Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau hơn 1 năm chuyển giao bắt buộc và tái cơ cấu, nhiều ngân hàng yếu kém đã “qua đáy” và báo lãi đồng loạt, với chất lượng tài sản cải thiện rõ rệt và nợ xấu giảm mạnh, cho thấy hiệu quả thực chất của các phương án xử lý. Ước tính GPBank lãi hơn 500 tỷ đồng; VCBNeo lãi 1.800 tỷ đồng; MBV và Vikki Bank cũng ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực.
aa
Tín hiệu mới sau 2 tháng chuyển giao bắt buộc "ngân hàng 0 đồng" Ngân hàng bị chuyển giao bắt buộc có thể mất toàn bộ vốn điều lệ nếu lỗ vượt ngưỡng Kỳ vọng "thay áo" đổi vận sau khi chuyển giao ngân hàng yếu kém

Các ngân hàng yếu kém đồng loạt “qua đáy”, bắt đầu có lãi

Thông tin VPBank công bố ngày 19/1 cho thấy, các công ty con trong hệ sinh thái, trong đó có GPBank đã ghi nhận kết quả khả quan chỉ sau một năm tái cơ cấu toàn diện với sự đồng hành của ngân hàng mẹ. Theo đó, GPBank báo lãi hơn 500 tỷ đồng, hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2025.

Trước đó, GPBank đã có lãi liên tục từ tháng 6/2025, đánh dấu bước ngoặt tích cực trong quá trình phục hồi. Trước thời điểm chuyển giao, GPBank ghi nhận mức lỗ bình quân mỗi năm khoảng 1.000 tỷ đồng.

"Trong hệ sinh thái của VPBank, GPBank đang được định hướng trở thành mảnh ghép ngân hàng số phục vụ phân khúc khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank cho biết.

Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc
Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc. Ảnh minh họa.

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2026, lãnh đạo Vietcombank cho biết, việc triển khai phương án nhận chuyển giao bắt buộc Ngân hàng Xây dựng - CBBank (nay là VCBNeo) được thực hiện quyết liệt, đồng bộ và bước đầu mang lại kết quả tích cực, vượt tiến độ đề ra.

Trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu ngân hàng được chuyển giao, Vietcombank đã triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ về tín dụng, thanh khoản, công nghệ và quản trị rủi ro, đồng thời điều chuyển đội ngũ nhân sự chất lượng cao trực tiếp tham gia điều hành.

Nhờ đó, đến hết năm 2025, VCBNeo ghi nhận lợi nhuận hơn 1.800 tỷ đồng, đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ sau nhiều năm khó khăn.

Đáng chú ý, theo lãnh đạo MB, chất lượng tài sản của MBV sau 1 năm tiếp nhận được cải thiện mạnh mẽ. Theo đó, nợ quá hạn giảm từ 30,9% xuống 3,73%, nợ xấu từ 29,3% xuống 3,1%. Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản MB (MBAMC) trực tiếp tham gia công tác quản lý, xử lý nợ xấu tại MBV. Ngân hàng MBV ghi nhận lợi nhuận trước thuế cả năm khoảng 100 tỷ đồng, dự kiến sẽ chấm dứt chuỗi lỗ kinh doanh từ năm 2025.

Tương tự, MB cũng triển khai tái cấu trúc toàn diện tại MBV ngay sau khi tiếp nhận. Tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, lãnh đạo MB cho biết, ngay sau khi tiếp nhận MBV, ngân hàng mẹ đã cử nhân sự tham gia Hội đồng thành viên, ban kiểm soát và ban điều hành.

Đồng thời, kiện toàn mô hình tổ chức và bộ máy nhân sự các cấp MBV theo hướng tinh, gọn, mạnh, với khoảng 200 nhân sự được điều chuyển từ MB.

Song song với đó, MBV triển khai thay đổi nhận diện thương hiệu mới từ tháng 12/2024, chuyển trụ sở về Hà Nội, thực hiện tái cơ cấu và tinh gọn hệ thống mạng lưới nhằm tối ưu hiệu quả hoạt động và nâng cao năng suất lao động. Ngân hàng cũng thực hiện bán nợ cho MBV theo kế hoạch hằng năm của Đề án, đồng thời hỗ trợ toàn diện về công nghệ thông tin và hạ tầng, qua đó giúp MBV cơ bản hoàn thiện 20 hệ thống công nghệ thông tin trọng yếu, tiên tiến, đáp ứng tiêu chuẩn cao về an toàn, bảo mật, đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục và phục vụ phát triển khách hàng.

Đáng chú ý, sau một năm tiếp nhận và tái cơ cấu, MBV đã ghi nhận những chuyển biến rõ nét cả về quy mô, chất lượng tài sản và hiệu quả hoạt động. Theo đó, tổng tài sản tăng mạnh từ khoảng 40 nghìn tỷ đồng lên 91,5 nghìn tỷ đồng vào tháng 9/2025, tương ứng mức tăng 129%. Dư nợ tín dụng gần gấp đôi, từ 33,6 nghìn tỷ đồng lên 65,3 nghìn tỷ đồng (tăng 94%). Trong khi đó, huy động vốn đạt 58,1 nghìn tỷ đồng, tăng 30%, tạo nền tảng thanh khoản ổn định cho tăng trưởng.

Trong báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2025 của HDBank, Vikki Bank ghi nhận bước chuyển biến tích cực khi bắt đầu có lãi sau 7 tháng chuyển đổi.

Như vậy, các ngân hàng được chuyển giao bắt buộc đã có những chuyển biến tích cực ngay năm đầu tiên chuyển giao. Quy mô tổng tài sản, huy động vốn và dư nợ tín dụng đều ghi nhận mức tăng trưởng cao; nợ xấu từng bước được xử lý; kết quả kinh doanh cải thiện rõ rệt, với một số ngân hàng đã có lãi.

Tái cơ cấu quyết liệt, giữ nhịp an toàn hệ thống

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các quyết định chuyển giao bắt buộc đối với 03 ngân hàng mua bắt buộc và DongA Bank, một dấu mốc quan trọng trong lộ trình xử lý, cơ cấu lại các ngân hàng.

Theo đó, ngày 17/10/2024, CBBank (nay là VCBNeo) được chuyển giao cho Vietcombank, còn OceanBank (MBV) được chuyển giao cho MB. Tiếp đó, ngày 17/1/2025, GPBank, nay là Ngân hàng thương mại TNHH MTV Kỷ Nguyên Thịnh Vượng được chuyển giao cho VPBank; DongA Bank (nay là Vikki Bank) được chuyển giao cho HDBank.

Cùng với tái cấu trúc hoạt động, các ngân hàng yếu kém được chuyển giao bắt buộc cũng đồng loạt thay tên, đổi diện mạo, định vị lại thương hiệu theo hướng ngân hàng số thế hệ mới.

"Sự ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được giữ vững, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Đối với phương án cơ cấu lại Ngân hàng SCB, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ tại Thông báo kết luận số 05-TB/ĐU ngày 21/10/2025, Ban Thường vụ Đảng ủy NHNN đã có Tờ trình 06-TTr/ĐUNHNN, Báo cáo số 27-BC/ĐUNHNN ngày 31/10/2025 báo cáo cấp có thẩm quyền về phương án cơ cấu lại SCB.

Ngoài ra, triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Đề án; chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng tài chính, hoạt động của tổ chức tín dụng.

Đồng thời, nhận định những khó khăn, thách thức, tồn tại, hạn chế cần xử lý, giải pháp cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng giai đoạn 2021 - 2025 và lộ trình thực hiện đảm bảo phù hợp với Đề án. Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết liệt, hiệu quả phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đã được phê duyệt./.

Xác định xử lý nợ xấu một cách thực chất, hiệu quả là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt gắn với công tác cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã sát sao, quyết liệt chỉ đạo toàn ngành ngân hàng triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý và kiểm soát nợ xấu.

Tính đến hết tháng 11/2025, hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 285,1 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thực hiện thông qua hình thức sử dụng dự phòng rủi ro chiếm tỷ trọng 49,83% và khách hàng trả nợ chiếm 33,88%. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng (không bao gồm 5 ngân hàng MBV, GPBank, VCBNeo, Vikki Bank, SCB) được kiểm soát ở mức 1,69%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,800 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80