Nhu cầu đầu tư vàng toàn cầu vượt 5.000 tấn, Việt Nam ngược dòng vì “nút thắt” nguồn cung

Ánh Tuyết
Báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới cho thấy, năm 2025 nhu cầu vàng toàn cầu lần đầu vượt mốc 5.000 tấn, lập kỷ lục lịch sử trong bối cảnh bất ổn địa chính trị - kinh tế kéo dài, đẩy giá trị đầu tư lên tới 555 tỷ USD nhờ dòng tiền trú ẩn và lực mua mạnh từ ETF, ngân hàng trung ương. Riêng Việt Nam trở thành ngoại lệ khi nhu cầu đầu tư vàng suy giảm quý thứ 6 liên tiếp, chủ yếu do hạn chế nguồn cung.
aa
Giá vàng lập mặt bằng mới nhưng bài toán hiệu quả đầu tư vẫn cần nhìn dài hạn Giá vàng chịu tác động trước ngã rẽ của dòng vốn và ẩn số chênh lệch giá Giá vàng hôm nay ngày 29/1: Giá vàng trong nước thiết lập mặt bằng kỷ lục mới

Dòng tiền trú ẩn gia tăng, nhu cầu vàng toàn cầu lập đỉnh trên 5.000 tấn

Theo Báo cáo "Xu hướng nhu cầu vàng cả năm 2025" của Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), tổng nhu cầu vàng phục vụ sản xuất đồ trang sức, công nghệ, đầu tư, mua ròng của các ngân hàng trung ương và nhu cầu của thị trường phi tập trung và các thị trường khác năm 2025 đạt mức cao nhất từ trước tới nay, lên tới 5.002 tấn.

Với đà tăng trưởng mạnh mẽ, quý IV/2025 đã khép lại một năm tăng trưởng ấn tượng của thị trường vàng, khi bất ổn địa chính trị và kinh tế kéo dài đã thúc đẩy dòng vốn đầu tư chảy mạnh vào vàng, đưa giá trị đầu tư cả năm lên tới 555 tỷ USD.

Nhu cầu đầu tư vàng toàn cầu vượt 5.000 tấn, Việt Nam ngược dòng vì “nút thắt” nguồn cung
Nhu cầu đầu tư vàng toàn cầu vượt 5.000 tấn, Việt Nam ngược dòng vì “nút thắt” nguồn cung. Ảnh minh họa.

Ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại Hội đồng Vàng Thế giới cho biết, các nhà đầu tư trên toàn cầu tiếp tục bổ sung vàng vào danh mục đầu tư, nhờ vai trò trú ẩn an toàn, lợi ích đa dạng hóa danh mục cũng như đà tăng trưởng ấn tượng của vàng. Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương cũng tiếp tục duy trì xu hướng mua vàng ổn định.

Theo WGC, nhu cầu mua vàng của các ngân hàng trung ương tiếp tục duy trì ở mức cao trong năm 2025, với 863 tấn vàng chính thức được bổ sung vào kho dự trữ. Mặc dù tổng nhu cầu cả năm thấp hơn ngưỡng 1.000 tấn ghi nhận trong ba năm trước đó, hoạt động mua vàng của khối ngân hàng trung ương vẫn là yếu tố quan trọng, đóng góp đáng kể vào bức tranh tổng thể về nhu cầu vàng toàn cầu.

Nhu cầu đầu tư vàng toàn cầu đạt mức cao kỷ lục 2.175 tấn, trở thành động lực chính cho một năm tăng trưởng đầy ấn tượng, với hàng loạt kỷ lục được thiết lập của vàng. Trên phạm vi toàn cầu, nhà đầu tư tìm kiếm kênh trú ẩn an toàn và đa dạng hóa danh mục đã đẩy mạnh rót vốn vào các quỹ hoán đổi danh mục (ETF) vàng, với lượng mua ròng đạt 801 tấn trong cả năm.

Bên cạnh dòng vốn vào các quỹ ETF, nhu cầu vàng vật chất, chủ yếu là vàng miếng và vàng xu, cũng tăng mạnh, với tổng nhu cầu toàn cầu đạt 1.374 tấn, tương đương 154 tỷ USD. Hai thị trường lớn là Trung Quốc (tăng 28% so với cùng kỳ) và Ấn Độ (tăng 17% so với cùng kỳ) ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể, chiếm hơn 50% tổng nhu cầu của phân khúc này.

Hoạt động mua vàng miếng và vàng xu tại hầu hết các thị trường ASEAN tăng lên mức cao nhất trong nhiều năm. Thái Lan ghi nhận mức đầu tư vàng cao nhất kể từ năm 2018, với giá trị đầu tư đạt mức cao nhất trong 12 năm qua, lên tới 6 tỷ USD. Indonesia cũng duy trì hoạt động đầu tư vàng cao ổn định trong nhiều quý gần đây.

Tổng nguồn cung vàng cũng đạt mức cao kỷ lục, chủ yếu nhờ sản lượng vàng khai thác tăng lên 3.672 tấn, trong khi nguồn cung từ vàng tái chế chỉ tăng nhẹ 3% và vẫn ở mức thấp dù giá vàng ở mức cao.

Nhu cầu vàng giảm sáu quý liên tiếp, Việt Nam trở thành ngoại lệ

Báo cáo từ WGC cũng nêu rõ, Việt Nam là trường hợp ngoại lệ đáng chú ý trong khu vực ASEAN. Nhu cầu đầu tư vàng giảm 15% so với cùng kỳ năm trước, từ 8,2 tấn trong quý IV/2024 xuống còn 7 tấn trong quý IV/2025. Đây là quý thứ sáu liên tiếp ghi nhận mức suy giảm so với cùng kỳ và là mức thấp của quý IV kể từ năm 2021.

Hạn chế về nguồn cung là một phần nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm này. Theo các nguồn tin trong ngành, tình trạng khan hiếm vàng miếng SJC đã gây áp lực lên thị trường, đồng thời đẩy mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá quốc tế lên trên 550 USD/ounce. Trong bối cảnh các lựa chọn đầu tư vàng bị thu hẹp, nhu cầu đối với vàng nhẫn 24K, một hình thức đầu tư thay thế đã gia tăng.

“Với tình hình bất ổn kinh tế và địa chính trị không có dấu hiệu hạ nhiệt trong năm 2026, đà tăng trưởng mạnh mẽ của nhu cầu vàng nhiều khả năng sẽ tiếp diễn. Ngay trong tháng đầu tiên của năm, giá vàng đã lần đầu tiên vượt mốc 5.000 USD/ounce, qua đó khẳng định vai trò của vàng như một tài sản trú ẩn an toàn trong bối cảnh nhiều bất định".

Bà Louise Street - Chuyên gia nghiên cứu thị trường cấp cao tại WGC.

Trong bối cảnh giá vàng liên tục lập đỉnh, nhu cầu về vàng trang sức trên toàn cầu suy yếu như dự báo trong suốt năm, giảm 18% so với năm 2024. Tuy nhiên, tổng giá trị nhu cầu vàng trang sức lại tăng 18% so với cùng kỳ, lên 172 tỷ USD, qua đó, cho thấy phân khúc này vẫn thu hút người tiêu dùng.

Dữ liệu về nhu cầu vàng trang sức tại các nước ASEAN cho thấy diễn biến tương đồng trước mặt bằng giá vàng ở mức kỷ lục. Nhu cầu vàng trang sức tại Việt Nam giảm 29% so với cùng kỳ năm trước, từ 3,3 tấn trong quý IV/2024 xuống còn 2,4 tấn trong quý IV/2025. Nhu cầu giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều năm, trong khi giá trị tiêu thụ ghi nhận mức tăng đáng kể.

Theo bà Louise Street - Chuyên gia nghiên cứu thị trường cấp cao tại Hội đồng Vàng Thế giới, năm 2025 ghi nhận nhu cầu vàng tăng vọt cùng với đà leo thang của giá vàng. Người tiêu dùng và nhà đầu tư đều gia tăng mua và nắm giữ vàng trong bối cảnh rủi ro kinh tế và địa chính trị ngày càng trở thành “trạng thái bình thường mới”.

Nhu cầu đầu tư giữ vai trò chủ đạo, khi giới đầu tư đẩy mạnh mua vàng qua nhiều kênh khác nhau, trong khi các phân khúc khác đóng vai trò hỗ trợ. Nhu cầu vàng trang sức chỉ giảm 18% so với năm 2024, bất chấp giá vàng tăng tới 67%, qua đó cho thấy người tiêu dùng vẫn sẵn sàng mua vàng ở mức giá cao. Các ngân hàng trung ương cũng tiếp tục thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc gia tăng dự trữ vàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng, đưa vàng miếng lên 144,4 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn cao nhất đạt 144,7 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

(TBTCO) - Mở cửa phiên giao dịch ngày 12/8, giá vàng trong nước đồng loạt tăng ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Tuy nhiên, mức giá tăng không lớn, phổ biến từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp đà tăng, thêm gần 48 USD/ounce so với sáng hôm qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước bật tăng trở lại, đặc biệt giá vàng nhẫn ở Bảo Tín Mạnh Hải ghi nhận mức tăng 900.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá vàng nhẫn lên 141,9 - 145,9 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18840
CAD 18323 18599 19213
CHF 31605 31985 32633
CNY 0 3830 3940
EUR 29682 29904 30983
GBP 34626 35018 35953
HKD 0 3207 3409
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15055 15640
SGD 19943 20225 20802
THB 706 769 822
USD (1,2) 25909 0 0
USD (5,10,20) 25949 0 0
USD (50,100) 25978 25992 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,697 29,721 31,128
JPY 159.62 159.91 169.59
GBP 34,773 34,867 36,072
AUD 18,173 18,239 18,934
CAD 18,475 18,534 19,216
CHF 31,813 31,912 32,857
SGD 20,047 20,109 20,895
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,270 3,280 3,417
KRW 17.14 17.87 19.45
THB 752.98 762.28 816.11
NZD 15,010 15,149 15,597
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,794.22
TWD 739.72 - 895.55
SAR - 6,853.64 7,218.66
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26010 26010 26370
AUD 18177 18277 19202
CAD 18490 18590 19602
CHF 31846 31876 33458
CNY 3823.4 3848.4 3983.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29865 29895 31620
GBP 34927 34977 36732
HKD 0 3330 0
JPY 160.7 161.2 171.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15168 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20105 20235 20958
THB 0 735 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 13970000 13970000 14270000
SBJ 12500000 12500000 14270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80