Tăng trưởng dựa vào tín dụng ngân hàng đang tiệm cận giới hạn an toàn

Thu Hương
(TBTCO) - Tốc độ tăng trưởng tín dụng cao kéo dài đang làm gia tăng đòn bẩy toàn hệ thống, trong khi các ràng buộc về an toàn vốn, cấu trúc kỳ hạn và phân bổ tín dụng ngày càng rõ nét, cho thấy dư địa tài trợ tăng trưởng bằng tín dụng ngân hàng đang thu hẹp.
aa

Đòn bẩy tín dụng ngày càng cao

Hệ thống ngân hàng hiện vẫn giữ vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Cấu trúc này khiến tăng trưởng kinh tế phụ thuộc lớn vào khả năng mở rộng tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào tín dụng đang tiến dần tới giới hạn an toàn.

Theo phân tích của FiinGroup, nếu duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khoảng 16% mỗi năm nhằm hỗ trợ mục tiêu GDP tăng 8 - 10%, tỷ lệ tín dụng trên GDP có thể vượt 180% vào cuối thập kỷ và tiệm cận hoặc vượt 200% sau năm 2030. “Đây là mức đòn bẩy cao so với ngưỡng an toàn của một nền kinh tế mới nổi, kéo theo rủi ro gia tăng đối với ổn định tài chính và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng” - bà Trần Thị Kiều Oanh - Trưởng nhóm Phân tích Ngân hàng, FiinGroup nhận định.

Tăng trưởng dựa vào tín dụng ngân hàng đang tiệm cận giới hạn an toàn

Trong bối cảnh hệ số an toàn vốn chịu áp lực, rủi ro tài sản tích tụ và yêu cầu kiểm soát lạm phát ngày càng lớn, việc tiếp tục dựa vào mở rộng tín dụng để đạt tăng trưởng cao không còn là lựa chọn bền vững. Điều này cho thấy tăng trưởng trong giai đoạn tới khó có thể tiếp tục được “tài trợ” chủ yếu bằng tín dụng ngân hàng, mà cần một sự dịch chuyển căn bản sang các kênh dẫn vốn khác.

Dù tín dụng tiếp tục tăng, khả năng cung ứng vốn trung - dài hạn của ngân hàng vẫn bị giới hạn bởi cấu trúc huy động, cho thấy hệ thống chỉ có thể hỗ trợ tăng trưởng trong ngắn hạn và khó đóng vai trò trụ cột vốn dài hạn, qua đó đặt ra yêu cầu đa dạng hóa các kênh huy động ngoài ngân hàng.

Giới hạn này không chỉ thể hiện ở quy mô tín dụng mà còn ở cấu trúc kỳ hạn. Theo chuyên gia từ FiinGroup, cơ cấu tín dụng hiện vẫn nghiêng mạnh về cho vay ngắn hạn, chiếm trên 55% tổng dư nợ, trong khi tỷ trọng cho vay trung và dài hạn hầu như không cải thiện trong giai đoạn 2022 đến nửa đầu năm 2025. Thực trạng này phản ánh sự lệch pha mang tính cấu trúc giữa nhu cầu vốn trung - dài hạn ngày càng lớn của khu vực sản xuất và đầu tư với khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng.

“Đây không phải là vấn đề mang tính chu kỳ, mà xuất phát từ đặc thù hoạt động của ngân hàng thương mại, vốn không phù hợp để gánh vai trò tài trợ dài hạn cho mục tiêu tăng trưởng cao và kéo dài” - bà Oanh đánh giá.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở phía nguồn vốn. Huy động của hệ thống ngân hàng vẫn phụ thuộc áp đảo vào tiền gửi ngắn hạn, chiếm xấp xỉ 90%, trong khi tiền gửi trung và dài hạn có tỷ trọng rất thấp và không cho thấy xu hướng cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn đã tiệm cận trần quy định, khiến dư địa mở rộng tín dụng dài hạn bị thu hẹp cả về thanh khoản lẫn an toàn hệ thống.

Lệch pha trong phân bổ tín dụng

Bên cạnh kỳ hạn, cơ cấu phân bổ tín dụng theo ngành cũng cho thấy những lệch pha đáng kể so với cơ cấu đóng góp vào GDP. Trong 9 tháng năm 2025, tín dụng tập trung cao vào bất động sản và thương mại - dịch vụ, trong khi các ngành sản xuất chủ lực lại nhận tỷ trọng vốn thấp hơn vai trò trong tăng trưởng.

Tăng trưởng dựa vào tín dụng ngân hàng đang tiệm cận giới hạn an toàn

Cụ thể, bất động sản chiếm khoảng 20% tổng dư nợ nhưng chỉ đóng góp khoảng 3% GDP, thương mại - dịch vụ chiếm 23% dư nợ so với khoảng 10% GDP. Ngược lại, công nghiệp chế biến - chế tạo đóng góp khoảng 24% GDP nhưng chỉ nhận khoảng 12% dư nợ tín dụng, trong khi nông nghiệp và vận tải cũng ở trạng thái tương tự.

Sự lệch pha này phản ánh xu hướng ưu tiên cho vay dựa trên tài sản bảo đảm và đặc thù rủi ro ngành, hơn là phân bổ vốn theo hiệu quả sử dụng và động lực tăng trưởng dài hạn. Trong bối cảnh dư địa vốn và hệ số an toàn vốn ngày càng bị ràng buộc, không chỉ quy mô mà cả cấu trúc tín dụng theo ngành cần được theo dõi chặt chẽ.

Khi CAR tiệm cận ngưỡng an toàn, các ngân hàng đẩy mạnh phát hành trái phiếu bổ sung vốn cấp 2, với quy mô tăng từ khoảng 193.000 tỷ đồng năm 2023 lên 426.000 tỷ đồng năm 2025, trong khi tăng vốn cổ phần cả năm chỉ đạt khoảng 21.500 tỷ đồng. Điều này cho thấy dư địa mở rộng tín dụng trung - dài hạn hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào vốn nợ, phản ánh giới hạn cấu trúc của hệ thống ngân hàng.

Diễn biến tín dụng giai đoạn 2023 đến 9 tháng năm 2025 cho thấy, tín dụng bất động sản tăng nhanh vượt trội so với tín dụng toàn nền kinh tế. Điều này hàm ý dòng vốn tiếp tục ưu tiên tài sản hơn là các hoạt động sản xuất - kinh doanh tạo giá trị gia tăng bền vững. Xu hướng này diễn ra trong bối cảnh dư địa tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngày càng thu hẹp, cho thấy điểm nghẽn không nằm ở tổng quy mô tín dụng, mà ở cấu trúc phân bổ theo ngành.

Việc tập trung tín dụng vào bất động sản làm gia tăng tài sản có rủi ro và rủi ro chu kỳ, đặc biệt khi thị trường phục hồi không đồng đều và thanh khoản vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng, qua đó tạo áp lực lên hệ số an toàn vốn và làm suy giảm khả năng cấp vốn trung - dài hạn cho các lĩnh vực còn lại.

Khi hệ thống tiến dần tới cơ chế phân bổ tín dụng theo tín hiệu thị trường và giảm dần vai trò của hạn mức hành chính, hệ số an toàn vốn trở thành công cụ kiểm soát tăng trưởng tín dụng cốt lõi. Tuy nhiên, dữ liệu cho thấy CAR của toàn hệ thống chỉ duy trì ở mức vừa trên ngưỡng tối thiểu, với sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm ngân hàng.

Trong bối cảnh tài sản có rủi ro tiếp tục gia tăng, dư địa mở rộng tín dụng không còn phụ thuộc vào việc nới hạn mức, mà phụ thuộc trực tiếp vào khả năng bổ sung vốn tự có, đặc biệt là vốn cấp 1. Áp lực tăng trưởng tín dụng cao sẽ nhanh chóng chuyển hóa thành áp lực lên CAR, nhất là đối với các ngân hàng có nền tảng vốn mỏng. Vì vậy, tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn tới về bản chất là bài toán năng lực vốn của từng ngân hàng, thay vì bài toán phân bổ chỉ tiêu./.

Thu Hương

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80