Tín hiệu mới sau 2 tháng chuyển giao bắt buộc "ngân hàng 0 đồng"

Ánh Tuyết
Thông tin từ lãnh đạo ngân hàng MB cho thấy, sau gần 2 tháng nhận chuyển giao bắt buộc Oceanbank ghi nhận sự tăng trưởng về huy động vốn, tín dụng cũng như không có gián đoạn giao dịch hoặc sự cố. Hiện Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương triển khai để hoàn thành chuyển giao bắt buộc hai ngân hàng còn lại ngay trong năm 2024.
aa

Tại hội nghị ngành ngân hàng mới đây, ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cho biết, năm 2024 MB triển khai phương án chuyển giao bắt buộc Ngân hàng TNHH MTV Oceanbank. Ngay sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) ký quyết định chuyển giao bắt buộc Oceanbank cho MB ngày 17/10, ngân hàng tích cực triển khai các biện pháp theo phương án chuyển giao bắt buộc được Chính phủ phê duyệt.

Tín hiệu tích cực hậu chuyển giao

Ông Lưu Trung Thái cho biết, MB đã hoàn thiện mô hình tổ chức mới và kiện toàn bộ máy nhân sự chủ chốt gồm hội đồng thành viên, ban kiểm soát, ban điều hành và trao các quyết định ngày 10/12. "MB đã cử gần 80 nhân sự có chất lượng cao, dày dặn kinh nghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt được MB lựa chọn bổ sung cho OceanBank, sắp xếp và đào tạo đội ngũ nhân sự Oceanbank về nghiệp vụ, kỹ năng đảm bảo thu nhập cho người lao động"- ông Thái thông tin.

"Đảm bảo quá trình hoạt động sau chuyển giao diễn ra suôn sẻ, tuyệt đối an toàn, không có gián đoạn giao dịch hoặc sự cố. Sau khi chuyển giao bắt buộc, Oceanbank tăng trưởng huy động vốn được 1.229 tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng thêm 555 tỷ đồng, dự kiến sẽ hoàn thành kế hoạch 2024 đăng ký với NHNN. MB và Oceanbank triển khai các khoản bán nợ quy mô 6.000 tỷ đồng" - ông Lưu Trung Thái cho biết.

Cũng theo Chủ tịch MB, ngân hàng đã báo cáo NHNN phê chuẩn đổi tên Oceanbank thành Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện đại (MBV) và đang chuẩn bị ra mắt thương hiệu mới vào đầu năm 2025.

Để hoàn thành nhiệm vụ tái cơ cấu theo phương án được phê duyệt, MB mong muốn tiếp tục được NHNN quan tâm chỉ đạo triển khai kịp thời các biện pháp hỗ trợ được phê duyệt theo phương án, trong đó đặc biệt quan trọng là vay 30 nghìn tỷ đồng.

Năm 2025, MB cũng mong muốn NHNN báo cáo Chính phủ thúc đẩy tiến độ các nội dung theo phương án chuyển giao bắt buộc, việc triển khai các quy định Luật Các tổ chức tín dụng 2024 đối với MB và MBV để hoàn thành tốt, xuất sắc phương án chuyển giao bắt buộc theo phê duyệt của Chính phủ.

Tín hiệu mới sau 2 tháng chuyển giao bắt buộc
Tín hiệu mới sau 2 tháng chuyển giao bắt buộc "ngân hàng 0 đồng". Ảnh TL

Sau chuyển giao bắt buộc, CB và OceanBank tiếp tục hoạt động dưới hình thức ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Vietcombank và MB sở hữu 100% vốn điều lệ; được thực hiện các hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại theo quy định.

Với Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng Việt Nam (CB), ngày 17/10, NHNN công bố quyết định chuyển giao bắt buộc CB do Nhà nước là chủ sở hữu 100% vốn cho Vietcombank theo phương án được Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu từng bước khôi phục hoạt động bình thường, khắc phục các yếu kém, đưa CB dần trở thành ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng hoạt động liên tục.

Vietcombank có thể nhận sáp nhập, duy trì CB như một ngân hàng con hoặc bán, chuyển nhượng CB cho nhà đầu tư mới trong và sau khi kết thúc phương án chuyển giao bắt buộc. Theo Vietcombank, CB là pháp nhân độc lập và không thực hiện hợp nhất báo cáo tài chính vào báo cáo tài chính hợp nhất của Vietcombank. Cùng với đó, Vietcombank thực hiện các quyền của chủ sở hữu đối với CB theo quy định và không góp vốn vào CB trong thời gian CB còn lỗ lũy kế. Vietcombank tham gia quản trị, điều hành và triển khai các biện pháp hỗ trợ như phương án chuyển giao bắt buộc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Kể từ khi chính thức chuyển giao, CB đã 2 lần tăng mạnh lãi suất huy động để hút vốn. Cụ thể, kỳ hạn 1 tháng tăng tổng cộng 0,35% lên 4,05%/năm; kỳ hạn 3 tháng từ 3,9%/năm lên 4,25%/năm; kỳ hạn 6 tháng lên 5,65%/năm gần đây.

Khẩn trương hoàn thành chuyển giao GPBank và DongA Bank năm 2024

Bên cạnh đó, Vietcombank (nhận chuyển giao CB) và MB (nhận chuyển giao OceanBank), hiện còn có hai ngân hàng khác cũng công bố chủ trương nhận chuyển giao hai ngân hàng 0 đồng và chuẩn bị nguồn lực để tiếp nhận.

Tại hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2025, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng nêu rõ, năm 2024, về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, NHNN đã đạt bước tiến quan trọng trong xử lý các ngân hàng yếu kém.

Trước đó, tại Nghị quyết số 233/NQ-CP phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11/2024, Chính phủ yêu cầu NHNN khẩn trương trình trước ngày 20/12/2024 phương án chuyển giao bắt buộc hai ngân hàng kiểm soát đặt biệt còn lại là: Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu (GPBank), Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Bank).

Đồng thời, sớm thực hiện theo thẩm quyền hoặc trình cấp thẩm quyền phương án xử lý đối với Ngân hàng TMCP Sài Gòn, không để chậm trễ hơn nữa.

Xử lý triệt để nợ xấu và ngân hàng yếu kém cũng là một trong 08 nhiệm vụ trong tâm được Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Đức Phớc nhấn mạnh trong hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng mới đây. Đó là tiếp tục triển khai quyết liệt Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025”, góp phần bảo đảm hệ thống các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng chuẩn mực về an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém.

Cùng với đó, theo dõi, giám sát tình hình nợ xấu, xử lý nợ xấu và có giải pháp kịp thời, hiệu quả kiểm soát nợ xấu, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng./.

Tín hiệu mới sau 2 tháng chuyển giao bắt buộc
Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng.

"Trong năm 2024, 02 trong số 04 ngân hàng 0 đồng đã được chuyển giao bắt buộc. Hai ngân hàng còn lại đang được trình cấp có thẩm quyền phê duyệt sớm phê duyệt trong năm 2024. Với tinh thần rất khẩn trương, hy vọng trong năm 2024, cả 04 ngân hàng đều được chuyển giao bắt buộc. Việc này đánh dấu một quá trình, rất khó, chưa từng có tiền lệ, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, cơ quan, ban, ngành" - Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18574 18851 19423
CAD 18687 18965 19582
CHF 33047 33433 34077
CNY 0 3842 3934
EUR 30229 30503 31529
GBP 34837 35230 36163
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15307 15894
SGD 20157 20441 20961
THB 729 793 846
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,152 26,152 26,382
USD(1-2-5) 25,106 - -
USD(10-20) 25,106 - -
EUR 30,432 30,456 31,726
JPY 162.8 163.09 171.92
GBP 35,102 35,197 36,195
AUD 18,800 18,868 19,469
CAD 18,919 18,980 19,566
CHF 33,394 33,498 34,292
SGD 20,337 20,400 21,083
CNY - 3,818 3,941
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 779.2 788.82 839.94
NZD 15,329 15,471 15,836
SEK - 2,786 2,868
DKK - 4,072 4,192
NOK - 2,832 2,916
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,287.75 - 7,059.3
TWD 756.84 - 911.57
SAR - 6,923.65 7,250.32
KWD - 83,954 88,810
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26382
AUD 18750 18850 19773
CAD 18874 18974 19987
CHF 33307 33337 34920
CNY 3819.9 3844.9 3980.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30418 30448 32173
GBP 35142 35192 36953
HKD 0 3355 0
JPY 163.37 163.87 174.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15422 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20323 20453 21181
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,382
USD20 26,175 26,225 26,382
USD1 23,870 26,225 26,382
AUD 18,797 18,897 20,014
EUR 30,566 30,566 31,986
CAD 18,822 18,922 20,234
SGD 20,398 20,548 21,485
JPY 163.87 165.37 169.97
GBP 35,029 35,379 36,270
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 796 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80