Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá vàng thế giới vượt mốc 5.000 USD/ounce, tăng gần 18% chưa đầy 1 tháng, giá vàng trong nước tiếp tục neo ở vùng đỉnh lịch sử, với giá bán ra quanh 177 triệu đồng/lượng. Nhiều dự báo cho thấy năm 2026, các yếu tố hỗ trợ giá vàng quốc tế vẫn hiện hữu và kéo theo đà tăng giá vàng trong nước, song chênh lệch giá vẫn là biến số khó dự đoán, phụ thuộc đáng kể vào chính sách điều hành.
aa

Vàng trở thành tâm điểm của nhiều dòng vốn

Chỉ trong chưa đầy một tháng đầu năm 2026, giá vàng thế giới đã tăng gần 18% so với cuối năm 2025, tương đương tăng khoảng 800 USD/ounce, nối dài đà tăng mạnh 64% năm 2025. Đáng chú ý, ngày 26/1, thị trường tài chính toàn cầu ghi nhận cột mốc lịch sử khi giá vàng lần đầu vượt 5.000 USD/ounce, có thời điểm chạm 5.111 USD/ounce, cao nhất từ trước đến nay, dù biến động mạnh trong phiên và có lúc lùi xuống dưới mốc này.

Trong nước, phiên giao dịch sáng ngày 27/1, giá vàng trong nước gần như đi ngang nhưng vẫn neo ở vùng đỉnh lịch sử. Vàng miếng SJC giao dịch quanh 175 - 177 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá
Nguồn: Giavang.org; Kitco. Đồ họa tư liệu

Quy đổi theo tỷ giá, giá vàng thế giới (chưa bao gồm thuế, phí) vào khoảng 162,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn khoảng 14,7 triệu đồng/lượng so với giá bán vàng SJC trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng trong nước đã tăng 24 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 15,8%, tiếp nối đà tăng mạnh 70% năm 2025.

Giới phân tích cho rằng, làn sóng tăng giá mạnh mẽ của kim loại quý phản ánh sự dịch chuyển lớn của dòng vốn toàn cầu, trong bối cảnh nhà đầu tư đồng loạt rút khỏi trái phiếu Kho bạc Mỹ và đồng USD, tìm đến các tài sản trú ẩn an toàn. Thậm chí, căng thẳng Mỹ - châu Âu sau các động thái khó lường của Tổng thống Trump khiến nhiều nghị sĩ và chuyên gia Đức kêu gọi "hồi hương" vàng dự trữ đang gửi tại Mỹ. Đức hiện nắm giữ 3.350 tấn vàng, lớn thứ hai thế giới sau Mỹ (8.133 tấn), trong đó khoảng 37% (1.236 tấn) được lưu trữ tại kho của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở New York.

Việc Mỹ tái định hình quan hệ quốc tế, nguy cơ căng thẳng thương mại mới, căng thẳng Mỹ - châu Âu liên quan đến Greenland, bế tắc trong đàm phán Nga - Ukraine, cùng áp lực chính trị gia tăng đối với Fed đã phủ bóng lên triển vọng kinh tế toàn cầu.

Trong tuần này, Fed cùng 17 ngân hàng trung ương lớn khác dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, bất chấp sức ép từ Tổng thống Donald Trump kêu gọi Fed sớm cắt giảm lãi suất.

Bên cạnh căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị kéo dài, các ngân hàng trung ương, đặc biệt là tại Trung Quốc đẩy mạnh mua bổ sung vàng vào dự trữ; các quỹ ETF vàng tăng mạnh lượng vàng nắm giữ kể từ năm 2020.

Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), từ sau năm 2022, xu hướng tích lũy vàng đã tăng tốc rõ rệt và mang tính cấu trúc, thay vì chỉ là điều chỉnh theo chu kỳ. Giai đoạn 2022 - 2024, các ngân hàng trung ương mua trung bình 1.045 tấn vàng/năm, cao gấp hơn 2,2 lần mức bình quân 473 tấn/năm của giai đoạn 2010 - 2021. Riêng năm 2022, lượng mua ròng đạt 1.136 tấn, mức cao nhất kể từ năm 1950.

Năm 2025, các ngân hàng trung ương ước mua ròng 950 tấn vàng. Trung Quốc dẫn đầu xu hướng này với 14 tháng mua ròng liên tiếp, bổ sung hơn 400 tấn, đưa dự trữ công bố vượt 2.300 tấn (khoảng 7% tổng dự trữ), dù một số ước tính cho rằng con số thực tế có thể cao hơn. Trong khi đó, Ba Lan là quốc gia mua vàng mạnh nhất năm 2025, bổ sung 95 tấn, nâng tổng dự trữ lên 543 tấn, tương đương 28% tổng dự trữ, nhằm giảm phụ thuộc USD và tăng khả năng chống chịu trước bất ổn.

Nhiều lực đẩy cho giá vàng, song biến động mạnh ngắn hạn

Trong báo cáo phân tích, dự báo về xu hướng kinh tế - tài chính Việt Nam và thế giới tháng 1/2026, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính, Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, giá vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục xu hướng biến động theo giá vàng thế giới.

Dự báo biến động giá vàng trong nước

Ở thị trường Việt Nam, giá vàng có thể tăng theo tốc độ tăng của giá vàng thế giới và sự mất giá của VND, cũng như phụ thuộc chính sách quản lý thị trường vàng của Nhà nước… Giá vàng có thể dao động trong khoảng 150 - 210 triệu đồng/lượng, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể tăng từ 13,22 - 36,78% so với cuối năm 2025.

Ông Phạm Minh Thụy - Viện Kinh tế - Tài chính

Tuy nhiên, ông Thụy cho rằng, Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) chưa có hiệu quả rõ trên thực tế, nguồn cung vàng thấp hơn cầu… khiến chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và thế giới đã tăng lên mức tới 18 - 22 triệu VND/lượng những tháng cuối năm 2025.

Chia sẻ gần đây, ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital cũng nêu rõ, do thị trường Việt Nam chưa hoàn toàn liên thông với quốc tế, một đặc thù đã tồn tại nhiều năm, khiến chênh lệch giá lớn giữa hai thị trường duy trì ở khoảng 10%, tương đương 15 triệu đồng/lượng, chủ yếu xuất phát từ yếu tố cung - cầu.

Dự báo nhân tố tác động đến giá vàng trong nước năm 2026, ông Phạm Minh Thụy cho rằng, nhiều khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 2 lần tổng cộng giảm 0,5 điểm phần trăm làm đồng USD tiếp tục giảm giá. Thêm nữa, căng thẳng địa chính trị, kinh tế… có thể sẽ phức tạp hơn năm 2025 khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và có thể sẽ can thiệp vào đảo Greenland của Đan Mạch… sẽ là yếu tố gây áp lực tăng mạnh giá vàng.

Cũng theo dự báo của JP Morgan Global Research, nhu cầu vàng từ các nhà đầu tư như: quỹ ETF, hợp đồng tương lai, vàng thỏi, tiền xu và các ngân hàng trung ương năm 2026 sẽ rất cao, dự kiến nhu cầu khoảng 585 tấn/quý…

Vì vậy, trên thị trường thế giới năm 2026 giá vàng có thể tiếp tục tăng và dao động ở mức từ 4.200 - 6.200 USD/ounce, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể đạt từ 5.000 - 6.150 USD/ounce, tăng từ 15,51 - 42,08% so với cuối năm 2025.

Gần đây, Bank of America (BoA), một trong những ngân hàng lớn nhất tại Mỹ, đã nâng mục tiêu giá vàng ngắn hạn lên 6.000 USD/ounce, mức dự báo cao nhất trong nhóm các tổ chức tài chính lớn. Đáng chú ý, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương hiện vượt lượng nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ, chiếm trung bình khoảng 15% tổng dự trữ; theo các mô hình phân tích, tỷ trọng này có thể tiến tới 30%.

Tuy vậy, giới chuyên gia lưu ý, sau các nhịp tăng mạnh, giá vàng khó tránh khỏi những đợt điều chỉnh ngắn hạn, khi nhà đầu tư gia tăng chốt lời hoặc khi xuất hiện các thông tin mới làm dịu rủi ro thị trường, qua đó tiềm ẩn biến động đáng kể trong ngắn hạn.

Đẩy nhanh đề án sàn giao dịch vàng quốc gia

Tại Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia, báo cáo Thường trực Chính phủ trong tháng 1/2026.

Trên cơ sở định hướng này và việc triển khai các quy định mới tại Nghị định 232, thị trường kỳ vọng từng bước tháo gỡ những bất cập kéo dài của thị trường vàng, trong đó, có bài toán chênh lệch giá.

Theo ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital, hiện trong nước đã có khoảng 10 doanh nghiệp và ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện, giúp nguồn cung trở nên dồi dào hơn. Thực tế cho thấy, sau khi xóa bỏ độc quyền, giá vàng SJC và vàng 24K của các doanh nghiệp đã tiệm cận nhau rất nhiều. "Vấn đề còn lại hiện nay chủ yếu là thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới" - lãnh đạo Bảo Tín Capital nhấn mạnh.

Lãnh đạo Bảo Tín Capital kỳ vọng, khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch vàng sẽ vận hành tương tự thị trường chứng khoán, với các giao dịch công khai, minh bạch và mức giá được hình thành dựa trên quan hệ cung - cầu thực tế. Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ từng bước được thu hẹp, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn trong giai đoạn tiếp theo.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 10/05/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/05/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80