hàng mới được chuyển giao tới các ngân hàng lớn là không đáng kể, do quy mô tương đối nhỏ. Các ngân hàng nhận chuyển giao sẽ được hưởng ưu đãi từ Ngân hàng Nhà nước nhằm tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng, mở rộng quy mô tài sản.
aa

Tháng 1/2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) công bố việc chuyển giao GPBank cho VPBank và DongABank cho HDBank. Sự kiện này nối tiếp việc chuyển giao tương tự đã được công bố trước đó vào tháng 11/2024 về việc chuyển giao CBBank cho Vietcombank và Oceanbank cho MBBank.

Trông mong vực dậy ngân hàng yếu kém

Việc chuyển giao được thực hiện theo chương trình tái cơ cấu của NHNN nhằm bảo vệ các chủ nợ và phục hồi hoạt động của ngân hàng trở lại bình thường. Trước khi chuyển giao, bốn ngân hàng được NHNN kiểm soát đặc biệt sau nhiều năm tích lũy đáng kể nợ xấu và lỗ lũy kế.

Kỳ vọng vực dậy ngân hàng yếu kém hậu chuyển giao, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho biết, trên thực tế, các ngân hàng mẹ có thể tìm cách thay tên đổi họ, "thay máu" nhân sự ngân hàng con, hoặc bơm thêm tiền giúp những ngân hàng con trở thành những ngân hàng hoạt động an toàn, có lợi nhuận, đây là điều ai cũng mong muốn.

Đến nay, 3/4 ngân hàng yếu kém hoàn thành chuyển giao bắt buộc đã được đổi tên, thay áo mới và có chung định hướng phát triển thành ngân hàng số, duy nhất GPBank chưa đổi tên là. Riêng SCB vẫn nằm trong diện kiểm soát đặc biệt.

Tuy nhiên, theo vị chuyển giao này, các ngân hàng 0 đồng có 8-10 năm xử lý, tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém nhưng vẫn không vực dậy được, các ngân hàng này không thể tự đứng trên hai chân.

"Phép màu nào thay đổi được điều đó hay không, chỉ trong vòng 2 năm tới, chúng ta sẽ sớm thấy kết quả sau khi chuyển giao bắt buộc" - ông Hiếu dự báo.

Ngoài ra, nhiều ý kiến cho rằng NHNN cho phép ngân hàng nhận chuyển giao sáp nhập tất cả những tài sản, nợ của ngân hàng được chuyển giao vào các ngân hàng mẹ, trừ lỗ của ngân hàng, điều này đi ngược với nguyên tắc hạch toán kế toán và những khoản lỗ lớn không được tính vào bảng cân đối kế toán.

Cũng theo ông Hiếu, hiện có một số ngân hàng báo cáo lãi dự thu lớn trong ngắn hạn, khiến lợi nhuận chưa được phản ánh chính xác. Đây là một điểm rất nguy hiểm bởi trong tương lai, lãi dự thu đó không thu được lại trở thành chi phí và phải trừ đi khi hạch toán. Khi "tài sản ảo" quá lớn, chi phí loại trừ nhiều, ngân hàng có thể chịu lỗ nặng và gây âm vốn chủ sở hữu của ngân hàng.

chuyển giao ngân hàng yếu kém
Hưởng ưu đãi sau khi nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém, "thay áo" kỳ vọng đổi vận. Ảnh minh hoạ.

Trước khi được NHNN mua lại với giá 0 đồng, giai đoạn 2007- 2013, các chỉ số về tổng tài sản, dư nợ cho vay, huy động vốn của ngân hàng này liên tục tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, sau khi những sai phạm xảy ra, nợ xấu đầu năm 2014 của OceanBank là 14.923 tỷ đồng, chiếm 49,84% dư nợ toàn hệ thống, lỗ trên 10 nghìn tỷ đồng, âm vốn chủ sở hữu.

Năm vừa qua, ngân hàng OceanBank đã được chuyển giao bắt buộc về với ngân hàng MB và "thay áo" thành MBV để mang đến những giải pháp tài chính sáng tạo, linh hoạt cho khách hàng. Từ thời điểm nhận chuyển giao, MB đã cử đội ngũ nhân sự tinh nhuệ gần 80 người cũng như triển khai nhiều công nghệ nhằm kiện toàn bộ máy của MBV. MB kỳ vọng tăng trưởng tín dụng nhanh hơn 1,5-2 lần so với trung bình của ngành sau khi nhận được nhiều lợi ích hậu quá trình chuyển giao.

Với Dong A Bank, năm 2012 ngân hàng này có thị phần cho vay vào khoảng 1,6% toàn ngành, xếp thứ 9 trong hệ thống về mạng lưới giao dịch, mảng thẻ thanh toán cũng từng đạt vị trí trong nhóm dẫn dầu. Tuy nhiên, đến giai đoạn 2013-2014, ngân hàng này phải đối mặt với khủng hoảng tài chính nghiêm trọng khi các cán bộ ngân hàng có nhiều sai phạm trong việc xét duyệt hồ sơ tín dụng, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao.

Tính đến năm 2015, tổng dư nợ liên quan đến các sai phạm phê duyệt tín dụng lên đến hơn 20 nghìn tỷ đồng trong khi cho vay khách hàng gần 52 nghìn tỷ đồng. Dù đã thu hồi được hơn 17 nghìn tỷ đồng nợ xấu trong giai đoạn 2015-2019, tại thời điểm đó ngân hàng vẫn còn tồn đọng khoảng 24 nghìn tỷ đồng chưa xử lý. DongA Bank bị NHNN đưa vào diện kiểm soát đặc biệt kể từ giữa năm 2015. Sau 10 năm, DongABank được chuyển giao bắt buộc cho HDBank, nay là Vikki Bank đầu năm 2025.

Nhiều ưu đãi, tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng

Trong báo cáo đánh giá về triển vọng tăng trưởng sai khi nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém, Chứng khoán Rồng Việt kỳ vọng HDBank tiếp tục duy trì tăng trưởng về quy mô tín dụng nhờ cơ chế ưu đãi từ NHNN đối với ngân hàng thương mại nhận chuyển giao bắt buộc sẽ được hưởng những hỗ trợ từ NHNN. HDBank cũng có thể tận dụng hệ thống 200 chi nhánh và phòng giao dịch sẵn có để nâng cao nhận diện thương hiệu.

Sau khi nhận chuyển giao bắt buộc, NHNN cũng tạo điều kiện để tăng trưởng về tổng tài sản cũng như khả năng sinh lời thông qua việc linh hoạt sử dụng nguồn vốn cho vay và đầu tư.

Các ngân hàng lớn tham gia chương trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém của NHNN đã cung cấp nguồn lực quản lý và kỹ thuật cho các ngân hàng được chuyển giao nhằm hỗ trợ xây dựng chiến lược kinh doanh, chính sách và quy trình hoạt động.

Theo đánh giá từ Công ty Cổ phần Xếp hạng Tín nhiệm Đầu tư Việt Nam (VIS Rating), các ngân hàng lớn này sẽ nhận được một số lợi ích và miễn trừ từ NHNN, bao gồm tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng so với các ngân hàng cùng ngành, từ đó, tăng trưởng tài sản và lợi nhuận cao hơn. Đồng thời, hạ yêu cầu dự trữ bắt buộc 50%, nhờ đó, ngân hàng tăng trưởng lợi nhuận cao hơn nhờ có thêm nguồn lực để cho vay.

Hưởng ưu đãi sau khi nhận chuyển giao ngân hàng yếu kém, "thay áo" kỳ vọng đổi vận
Nguồn: VIS Rating.

Cùng với đó, các ngân hàng lớn được hỗ trợ thanh khoản thông qua việc vay tái cấp vốn từ NHNN với lãi suất thấp, cho phép phát hành trái phiếu dài hạn cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Nhờ đó, giảm gánh nặng tài chính và thanh khoản trong việc hỗ trợ các ngân hàng được chuyển giao.

Rủi ro tài sản có thể tăng

"Trong bối cảnh kinh tế và nhu cầu tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ, rủi ro tài sản có thể tăng tại các ngân hàng nhận chuyển giao do sử dụng hạn mức tăng trưởng tín dụng mới cao hơn để mở rộng cho vay tại một số ngành, từ đó làm tăng rủi ro cho vay tập trung và khả năng dễ bị tổn thương hơn trước các rủi ro sự kiện" - ông Nguyễn Đức Huy - VIS Rating đánh giá.

Ngoài ra, còn có các miễn trừ theo quy định khi không hợp nhất báo cáo tài chính với ngân hàng được chuyển giao và loại bỏ các khoản cho vay ngân hàng được chuyển giao khi tính toán các tỷ lệ an toàn. Tuy nhiên, theo VIS Rating, quy định này không phản ánh đầy đủ rủi ro tài sản.

Bà Phan Thị Vân Anh - Giám đốc Khối nghiên cứu, phụ trách mảng ngân hàng và công ty chứng khoán VIS Rating cho rằng, tác động trực tiếp từ các ngân hàng mới được chuyển giao tới các ngân hàng lớn là không đáng kể, do quy mô các ngân hàng được chuyển giao còn tương đối nhỏ so với các ngân hàng lớn và các ngân hàng lớn có đủ nguồn lực để hấp thụ và quản lý hoạt động của ngân hàng được chuyển giao.

Ngoài ra, một số ngân hàng lớn có kế hoạch bơm vốn mới vào các ngân hàng được chuyển giao sau khi lỗ lũy kế giảm hoặc được giải quyết toàn bộ. Bộ đệm vốn mạnh hơn sẽ giúp cải thiện khả năng thanh toán và sự phục hồi của các ngân hàng được chuyển giao trước những cú sốc trong tương lai, nâng cao niềm tin của thị trường vào khả năng hoạt động liên tục của các ngân hàng được tái cơ cấu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua kế hoạch rót thêm tối đa 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life, nâng vốn điều lệ lên 4.300 tỷ đồng, qua đó đưa doanh nghiệp vào nhóm bảo hiểm nhân thọ có vốn lớn trên thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Techcom Life đang tăng tốc mạnh ở mảng khai thác mới.
MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

(TBTCO) - Ngân hàng MB chốt ngày 10/7 là ngày đăng ký cuối cùng nhận cổ tức tiền mặt 10%, với tổng giá trị chi trả khoảng 8.055 tỷ đồng. Song song, ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn lớn, hướng tới vốn điều lệ hơn 102.687 tỷ đồng và bứt tốc nhiều chỉ tiêu năm nay.
Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

Ngân hàng Chính sách xã hội có tân Tổng Giám đốc từ ngày 1/7/2026

(TBTCO) - Bà Nguyễn Thị Hằng đã được trao Quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm giữ chức Ủy viên Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội. Tân Tổng Giám đốc cam kết kế thừa thành quả của các thế hệ lãnh đạo, đẩy mạnh chuyển đổi số, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách và mở rộng tiếp cận vốn cho người nghèo.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17599 17872 18451
CAD 17971 18246 18865
CHF 31978 32360 33009
CNY 0 3831 3924
EUR 29365 29585 30666
GBP 34244 34635 35573
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14623 15210
SGD 19779 20061 20631
THB 704 767 821
USD (1,2) 26023 0 0
USD (5,10,20) 26064 0 0
USD (50,100) 26093 26107 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26091 26091 26465
AUD 17803 17903 18825
CAD 18169 18269 19280
CHF 32253 32283 33865
CNY 3812 3837 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31309
GBP 34570 34620 36377
HKD 0 3355 0
JPY 159.64 160.14 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14751 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19942 20072 20794
THB 0 734.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,122 26,172 26,465
USD20 26,122 26,172 26,465
USD1 26,122 26,172 26,465
AUD 17,823 17,923 19,030
EUR 29,641 29,641 31,050
CAD 18,101 18,201 19,507
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 159.08 160.58 165.1
GBP 34,353 34,703 35,550
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80