Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh giá vàng thế giới vượt mốc 5.000 USD/ounce, tăng gần 18% chưa đầy 1 tháng, giá vàng trong nước tiếp tục neo ở vùng đỉnh lịch sử, với giá bán ra quanh 177 triệu đồng/lượng. Nhiều dự báo cho thấy năm 2026, các yếu tố hỗ trợ giá vàng quốc tế vẫn hiện hữu và kéo theo đà tăng giá vàng trong nước, song chênh lệch giá vẫn là biến số khó dự đoán, phụ thuộc đáng kể vào chính sách điều hành.
aa

Vàng trở thành tâm điểm của nhiều dòng vốn

Chỉ trong chưa đầy một tháng đầu năm 2026, giá vàng thế giới đã tăng gần 18% so với cuối năm 2025, tương đương tăng khoảng 800 USD/ounce, nối dài đà tăng mạnh 64% năm 2025. Đáng chú ý, ngày 26/1, thị trường tài chính toàn cầu ghi nhận cột mốc lịch sử khi giá vàng lần đầu vượt 5.000 USD/ounce, có thời điểm chạm 5.111 USD/ounce, cao nhất từ trước đến nay, dù biến động mạnh trong phiên và có lúc lùi xuống dưới mốc này.

Trong nước, phiên giao dịch sáng ngày 27/1, giá vàng trong nước gần như đi ngang nhưng vẫn neo ở vùng đỉnh lịch sử. Vàng miếng SJC giao dịch quanh 175 - 177 triệu đồng/lượng.

Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá
Nguồn: Giavang.org; Kitco. Đồ họa tư liệu

Quy đổi theo tỷ giá, giá vàng thế giới (chưa bao gồm thuế, phí) vào khoảng 162,3 triệu đồng/lượng, thấp hơn khoảng 14,7 triệu đồng/lượng so với giá bán vàng SJC trong nước. Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng trong nước đã tăng 24 triệu đồng/lượng, tương ứng tăng 15,8%, tiếp nối đà tăng mạnh 70% năm 2025.

Giới phân tích cho rằng, làn sóng tăng giá mạnh mẽ của kim loại quý phản ánh sự dịch chuyển lớn của dòng vốn toàn cầu, trong bối cảnh nhà đầu tư đồng loạt rút khỏi trái phiếu Kho bạc Mỹ và đồng USD, tìm đến các tài sản trú ẩn an toàn. Thậm chí, căng thẳng Mỹ - châu Âu sau các động thái khó lường của Tổng thống Trump khiến nhiều nghị sĩ và chuyên gia Đức kêu gọi "hồi hương" vàng dự trữ đang gửi tại Mỹ. Đức hiện nắm giữ 3.350 tấn vàng, lớn thứ hai thế giới sau Mỹ (8.133 tấn), trong đó khoảng 37% (1.236 tấn) được lưu trữ tại kho của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) ở New York.

Việc Mỹ tái định hình quan hệ quốc tế, nguy cơ căng thẳng thương mại mới, căng thẳng Mỹ - châu Âu liên quan đến Greenland, bế tắc trong đàm phán Nga - Ukraine, cùng áp lực chính trị gia tăng đối với Fed đã phủ bóng lên triển vọng kinh tế toàn cầu.

Trong tuần này, Fed cùng 17 ngân hàng trung ương lớn khác dự kiến sẽ giữ nguyên lãi suất, trong bối cảnh triển vọng kinh tế toàn cầu còn nhiều bất định, bất chấp sức ép từ Tổng thống Donald Trump kêu gọi Fed sớm cắt giảm lãi suất.

Bên cạnh căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị kéo dài, các ngân hàng trung ương, đặc biệt là tại Trung Quốc đẩy mạnh mua bổ sung vàng vào dự trữ; các quỹ ETF vàng tăng mạnh lượng vàng nắm giữ kể từ năm 2020.

Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), từ sau năm 2022, xu hướng tích lũy vàng đã tăng tốc rõ rệt và mang tính cấu trúc, thay vì chỉ là điều chỉnh theo chu kỳ. Giai đoạn 2022 - 2024, các ngân hàng trung ương mua trung bình 1.045 tấn vàng/năm, cao gấp hơn 2,2 lần mức bình quân 473 tấn/năm của giai đoạn 2010 - 2021. Riêng năm 2022, lượng mua ròng đạt 1.136 tấn, mức cao nhất kể từ năm 1950.

Năm 2025, các ngân hàng trung ương ước mua ròng 950 tấn vàng. Trung Quốc dẫn đầu xu hướng này với 14 tháng mua ròng liên tiếp, bổ sung hơn 400 tấn, đưa dự trữ công bố vượt 2.300 tấn (khoảng 7% tổng dự trữ), dù một số ước tính cho rằng con số thực tế có thể cao hơn. Trong khi đó, Ba Lan là quốc gia mua vàng mạnh nhất năm 2025, bổ sung 95 tấn, nâng tổng dự trữ lên 543 tấn, tương đương 28% tổng dự trữ, nhằm giảm phụ thuộc USD và tăng khả năng chống chịu trước bất ổn.

Nhiều lực đẩy cho giá vàng, song biến động mạnh ngắn hạn

Trong báo cáo phân tích, dự báo về xu hướng kinh tế - tài chính Việt Nam và thế giới tháng 1/2026, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính, Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) đánh giá, giá vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục xu hướng biến động theo giá vàng thế giới.

Dự báo biến động giá vàng trong nước

Ở thị trường Việt Nam, giá vàng có thể tăng theo tốc độ tăng của giá vàng thế giới và sự mất giá của VND, cũng như phụ thuộc chính sách quản lý thị trường vàng của Nhà nước… Giá vàng có thể dao động trong khoảng 150 - 210 triệu đồng/lượng, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể tăng từ 13,22 - 36,78% so với cuối năm 2025.

Ông Phạm Minh Thụy - Viện Kinh tế - Tài chính

Tuy nhiên, ông Thụy cho rằng, Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi Nghị định 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232) chưa có hiệu quả rõ trên thực tế, nguồn cung vàng thấp hơn cầu… khiến chênh lệch giữa giá vàng miếng trong nước và thế giới đã tăng lên mức tới 18 - 22 triệu VND/lượng những tháng cuối năm 2025.

Chia sẻ gần đây, ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital cũng nêu rõ, do thị trường Việt Nam chưa hoàn toàn liên thông với quốc tế, một đặc thù đã tồn tại nhiều năm, khiến chênh lệch giá lớn giữa hai thị trường duy trì ở khoảng 10%, tương đương 15 triệu đồng/lượng, chủ yếu xuất phát từ yếu tố cung - cầu.

Dự báo nhân tố tác động đến giá vàng trong nước năm 2026, ông Phạm Minh Thụy cho rằng, nhiều khả năng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 2 lần tổng cộng giảm 0,5 điểm phần trăm làm đồng USD tiếp tục giảm giá. Thêm nữa, căng thẳng địa chính trị, kinh tế… có thể sẽ phức tạp hơn năm 2025 khi Mỹ can thiệp vào Venezuela và có thể sẽ can thiệp vào đảo Greenland của Đan Mạch… sẽ là yếu tố gây áp lực tăng mạnh giá vàng.

Cũng theo dự báo của JP Morgan Global Research, nhu cầu vàng từ các nhà đầu tư như: quỹ ETF, hợp đồng tương lai, vàng thỏi, tiền xu và các ngân hàng trung ương năm 2026 sẽ rất cao, dự kiến nhu cầu khoảng 585 tấn/quý…

Vì vậy, trên thị trường thế giới năm 2026 giá vàng có thể tiếp tục tăng và dao động ở mức từ 4.200 - 6.200 USD/ounce, giá vàng cuối tháng 12/2026 có thể đạt từ 5.000 - 6.150 USD/ounce, tăng từ 15,51 - 42,08% so với cuối năm 2025.

Gần đây, Bank of America (BoA), một trong những ngân hàng lớn nhất tại Mỹ, đã nâng mục tiêu giá vàng ngắn hạn lên 6.000 USD/ounce, mức dự báo cao nhất trong nhóm các tổ chức tài chính lớn. Đáng chú ý, dự trữ vàng của các ngân hàng trung ương hiện vượt lượng nắm giữ trái phiếu Kho bạc Mỹ, chiếm trung bình khoảng 15% tổng dự trữ; theo các mô hình phân tích, tỷ trọng này có thể tiến tới 30%.

Tuy vậy, giới chuyên gia lưu ý, sau các nhịp tăng mạnh, giá vàng khó tránh khỏi những đợt điều chỉnh ngắn hạn, khi nhà đầu tư gia tăng chốt lời hoặc khi xuất hiện các thông tin mới làm dịu rủi ro thị trường, qua đó tiềm ẩn biến động đáng kể trong ngắn hạn.

Đẩy nhanh đề án sàn giao dịch vàng quốc gia

Tại Công điện số 06/CĐ-TTg ngày 24/1/2026 về việc đẩy mạnh một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương hoàn thiện hồ sơ nghiên cứu, đánh giá, xem xét đề xuất thành lập sàn/sở giao dịch vàng quốc gia, báo cáo Thường trực Chính phủ trong tháng 1/2026.

Trên cơ sở định hướng này và việc triển khai các quy định mới tại Nghị định 232, thị trường kỳ vọng từng bước tháo gỡ những bất cập kéo dài của thị trường vàng, trong đó, có bài toán chênh lệch giá.

Theo ông Đinh Ngọc Dũng - Tổng giám đốc Bảo Tín Capital, hiện trong nước đã có khoảng 10 doanh nghiệp và ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện, giúp nguồn cung trở nên dồi dào hơn. Thực tế cho thấy, sau khi xóa bỏ độc quyền, giá vàng SJC và vàng 24K của các doanh nghiệp đã tiệm cận nhau rất nhiều. "Vấn đề còn lại hiện nay chủ yếu là thu hẹp khoảng cách giữa giá vàng trong nước và thế giới" - lãnh đạo Bảo Tín Capital nhấn mạnh.

Lãnh đạo Bảo Tín Capital kỳ vọng, khi đi vào hoạt động, sàn giao dịch vàng sẽ vận hành tương tự thị trường chứng khoán, với các giao dịch công khai, minh bạch và mức giá được hình thành dựa trên quan hệ cung - cầu thực tế. Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế sẽ từng bước được thu hẹp, tiến tới xóa bỏ hoàn toàn trong giai đoạn tiếp theo.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80