Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá vàng thế giới vượt mốc 5.000 USD/ounce, tăng gần 18% chưa đầy 1 tháng, giá vàng trong nước tiếp tục neo ở vùng đỉnh lịch sử, với giá bán ra quanh 177 triệu đồng/lượng. Nhiều dự báo cho thấy năm 2026, các yếu tố hỗ trợ giá vàng quốc tế vẫn hiện hữu và kéo theo đà tăng giá vàng trong nước, song chênh lệch giá vẫn là biến số khó dự đoán, phụ thuộc đáng kể vào chính sách điều hành.
aa

Vàng trở thành tâm điểm của nhiều dòng vốn

Chỉ trong chưa đầy một tháng đầu năm 2026, giá vàng thế giới đã tăng gần 18% so với cuối năm 2025, tương đương tăng khoảng 800 USD/ounce, nối dài đà tăng mạnh 64% năm 2025. Đáng chú ý, ngày 26/1, thị trường tài chính toàn cầu ghi nhận cột mốc lịch sử khi giá vàng lần đầu vượt 5.000 USD/ounce, có thời điểm chạm 5.111 USD/ounce, cao nhất từ trước đến nay, dù biến động mạnh trong phiên và có lúc lùi xuống dưới mốc này.

Trong nước, phiên giao dịch sáng ngày 27/1, giá vàng trong nước gần như đi ngang nhưng vẫn neo ở vùng đỉnh lịch sử. Vàng miếng SJC giao dịch quanh 175 - 177 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá
Nguồn: Giavang.org; Kitco. Đồ họa tư liệu

Quy đổi theo tỷ giá, giá vàng thế giới (chưa bao gồm thuế, phí) vào khoảng 162,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn khoảng 14,7 triệu đồng/lượng so với giá bán vàng SJC trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng trong nước đã tăng 24 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 15,8%, tiếp nối đà tăng mạnh 70% năm 2025.

Giới phân tích cho rằng, làn sóng tăng giá mạnh mẽ của kim loại quý phản ánh sự dịch chuyển lớn của dòng vốn toàn cầu, trong bối cảnh nhà đầu tư đồng loạt rút khỏi trái phiếu Kho bạc Mỹ và đồng USD, tìm đến các tài sản trú ẩn an toàn. Thậm chí, căng thẳng Mỹ - châu Âu sau các động thái khó lường của Tổng thống Trump khiến nhiều nghị sĩ và chuyên gia Đức kêu gọi "hồi hương" vàng dự trữ đang gửi tại Mỹ. Đức hiện nắm giữ 3.350 tấn vàng, lớn thứ hai thế giới sau Mỹ (8.133 tấn), trong đó khoảng 37% (1.236 tấn) được lưu trữ tại kho của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở New York.

Việc Mỹ tái định hình quan hệ quốc tế, nguy cơ căng thẳng thương mại mới, căng thẳng Mỹ - châu Âu liên quan đến Greenland, bế tắc trong đàm phán Nga - Ukraine, cùng áp lực chính trị gia tăng đối với Fed đã phủ bóng lên triển vọng kinh tế toàn cầu.

Trong tuần này, Fed cùng 17 ngân hàng trung ương lớn khác dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, bất chấp sức ép từ Tổng thống Donald Trump kêu gọi Fed sớm cắt giảm lãi suất.

Bên cạnh căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị kéo dài, các ngân hàng trung ương, đặc biệt là tại Trung Quốc đẩy mạnh mua bổ sung vàng vào dự trữ; các quỹ ETF vàng tăng mạnh lượng vàng nắm giữ kể từ năm 2020.

Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), từ sau năm 2022, xu hướng tích lũy vàng đã tăng tốc rõ rệt và mang tính cấu trúc, thay vì chỉ là điều chỉnh theo chu kỳ. Giai đoạn 2022 - 2024, các ngân hàng trung ương mua trung bình 1.045 tấn vàng/năm, cao gấp hơn 2,2 lần mức bình quân 473 tấn/năm của giai đoạn 2010 - 2021. Riêng năm 2022, lượng mua ròng đạt 1.136 tấn, mức cao nhất kể từ năm 1950.

Năm 2025, các ngân hàng trung ương ước mua ròng 950 tấn vàng. Trung Quốc dẫn đầu xu hướng này với 14 tháng mua ròng liên tiếp, bổ sung hơn 400 tấn, đưa dự trữ công bố vượt 2.300 tấn (khoảng 7% tổng dự trữ), dù một số ước tính cho rằng con số thực tế có thể cao hơn. Trong khi đó, Ba Lan là quốc gia mua vàng mạnh nhất năm 2025, bổ sung 95 tấn, nâng tổng dự trữ lên 543 tấn, tương đương 28% tổng dự trữ, nhằm giảm phụ thuộc USD và tăng khả năng chống chịu trước bất ổn.

Nhiều lực đẩy cho giá vàng, song biến động mạnh ngắn hạn

Trong báo cáo phân tích, dự báo về xu hướng kinh tế - tài chính Việt Nam và thế giới tháng 1/2026, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính, Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, giá vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục xu hướng biến động theo giá vàng thế giới.

Dự báo biến động giá vàng trong nước

Ở thị trường Việt Nam, giá vàng có thể tăng theo tốc độ tăng của giá vàng thế giới và sự mất giá của VND, cũng như phụ thuộc chính sách quản lý thị trường vàng của Nhà nước… Giá vàng có thể dao động trong khoảng 150 - 210 triệu đồng/lượng, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể tăng từ 13,22 - 36,78% so với cuối năm 2025.

Ông Phạm Minh Thụy - Viện Kinh tế - Tài chính

Tuy nhiên, ông Thụy cho rằng, Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) chưa có hiệu quả rõ trên thực tế, nguồn cung vàng thấp hơn cầu… khiến chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và thế giới đã tăng lên mức tới 18 - 22 triệu VND/lượng những tháng cuối năm 2025.

Chia sẻ gần đây, ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital cũng nêu rõ, do thị trường Việt Nam chưa hoàn toàn liên thông với quốc tế, một đặc thù đã tồn tại nhiều năm, khiến chênh lệch giá lớn giữa hai thị trường duy trì ở khoảng 10%, tương đương 15 triệu đồng/lượng, chủ yếu xuất phát từ yếu tố cung - cầu.

Dự báo nhân tố tác động đến giá vàng trong nước năm 2026, ông Phạm Minh Thụy cho rằng, nhiều khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 2 lần tổng cộng giảm 0,5 điểm phần trăm làm đồng USD tiếp tục giảm giá. Thêm nữa, căng thẳng địa chính trị, kinh tế… có thể sẽ phức tạp hơn năm 2025 khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và có thể sẽ can thiệp vào đảo Greenland của Đan Mạch… sẽ là yếu tố gây áp lực tăng mạnh giá vàng.

Cũng theo dự báo của JP Morgan Global Research, nhu cầu vàng từ các nhà đầu tư như: quỹ ETF, hợp đồng tương lai, vàng thỏi, tiền xu và các ngân hàng trung ương năm 2026 sẽ rất cao, dự kiến nhu cầu khoảng 585 tấn/quý…

Vì vậy, trên thị trường thế giới năm 2026 giá vàng có thể tiếp tục tăng và dao động ở mức từ 4.200 - 6.200 USD/ounce, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể đạt từ 5.000 - 6.150 USD/ounce, tăng từ 15,51 - 42,08% so với cuối năm 2025.

Gần đây, Bank of America (BoA), một trong những ngân hàng lớn nhất tại Mỹ, đã nâng mục tiêu giá vàng ngắn hạn lên 6.000 USD/ounce, mức dự báo cao nhất trong nhóm các tổ chức tài chính lớn. Đáng chú ý, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương hiện vượt lượng nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ, chiếm trung bình khoảng 15% tổng dự trữ; theo các mô hình phân tích, tỷ trọng này có thể tiến tới 30%.

Tuy vậy, giới chuyên gia lưu ý, sau các nhịp tăng mạnh, giá vàng khó tránh khỏi những đợt điều chỉnh ngắn hạn, khi nhà đầu tư gia tăng chốt lời hoặc khi xuất hiện các thông tin mới làm dịu rủi ro thị trường, qua đó tiềm ẩn biến động đáng kể trong ngắn hạn.

Đẩy nhanh đề án sàn giao dịch vàng quốc gia

Tại Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia, báo cáo Thường trực Chính phủ trong tháng 1/2026.

Trên cơ sở định hướng này và việc triển khai các quy định mới tại Nghị định 232, thị trường kỳ vọng từng bước tháo gỡ những bất cập kéo dài của thị trường vàng, trong đó, có bài toán chênh lệch giá.

Theo ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital, hiện trong nước đã có khoảng 10 doanh nghiệp và ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện, giúp nguồn cung trở nên dồi dào hơn. Thực tế cho thấy, sau khi xóa bỏ độc quyền, giá vàng SJC và vàng 24K của các doanh nghiệp đã tiệm cận nhau rất nhiều. "Vấn đề còn lại hiện nay chủ yếu là thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới" - lãnh đạo Bảo Tín Capital nhấn mạnh.

Lãnh đạo Bảo Tín Capital kỳ vọng, khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch vàng sẽ vận hành tương tự thị trường chứng khoán, với các giao dịch công khai, minh bạch và mức giá được hình thành dựa trên quan hệ cung - cầu thực tế. Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ từng bước được thu hẹp, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn trong giai đoạn tiếp theo.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17639 17912 18484
CAD 17963 18238 18853
CHF 31808 32189 32831
CNY 0 3830 3923
EUR 29298 29518 30596
GBP 33923 34313 35244
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14559 15146
SGD 19761 20043 20615
THB 705 768 821
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80