Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá vàng thế giới vượt mốc 5.000 USD/ounce, tăng gần 18% chưa đầy 1 tháng, giá vàng trong nước tiếp tục neo ở vùng đỉnh lịch sử, với giá bán ra quanh 177 triệu đồng/lượng. Nhiều dự báo cho thấy năm 2026, các yếu tố hỗ trợ giá vàng quốc tế vẫn hiện hữu và kéo theo đà tăng giá vàng trong nước, song chênh lệch giá vẫn là biến số khó dự đoán, phụ thuộc đáng kể vào chính sách điều hành.
aa

Vàng trở thành tâm điểm của nhiều dòng vốn

Chỉ trong chưa đầy một tháng đầu năm 2026, giá vàng thế giới đã tăng gần 18% so với cuối năm 2025, tương đương tăng khoảng 800 USD/ounce, nối dài đà tăng mạnh 64% năm 2025. Đáng chú ý, ngày 26/1, thị trường tài chính toàn cầu ghi nhận cột mốc lịch sử khi giá vàng lần đầu vượt 5.000 USD/ounce, có thời điểm chạm 5.111 USD/ounce, cao nhất từ trước đến nay, dù biến động mạnh trong phiên và có lúc lùi xuống dưới mốc này.

Trong nước, phiên giao dịch sáng ngày 27/1, giá vàng trong nước gần như đi ngang nhưng vẫn neo ở vùng đỉnh lịch sử. Vàng miếng SJC giao dịch quanh 175 - 177 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá
Nguồn: Giavang.org; Kitco. Đồ họa tư liệu

Quy đổi theo tỷ giá, giá vàng thế giới (chưa bao gồm thuế, phí) vào khoảng 162,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn khoảng 14,7 triệu đồng/lượng so với giá bán vàng SJC trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng trong nước đã tăng 24 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 15,8%, tiếp nối đà tăng mạnh 70% năm 2025.

Giới phân tích cho rằng, làn sóng tăng giá mạnh mẽ của kim loại quý phản ánh sự dịch chuyển lớn của dòng vốn toàn cầu, trong bối cảnh nhà đầu tư đồng loạt rút khỏi trái phiếu Kho bạc Mỹ và đồng USD, tìm đến các tài sản trú ẩn an toàn. Thậm chí, căng thẳng Mỹ - châu Âu sau các động thái khó lường của Tổng thống Trump khiến nhiều nghị sĩ và chuyên gia Đức kêu gọi "hồi hương" vàng dự trữ đang gửi tại Mỹ. Đức hiện nắm giữ 3.350 tấn vàng, lớn thứ hai thế giới sau Mỹ (8.133 tấn), trong đó khoảng 37% (1.236 tấn) được lưu trữ tại kho của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở New York.

Việc Mỹ tái định hình quan hệ quốc tế, nguy cơ căng thẳng thương mại mới, căng thẳng Mỹ - châu Âu liên quan đến Greenland, bế tắc trong đàm phán Nga - Ukraine, cùng áp lực chính trị gia tăng đối với Fed đã phủ bóng lên triển vọng kinh tế toàn cầu.

Trong tuần này, Fed cùng 17 ngân hàng trung ương lớn khác dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, bất chấp sức ép từ Tổng thống Donald Trump kêu gọi Fed sớm cắt giảm lãi suất.

Bên cạnh căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị kéo dài, các ngân hàng trung ương, đặc biệt là tại Trung Quốc đẩy mạnh mua bổ sung vàng vào dự trữ; các quỹ ETF vàng tăng mạnh lượng vàng nắm giữ kể từ năm 2020.

Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), từ sau năm 2022, xu hướng tích lũy vàng đã tăng tốc rõ rệt và mang tính cấu trúc, thay vì chỉ là điều chỉnh theo chu kỳ. Giai đoạn 2022 - 2024, các ngân hàng trung ương mua trung bình 1.045 tấn vàng/năm, cao gấp hơn 2,2 lần mức bình quân 473 tấn/năm của giai đoạn 2010 - 2021. Riêng năm 2022, lượng mua ròng đạt 1.136 tấn, mức cao nhất kể từ năm 1950.

Năm 2025, các ngân hàng trung ương ước mua ròng 950 tấn vàng. Trung Quốc dẫn đầu xu hướng này với 14 tháng mua ròng liên tiếp, bổ sung hơn 400 tấn, đưa dự trữ công bố vượt 2.300 tấn (khoảng 7% tổng dự trữ), dù một số ước tính cho rằng con số thực tế có thể cao hơn. Trong khi đó, Ba Lan là quốc gia mua vàng mạnh nhất năm 2025, bổ sung 95 tấn, nâng tổng dự trữ lên 543 tấn, tương đương 28% tổng dự trữ, nhằm giảm phụ thuộc USD và tăng khả năng chống chịu trước bất ổn.

Nhiều lực đẩy cho giá vàng, song biến động mạnh ngắn hạn

Trong báo cáo phân tích, dự báo về xu hướng kinh tế - tài chính Việt Nam và thế giới tháng 1/2026, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính, Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, giá vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục xu hướng biến động theo giá vàng thế giới.

Dự báo biến động giá vàng trong nước

Ở thị trường Việt Nam, giá vàng có thể tăng theo tốc độ tăng của giá vàng thế giới và sự mất giá của VND, cũng như phụ thuộc chính sách quản lý thị trường vàng của Nhà nước… Giá vàng có thể dao động trong khoảng 150 - 210 triệu đồng/lượng, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể tăng từ 13,22 - 36,78% so với cuối năm 2025.

Ông Phạm Minh Thụy - Viện Kinh tế - Tài chính

Tuy nhiên, ông Thụy cho rằng, Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) chưa có hiệu quả rõ trên thực tế, nguồn cung vàng thấp hơn cầu… khiến chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và thế giới đã tăng lên mức tới 18 - 22 triệu VND/lượng những tháng cuối năm 2025.

Chia sẻ gần đây, ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital cũng nêu rõ, do thị trường Việt Nam chưa hoàn toàn liên thông với quốc tế, một đặc thù đã tồn tại nhiều năm, khiến chênh lệch giá lớn giữa hai thị trường duy trì ở khoảng 10%, tương đương 15 triệu đồng/lượng, chủ yếu xuất phát từ yếu tố cung - cầu.

Dự báo nhân tố tác động đến giá vàng trong nước năm 2026, ông Phạm Minh Thụy cho rằng, nhiều khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 2 lần tổng cộng giảm 0,5 điểm phần trăm làm đồng USD tiếp tục giảm giá. Thêm nữa, căng thẳng địa chính trị, kinh tế… có thể sẽ phức tạp hơn năm 2025 khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và có thể sẽ can thiệp vào đảo Greenland của Đan Mạch… sẽ là yếu tố gây áp lực tăng mạnh giá vàng.

Cũng theo dự báo của JP Morgan Global Research, nhu cầu vàng từ các nhà đầu tư như: quỹ ETF, hợp đồng tương lai, vàng thỏi, tiền xu và các ngân hàng trung ương năm 2026 sẽ rất cao, dự kiến nhu cầu khoảng 585 tấn/quý…

Vì vậy, trên thị trường thế giới năm 2026 giá vàng có thể tiếp tục tăng và dao động ở mức từ 4.200 - 6.200 USD/ounce, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể đạt từ 5.000 - 6.150 USD/ounce, tăng từ 15,51 - 42,08% so với cuối năm 2025.

Gần đây, Bank of America (BoA), một trong những ngân hàng lớn nhất tại Mỹ, đã nâng mục tiêu giá vàng ngắn hạn lên 6.000 USD/ounce, mức dự báo cao nhất trong nhóm các tổ chức tài chính lớn. Đáng chú ý, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương hiện vượt lượng nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ, chiếm trung bình khoảng 15% tổng dự trữ; theo các mô hình phân tích, tỷ trọng này có thể tiến tới 30%.

Tuy vậy, giới chuyên gia lưu ý, sau các nhịp tăng mạnh, giá vàng khó tránh khỏi những đợt điều chỉnh ngắn hạn, khi nhà đầu tư gia tăng chốt lời hoặc khi xuất hiện các thông tin mới làm dịu rủi ro thị trường, qua đó tiềm ẩn biến động đáng kể trong ngắn hạn.

Đẩy nhanh đề án sàn giao dịch vàng quốc gia

Tại Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia, báo cáo Thường trực Chính phủ trong tháng 1/2026.

Trên cơ sở định hướng này và việc triển khai các quy định mới tại Nghị định 232, thị trường kỳ vọng từng bước tháo gỡ những bất cập kéo dài của thị trường vàng, trong đó, có bài toán chênh lệch giá.

Theo ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital, hiện trong nước đã có khoảng 10 doanh nghiệp và ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện, giúp nguồn cung trở nên dồi dào hơn. Thực tế cho thấy, sau khi xóa bỏ độc quyền, giá vàng SJC và vàng 24K của các doanh nghiệp đã tiệm cận nhau rất nhiều. "Vấn đề còn lại hiện nay chủ yếu là thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới" - lãnh đạo Bảo Tín Capital nhấn mạnh.

Lãnh đạo Bảo Tín Capital kỳ vọng, khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch vàng sẽ vận hành tương tự thị trường chứng khoán, với các giao dịch công khai, minh bạch và mức giá được hình thành dựa trên quan hệ cung - cầu thực tế. Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ từng bước được thu hẹp, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn trong giai đoạn tiếp theo.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

Quy định mới về AI ngành ngân hàng, tự động thanh toán trên 10 triệu đồng thuộc nhóm rủi ro cao

(TBTCO) - Theo Thông tư số 53/2026/TT-NHNN về quản lý rủi ro khi ứng dụng AI ngành ngân hàng, hệ thống AI tự động thanh toán trên 10 triệu đồng/giao dịch với khách hàng cá nhân, trên 50 triệu đồng với tổ chức, hoặc tự động quyết định cấp tín dụng từ 50 triệu đồng trở lên được xếp vào nhóm rủi ro cao. Các đơn vị phải thiết lập công cụ giám sát liên tục.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Sau MB, VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ 100.000 tỷ đồng, sau khi hoàn tất phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức, nâng vốn thêm hơn 20.660 tỷ đồng. Việc liên tiếp xuất hiện các nhà băng có vốn điều lệ vượt ngưỡng 100.000 tỷ đồng cho thấy "làn sóng" tăng vốn đang diễn ra mạnh mẽ.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17786 18365
CAD 17653 17927 18547
CHF 30483 30859 31501
CNY 0 3823 3919
EUR 28399 28615 29698
GBP 33443 33831 34763
HKD 0 3166 3369
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14200 14784
SGD 19671 19953 20522
THB 687 750 803
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25660 26040
AUD 17703 17803 18725
CAD 17837 17937 18953
CHF 30707 30737 32322
CNY 3800.7 3825.7 3960.7
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28579 28609 30331
GBP 33715 33765 35536
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14321 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19823 19953 20675
THB 0 715.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30