Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá vàng thế giới vượt mốc 5.000 USD/ounce, tăng gần 18% chưa đầy 1 tháng, giá vàng trong nước tiếp tục neo ở vùng đỉnh lịch sử, với giá bán ra quanh 177 triệu đồng/lượng. Nhiều dự báo cho thấy năm 2026, các yếu tố hỗ trợ giá vàng quốc tế vẫn hiện hữu và kéo theo đà tăng giá vàng trong nước, song chênh lệch giá vẫn là biến số khó dự đoán, phụ thuộc đáng kể vào chính sách điều hành.
aa

Vàng trở thành tâm điểm của nhiều dòng vốn

Chỉ trong chưa đầy một tháng đầu năm 2026, giá vàng thế giới đã tăng gần 18% so với cuối năm 2025, tương đương tăng khoảng 800 USD/ounce, nối dài đà tăng mạnh 64% năm 2025. Đáng chú ý, ngày 26/1, thị trường tài chính toàn cầu ghi nhận cột mốc lịch sử khi giá vàng lần đầu vượt 5.000 USD/ounce, có thời điểm chạm 5.111 USD/ounce, cao nhất từ trước đến nay, dù biến động mạnh trong phiên và có lúc lùi xuống dưới mốc này.

Trong nước, phiên giao dịch sáng ngày 27/1, giá vàng trong nước gần như đi ngang nhưng vẫn neo ở vùng đỉnh lịch sử. Vàng miếng SJC giao dịch quanh 175 - 177 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá
Nguồn: Giavang.org; Kitco. Đồ họa tư liệu

Quy đổi theo tỷ giá, giá vàng thế giới (chưa bao gồm thuế, phí) vào khoảng 162,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn khoảng 14,7 triệu đồng/lượng so với giá bán vàng SJC trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng trong nước đã tăng 24 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 15,8%, tiếp nối đà tăng mạnh 70% năm 2025.

Giới phân tích cho rằng, làn sóng tăng giá mạnh mẽ của kim loại quý phản ánh sự dịch chuyển lớn của dòng vốn toàn cầu, trong bối cảnh nhà đầu tư đồng loạt rút khỏi trái phiếu Kho bạc Mỹ và đồng USD, tìm đến các tài sản trú ẩn an toàn. Thậm chí, căng thẳng Mỹ - châu Âu sau các động thái khó lường của Tổng thống Trump khiến nhiều nghị sĩ và chuyên gia Đức kêu gọi "hồi hương" vàng dự trữ đang gửi tại Mỹ. Đức hiện nắm giữ 3.350 tấn vàng, lớn thứ hai thế giới sau Mỹ (8.133 tấn), trong đó khoảng 37% (1.236 tấn) được lưu trữ tại kho của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở New York.

Việc Mỹ tái định hình quan hệ quốc tế, nguy cơ căng thẳng thương mại mới, căng thẳng Mỹ - châu Âu liên quan đến Greenland, bế tắc trong đàm phán Nga - Ukraine, cùng áp lực chính trị gia tăng đối với Fed đã phủ bóng lên triển vọng kinh tế toàn cầu.

Trong tuần này, Fed cùng 17 ngân hàng trung ương lớn khác dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, bất chấp sức ép từ Tổng thống Donald Trump kêu gọi Fed sớm cắt giảm lãi suất.

Bên cạnh căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị kéo dài, các ngân hàng trung ương, đặc biệt là tại Trung Quốc đẩy mạnh mua bổ sung vàng vào dự trữ; các quỹ ETF vàng tăng mạnh lượng vàng nắm giữ kể từ năm 2020.

Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), từ sau năm 2022, xu hướng tích lũy vàng đã tăng tốc rõ rệt và mang tính cấu trúc, thay vì chỉ là điều chỉnh theo chu kỳ. Giai đoạn 2022 - 2024, các ngân hàng trung ương mua trung bình 1.045 tấn vàng/năm, cao gấp hơn 2,2 lần mức bình quân 473 tấn/năm của giai đoạn 2010 - 2021. Riêng năm 2022, lượng mua ròng đạt 1.136 tấn, mức cao nhất kể từ năm 1950.

Năm 2025, các ngân hàng trung ương ước mua ròng 950 tấn vàng. Trung Quốc dẫn đầu xu hướng này với 14 tháng mua ròng liên tiếp, bổ sung hơn 400 tấn, đưa dự trữ công bố vượt 2.300 tấn (khoảng 7% tổng dự trữ), dù một số ước tính cho rằng con số thực tế có thể cao hơn. Trong khi đó, Ba Lan là quốc gia mua vàng mạnh nhất năm 2025, bổ sung 95 tấn, nâng tổng dự trữ lên 543 tấn, tương đương 28% tổng dự trữ, nhằm giảm phụ thuộc USD và tăng khả năng chống chịu trước bất ổn.

Nhiều lực đẩy cho giá vàng, song biến động mạnh ngắn hạn

Trong báo cáo phân tích, dự báo về xu hướng kinh tế - tài chính Việt Nam và thế giới tháng 1/2026, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính, Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, giá vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục xu hướng biến động theo giá vàng thế giới.

Dự báo biến động giá vàng trong nước

Ở thị trường Việt Nam, giá vàng có thể tăng theo tốc độ tăng của giá vàng thế giới và sự mất giá của VND, cũng như phụ thuộc chính sách quản lý thị trường vàng của Nhà nước… Giá vàng có thể dao động trong khoảng 150 - 210 triệu đồng/lượng, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể tăng từ 13,22 - 36,78% so với cuối năm 2025.

Ông Phạm Minh Thụy - Viện Kinh tế - Tài chính

Tuy nhiên, ông Thụy cho rằng, Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) chưa có hiệu quả rõ trên thực tế, nguồn cung vàng thấp hơn cầu… khiến chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và thế giới đã tăng lên mức tới 18 - 22 triệu VND/lượng những tháng cuối năm 2025.

Chia sẻ gần đây, ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital cũng nêu rõ, do thị trường Việt Nam chưa hoàn toàn liên thông với quốc tế, một đặc thù đã tồn tại nhiều năm, khiến chênh lệch giá lớn giữa hai thị trường duy trì ở khoảng 10%, tương đương 15 triệu đồng/lượng, chủ yếu xuất phát từ yếu tố cung - cầu.

Dự báo nhân tố tác động đến giá vàng trong nước năm 2026, ông Phạm Minh Thụy cho rằng, nhiều khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 2 lần tổng cộng giảm 0,5 điểm phần trăm làm đồng USD tiếp tục giảm giá. Thêm nữa, căng thẳng địa chính trị, kinh tế… có thể sẽ phức tạp hơn năm 2025 khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và có thể sẽ can thiệp vào đảo Greenland của Đan Mạch… sẽ là yếu tố gây áp lực tăng mạnh giá vàng.

Cũng theo dự báo của JP Morgan Global Research, nhu cầu vàng từ các nhà đầu tư như: quỹ ETF, hợp đồng tương lai, vàng thỏi, tiền xu và các ngân hàng trung ương năm 2026 sẽ rất cao, dự kiến nhu cầu khoảng 585 tấn/quý…

Vì vậy, trên thị trường thế giới năm 2026 giá vàng có thể tiếp tục tăng và dao động ở mức từ 4.200 - 6.200 USD/ounce, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể đạt từ 5.000 - 6.150 USD/ounce, tăng từ 15,51 - 42,08% so với cuối năm 2025.

Gần đây, Bank of America (BoA), một trong những ngân hàng lớn nhất tại Mỹ, đã nâng mục tiêu giá vàng ngắn hạn lên 6.000 USD/ounce, mức dự báo cao nhất trong nhóm các tổ chức tài chính lớn. Đáng chú ý, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương hiện vượt lượng nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ, chiếm trung bình khoảng 15% tổng dự trữ; theo các mô hình phân tích, tỷ trọng này có thể tiến tới 30%.

Tuy vậy, giới chuyên gia lưu ý, sau các nhịp tăng mạnh, giá vàng khó tránh khỏi những đợt điều chỉnh ngắn hạn, khi nhà đầu tư gia tăng chốt lời hoặc khi xuất hiện các thông tin mới làm dịu rủi ro thị trường, qua đó tiềm ẩn biến động đáng kể trong ngắn hạn.

Đẩy nhanh đề án sàn giao dịch vàng quốc gia

Tại Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia, báo cáo Thường trực Chính phủ trong tháng 1/2026.

Trên cơ sở định hướng này và việc triển khai các quy định mới tại Nghị định 232, thị trường kỳ vọng từng bước tháo gỡ những bất cập kéo dài của thị trường vàng, trong đó, có bài toán chênh lệch giá.

Theo ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital, hiện trong nước đã có khoảng 10 doanh nghiệp và ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện, giúp nguồn cung trở nên dồi dào hơn. Thực tế cho thấy, sau khi xóa bỏ độc quyền, giá vàng SJC và vàng 24K của các doanh nghiệp đã tiệm cận nhau rất nhiều. "Vấn đề còn lại hiện nay chủ yếu là thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới" - lãnh đạo Bảo Tín Capital nhấn mạnh.

Lãnh đạo Bảo Tín Capital kỳ vọng, khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch vàng sẽ vận hành tương tự thị trường chứng khoán, với các giao dịch công khai, minh bạch và mức giá được hình thành dựa trên quan hệ cung - cầu thực tế. Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ từng bước được thu hẹp, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn trong giai đoạn tiếp theo.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

Từ LPBank Plus đến Lộc Phát Shop: LPBank giới thiệu các giải pháp số tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng

(TBTCO) - Tham gia sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) giới thiệu hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số với hai điểm nhấn là ứng dụng LPBank Plus và giải pháp Lộc Phát Shop, qua đó khẳng định những bước tiến trong ứng dụng dữ liệu và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng.
BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

BAC A BANK tặng nhiều ưu đãi thiết thực cho khách hàng mở thẻ tín dụng

(TBTCO) - Mang tới giải pháp chi tiêu an toàn và thuận lợi, BAC A BANK dành tặng thêm chương trình ưu đãi “Mở thẻ mới - Quà tới tay” cho khách hàng mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK Mastercard.
NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

NCB muốn phát hành cổ phiếu riêng lẻ đưa vốn điều lệ vượt 62.000 tỷ đồng, hướng tới top 10 toàn hệ thống

(TBTCO) - NCB dự kiến phát hành riêng lẻ 3,3 tỷ cổ phiếu, huy động 33.000 tỷ đồng. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng lên gần 62.280 tỷ đồng, gấp 3,2 lần đầu năm 2026, đánh dấu 5 lần tăng vốn trong 6 năm và đưa NCB vào top 10 ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất thị trường.
Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

Chuyển đổi số càng sâu, Thống đốc yêu cầu ngành ngân hàng kiểm soát rủi ro, lấy hiệu quả làm thước đo

(TBTCO) - Phát biểu tại sự kiện “Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026”, theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn, chuyển đổi số càng sâu, những vấn đề mới càng xuất hiện nhanh. Theo đó, toàn ngành cần tập trung 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, đổi mới mạnh mẽ, nhưng có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.
SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18840
CAD 18323 18599 19213
CHF 31605 31985 32633
CNY 0 3830 3940
EUR 29682 29904 30983
GBP 34626 35018 35953
HKD 0 3207 3409
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15055 15640
SGD 19943 20225 20802
THB 706 769 822
USD (1,2) 25909 0 0
USD (5,10,20) 25949 0 0
USD (50,100) 25978 25992 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,697 29,721 31,128
JPY 159.62 159.91 169.59
GBP 34,773 34,867 36,072
AUD 18,173 18,239 18,934
CAD 18,475 18,534 19,216
CHF 31,813 31,912 32,857
SGD 20,047 20,109 20,895
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,270 3,280 3,417
KRW 17.14 17.87 19.45
THB 752.98 762.28 816.11
NZD 15,010 15,149 15,597
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,794.22
TWD 739.72 - 895.55
SAR - 6,853.64 7,218.66
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26010 26010 26370
AUD 18177 18277 19202
CAD 18490 18590 19602
CHF 31846 31876 33458
CNY 3823.4 3848.4 3983.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29865 29895 31620
GBP 34927 34977 36732
HKD 0 3330 0
JPY 160.7 161.2 171.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15168 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20105 20235 20958
THB 0 735 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 13970000 13970000 14270000
SBJ 12500000 12500000 14270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80