Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc

(TBTCO) - Sau hơn 1 năm chuyển giao bắt buộc và tái cơ cấu, nhiều ngân hàng yếu kém đã “qua đáy” và báo lãi đồng loạt, với chất lượng tài sản cải thiện rõ rệt và nợ xấu giảm mạnh, cho thấy hiệu quả thực chất của các phương án xử lý. Ước tính GPBank lãi hơn 500 tỷ đồng; VCBNeo lãi 1.800 tỷ đồng; MBV và Vikki Bank cũng ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực.
aa
Tín hiệu mới sau 2 tháng chuyển giao bắt buộc "ngân hàng 0 đồng" Ngân hàng bị chuyển giao bắt buộc có thể mất toàn bộ vốn điều lệ nếu lỗ vượt ngưỡng Kỳ vọng "thay áo" đổi vận sau khi chuyển giao ngân hàng yếu kém

Các ngân hàng yếu kém đồng loạt “qua đáy”, bắt đầu có lãi

Thông tin VPBank công bố ngày 19/1 cho thấy, các công ty con trong hệ sinh thái, trong đó có GPBank đã ghi nhận kết quả khả quan chỉ sau một năm tái cơ cấu toàn diện với sự đồng hành của ngân hàng mẹ. Theo đó, GPBank báo lãi hơn 500 tỷ đồng, hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2025.

Trước đó, GPBank đã có lãi liên tục từ tháng 6/2025, đánh dấu bước ngoặt tích cực trong quá trình phục hồi. Trước thời điểm chuyển giao, GPBank ghi nhận mức lỗ bình quân mỗi năm khoảng 1.000 tỷ đồng.

"Trong hệ sinh thái của VPBank, GPBank đang được định hướng trở thành mảnh ghép ngân hàng số phục vụ phân khúc khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ" - đại diện VPBank cho biết.

Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc
Qua “vùng tối” sau hơn 1 năm chuyển giao, ngân hàng yếu kém báo lãi kèm nợ xấu lao dốc. Ảnh minh họa.

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2026, lãnh đạo Vietcombank cho biết, việc triển khai phương án nhận chuyển giao bắt buộc Ngân hàng Xây dựng - CBBank (nay là VCBNeo) được thực hiện quyết liệt, đồng bộ và bước đầu mang lại kết quả tích cực, vượt tiến độ đề ra.

Trong quá trình thực hiện đề án tái cơ cấu ngân hàng được chuyển giao, Vietcombank đã triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ về tín dụng, thanh khoản, công nghệ và quản trị rủi ro, đồng thời điều chuyển đội ngũ nhân sự chất lượng cao trực tiếp tham gia điều hành.

Nhờ đó, đến hết năm 2025, VCBNeo ghi nhận lợi nhuận hơn 1.800 tỷ đồng, đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ sau nhiều năm khó khăn.

Đáng chú ý, theo lãnh đạo MB, chất lượng tài sản của MBV sau 1 năm tiếp nhận được cải thiện mạnh mẽ. Theo đó, nợ quá hạn giảm từ 30,9% xuống 3,73%, nợ xấu từ 29,3% xuống 3,1%. Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản MB (MBAMC) trực tiếp tham gia công tác quản lý, xử lý nợ xấu tại MBV. Ngân hàng MBV ghi nhận lợi nhuận trước thuế cả năm khoảng 100 tỷ đồng, dự kiến sẽ chấm dứt chuỗi lỗ kinh doanh từ năm 2025.

Tương tự, MB cũng triển khai tái cấu trúc toàn diện tại MBV ngay sau khi tiếp nhận. Tại Hội nghị Triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 do Ngân hàng Nhà nước tổ chức, lãnh đạo MB cho biết, ngay sau khi tiếp nhận MBV, ngân hàng mẹ đã cử nhân sự tham gia Hội đồng thành viên, ban kiểm soát và ban điều hành.

Đồng thời, kiện toàn mô hình tổ chức và bộ máy nhân sự các cấp MBV theo hướng tinh, gọn, mạnh, với khoảng 200 nhân sự được điều chuyển từ MB.

Song song với đó, MBV triển khai thay đổi nhận diện thương hiệu mới từ tháng 12/2024, chuyển trụ sở về Hà Nội, thực hiện tái cơ cấu và tinh gọn hệ thống mạng lưới nhằm tối ưu hiệu quả hoạt động và nâng cao năng suất lao động. Ngân hàng cũng thực hiện bán nợ cho MBV theo kế hoạch hằng năm của Đề án, đồng thời hỗ trợ toàn diện về công nghệ thông tin và hạ tầng, qua đó giúp MBV cơ bản hoàn thiện 20 hệ thống công nghệ thông tin trọng yếu, tiên tiến, đáp ứng tiêu chuẩn cao về an toàn, bảo mật, đảm bảo hoạt động kinh doanh liên tục và phục vụ phát triển khách hàng.

Đáng chú ý, sau một năm tiếp nhận và tái cơ cấu, MBV đã ghi nhận những chuyển biến rõ nét cả về quy mô, chất lượng tài sản và hiệu quả hoạt động. Theo đó, tổng tài sản tăng mạnh từ khoảng 40 nghìn tỷ đồng lên 91,5 nghìn tỷ đồng vào tháng 9/2025, tương ứng mức tăng 129%. Dư nợ tín dụng gần gấp đôi, từ 33,6 nghìn tỷ đồng lên 65,3 nghìn tỷ đồng (tăng 94%). Trong khi đó, huy động vốn đạt 58,1 nghìn tỷ đồng, tăng 30%, tạo nền tảng thanh khoản ổn định cho tăng trưởng.

Trong báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng năm 2025 của HDBank, Vikki Bank ghi nhận bước chuyển biến tích cực khi bắt đầu có lãi sau 7 tháng chuyển đổi.

Như vậy, các ngân hàng được chuyển giao bắt buộc đã có những chuyển biến tích cực ngay năm đầu tiên chuyển giao. Quy mô tổng tài sản, huy động vốn và dư nợ tín dụng đều ghi nhận mức tăng trưởng cao; nợ xấu từng bước được xử lý; kết quả kinh doanh cải thiện rõ rệt, với một số ngân hàng đã có lãi.

Tái cơ cấu quyết liệt, giữ nhịp an toàn hệ thống

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành các quyết định chuyển giao bắt buộc đối với 03 ngân hàng mua bắt buộc và DongA Bank, một dấu mốc quan trọng trong lộ trình xử lý, cơ cấu lại các ngân hàng.

Theo đó, ngày 17/10/2024, CBBank (nay là VCBNeo) được chuyển giao cho Vietcombank, còn OceanBank (MBV) được chuyển giao cho MB. Tiếp đó, ngày 17/1/2025, GPBank, nay là Ngân hàng thương mại TNHH MTV Kỷ Nguyên Thịnh Vượng được chuyển giao cho VPBank; DongA Bank (nay là Vikki Bank) được chuyển giao cho HDBank.

Cùng với tái cấu trúc hoạt động, các ngân hàng yếu kém được chuyển giao bắt buộc cũng đồng loạt thay tên, đổi diện mạo, định vị lại thương hiệu theo hướng ngân hàng số thế hệ mới.

"Sự ổn định, an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng tiếp tục được giữ vững, quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền được bảo đảm" - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Đối với phương án cơ cấu lại Ngân hàng SCB, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ tại Thông báo kết luận số 05-TB/ĐU ngày 21/10/2025, Ban Thường vụ Đảng ủy NHNN đã có Tờ trình 06-TTr/ĐUNHNN, Báo cáo số 27-BC/ĐUNHNN ngày 31/10/2025 báo cáo cấp có thẩm quyền về phương án cơ cấu lại SCB.

Ngoài ra, triển khai Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai thực hiện Đề án; chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện rà soát, đánh giá toàn diện thực trạng tài chính, hoạt động của tổ chức tín dụng.

Đồng thời, nhận định những khó khăn, thách thức, tồn tại, hạn chế cần xử lý, giải pháp cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng giai đoạn 2021 - 2025 và lộ trình thực hiện đảm bảo phù hợp với Đề án. Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết liệt, hiệu quả phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đã được phê duyệt./.

Xác định xử lý nợ xấu một cách thực chất, hiệu quả là một trong các nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt gắn với công tác cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước đã sát sao, quyết liệt chỉ đạo toàn ngành ngân hàng triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý và kiểm soát nợ xấu.

Tính đến hết tháng 11/2025, hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 285,1 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tăng 3,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thực hiện thông qua hình thức sử dụng dự phòng rủi ro chiếm tỷ trọng 49,83% và khách hàng trả nợ chiếm 33,88%. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng (không bao gồm 5 ngân hàng MBV, GPBank, VCBNeo, Vikki Bank, SCB) được kiểm soát ở mức 1,69%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/10): DXY lập đỉnh hơn 18 tháng, Fed và ECB cân nhắc bước đi tiếp theo về lãi suất

(TBTCO) - Sáng 6/10, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.645 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY tăng 0,17% lên 102,1 điểm. Thị trường vẫn định giá hơn 80% khả năng Fed tăng lãi suất cuối năm, trong khi ECB có thể tăng thêm 25 điểm cơ bản vào tháng 12 nhưng đối mặt bài toán cân bằng lạm phát và tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 6/10: Vàng thế giới nhích tăng, trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.143 USD/ounce, còn trong nước, vàng miếng đi ngang và vàng nhẫn giảm tại một số thương hiệu.
Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

Ngân hàng cam kết rót nghìn tỷ, tạo môi trường thử nghiệm mở cho startup

(TBTCO) - Theo Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãnh đạo ngành ngân hàng cam kết sẵn sàng đầu tư 2.000 - 3.000 tỷ đồng mỗi năm cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Để khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo, các ngân hàng cũng tìm cách mở rộng cơ chế cấp vốn, tạo môi trường thử nghiệm mở, đồng hành cùng startup phát triển.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30