Giá vàng lập mặt bằng mới nhưng bài toán hiệu quả đầu tư vẫn cần nhìn dài hạn

Thu Hương
(TBTCO) - Giá vàng tăng mạnh và lập mặt bằng mới, song giới chuyên gia cho rằng cần đánh giá hiệu quả theo chu kỳ dài hạn, đồng thời theo dõi các điều chỉnh về cơ chế quản lý thị trường.
aa
Giá vàng hôm nay ngày 27/1: Giá vàng miếng và vàng nhẫn lập đỉnh mới

Vàng trong chu kỳ đầu tư dài hạn

Tại sự kiện Investor Day với chủ đề “Đầu tư bền bỉ, tăng trưởng vươn xa”, ông Lê Anh Tuấn -Tổng Giám đốc Dragon Capital Việt Nam đã chia sẻ quan điểm về vàng trong bối cảnh giá kim loại quý liên tục lập các mốc cao mới. Theo ông Tuấn, cách nhìn nhận của ông đối với vàng nhìn chung không thay đổi so với những phát biểu trước đây, khi ông từng cho rằng đây không phải là kênh đầu tư được ưu tiên.

Việc duy trì quan điểm này, theo ông, không phải do chủ quan trước diễn biến thị trường, mà dựa trên nguyên tắc đầu tư nhất quán là sẵn sàng điều chỉnh nhận định khi dữ liệu và thực tế cho thấy đánh giá trước đó không còn phù hợp.

Giá vàng lập mặt bằng mới nhưng bài toán hiệu quả đầu tư vẫn cần nhìn dài hạn
Diễn biến giá vàng trong 2 phiên gần nhất. Nguồn: PV tổng hợp.

Nhìn lại diễn biến giá vàng trong một chu kỳ đủ dài cho thấy xu hướng biến động không đồng nhất, gắn với từng giai đoạn của bối cảnh kinh tế - tài chính trong và ngoài nước. Giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu, giá vàng trong nước duy trì ở mặt bằng thấp. Khi khủng hoảng tài chính bùng phát, giá vàng tăng mạnh cùng với làn sóng tìm kiếm tài sản trú ẩn an toàn. Tuy nhiên, sau giai đoạn tăng nóng, thị trường vàng bước vào thời kỳ điều chỉnh và đi ngang kéo dài trong nhiều năm, phản ánh sự ổn định tương đối của kinh tế vĩ mô toàn cầu.

Theo chuyên gia từ Dragon Capital, sau giai đoạn dịch Covid-19, giá vàng tăng trở lại và gần đây tiếp tục đi lên, thiết lập mặt bằng mới trong bối cảnh bất định kinh tế và căng thẳng địa chính trị. Diễn biến này cho thấy vàng phản ứng mạnh trước các cú sốc vĩ mô, nhưng hiệu quả đầu tư khác nhau rõ rệt giữa các giai đoạn nếu xét theo chu kỳ dài hạn.

Từ diễn biến này, chuyên gia từ Dragon Capital cho rằng, cần đặt giá vàng trong mối tương quan với hiệu suất đầu tư dài hạn. Nếu tính theo tiền đồng từ năm 2008 đến nay, vàng mang lại mức tăng trưởng bình quân khoảng 11% mỗi năm, ngay cả khi đã bao gồm giai đoạn tăng rất mạnh trong thời gian gần đây.

Trong khi đó, với cùng khoảng thời gian, nếu đầu tư vào thị trường chứng khoán, chỉ tính theo chỉ số thị trường, mức sinh lời có thể đạt khoảng 16 - 17% mỗi năm, chưa kể hiệu quả cao hơn nếu đầu tư thông qua các quỹ hoặc chiến lược quản lý chuyên nghiệp. So sánh này cho thấy, dù vàng nổi bật trong một đến hai năm gần đây, xét trên chu kỳ dài, chứng khoán vẫn thể hiện lợi thế rõ rệt hơn về hiệu suất.

Từ góc độ cá nhân, ông Tuấn chia sẻ rằng, trước đây ông nhìn vàng nhiều hơn như một tài sản tích trữ mang tính thói quen, mua để cất giữ trong nhà hơn là một kênh đầu tư tạo dòng tiền. Việc nắm giữ vàng không mang lại lãi suất, trong khi lưu trữ số lượng lớn cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Vì vậy, trong chiến lược phân bổ tài sản, theo ông Tuấn, vàng không giữ vai trò là kênh đầu tư chủ đạo, song vẫn được duy trì ở một tỷ trọng nhất định với mục đích dự phòng.

Tuy nhiên, cũng theo chuyên gia từ Dragon Capital, trong bối cảnh mới, quan điểm này có thể cần được điều chỉnh ở mức độ phù hợp. Nếu thị trường vàng trong thời gian tới được phát triển theo hướng minh bạch hơn, có thanh khoản tốt hơn, đồng thời được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước hỗ trợ thông qua các cơ chế giao dịch hiện đại hoặc sản phẩm mới, thì vàng có thể trở thành một kênh đáng để theo dõi. Khi đó, việc đưa vàng vào danh mục tài sản với một tỷ trọng hợp lý có thể là lựa chọn nhằm đa dạng hóa và cân bằng rủi ro, thay vì thay thế các kênh đầu tư chủ đạo.

Cơ chế quản lý thị trường vàng

Cùng với câu chuyện hiệu quả đầu tư, biến động giá vàng thời gian qua khiến vấn đề điều hành và khung pháp lý trở thành điểm được quan tâm. Trước tình trạng giá vàng miếng và vàng nhẫn liên tục lập đỉnh theo xu hướng giá vàng thế giới, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri TP. Hà Nội về nguyên nhân tăng giá vàng và các giải pháp ổn định thị trường.

Giá vàng lập mặt bằng mới nhưng bài toán hiệu quả đầu tư vẫn cần nhìn dài hạn
Ảnh minh hoạ.

Theo Thống đốc Nguyễn Thị Hồng, từ tháng 4/2025 đến nay, giá vàng thế giới biến động mạnh, chủ yếu theo xu hướng tăng do căng thẳng địa chính trị và xung đột vũ trang tại nhiều khu vực, trong đó có Nga - Ukraine và Trung Đông. Diễn biến này đã kéo theo giá vàng miếng SJC trong nước tăng cao theo đà tăng của giá vàng thế giới.

Bên cạnh đó, nhiều thời điểm giá vàng trong nước tăng mạnh hơn giá vàng thế giới do chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố. Giá vàng thế giới liên tục tăng khiến người nắm giữ vàng hạn chế bán ra, trong khi các kênh đầu tư khác trong nước kém hấp dẫn như thị trường trái phiếu doanh nghiệp trầm lắng, bất động sản giá cao, mặt bằng lãi suất huy động thấp đã làm gia tăng tâm lý đầu cơ và tích trữ vàng. Việt Nam không phải là quốc gia sản xuất vàng, nguồn cung chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu, trong khi nguồn cung vàng miếng do Ngân hàng Nhà nước nhập khẩu bị hạn chế nhằm ưu tiên ngoại tệ cho các nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, để bình ổn thị trường vàng, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các bộ, ngành và địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, tập trung xử lý tình trạng chênh lệch cao giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế. Đáng chú ý, nhằm phù hợp với bối cảnh mới của thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, có hiệu lực từ ngày 10/10/2025.

Nghị định số 232/2025/NĐ-CP bám sát các chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong đó có định hướng xóa bỏ cơ chế độc quyền Nhà nước một cách có kiểm soát, trên nguyên tắc Nhà nước vẫn giữ vai trò quản lý hoạt động sản xuất vàng miếng. Việc mở rộng đối tượng được sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu vàng miếng và nhập khẩu vàng nguyên liệu được kỳ vọng sẽ giúp nguồn cung vàng trên thị trường đa dạng hơn, tăng tính cạnh tranh và minh bạch, qua đó góp phần thu hẹp chênh lệch giữa giá vàng trong nước với giá vàng thế giới.

Song song với đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 34/2025/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện các quy định mới, đồng thời trình Thủ tướng Chính phủ phương án nghiên cứu, đề xuất thành lập Sở hoặc Sàn giao dịch vàng tại Việt Nam. Đây được xem là bước đi nhằm hướng tới xây dựng một thị trường vàng vận hành theo cơ chế hiện đại, minh bạch và tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế./.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 16/8: Giá vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng, đưa vàng miếng lên 144,4 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn cao nhất đạt 144,7 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 12/8: Giá vàng miếng và nhẫn tăng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng

(TBTCO) - Mở cửa phiên giao dịch ngày 12/8, giá vàng trong nước đồng loạt tăng ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn. Tuy nhiên, mức giá tăng không lớn, phổ biến từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

Giá vàng hôm nay ngày 11/8: Trong nước bật tăng, vàng nhẫn Bảo Tín Mạnh Hải tăng 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp đà tăng, thêm gần 48 USD/ounce so với sáng hôm qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước bật tăng trở lại, đặc biệt giá vàng nhẫn ở Bảo Tín Mạnh Hải ghi nhận mức tăng 900.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và 4,9 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá vàng nhẫn lên 141,9 - 145,9 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 10/8: Vàng thế giới tăng gần 300 USD trong một tuần, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 10/8: Vàng thế giới tăng gần 300 USD trong một tuần, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Sau nhịp tăng gần 300 USD/ounce chỉ trong một tuần, giá vàng thế giới giữ vững vùng trên 4.300 USD/ounce, song có thể xuất hiện những phiên rung lắc. Mở cửa sáng nay (10/8), giá vàng trong nước giảm nhẹ, khoảng 500.000 đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 ▼1600K 142,600 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 13,970 ▼160K 14,270 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▼160K 14,320 ▼160K
NL 99.99 13,400 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼100K
Trang sức 99.9 13,630 ▼160K 14,230 ▼160K
Trang sức 99.99 13,640 ▼160K 14,240 ▼160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 ▼16K 14,272 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 ▼16K 14,273 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 ▼16K 1,422 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 ▼16K 1,423 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 ▼16K 1,407 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▼1584K 139,307 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▼1200K 105,686 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▼1088K 95,836 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▼976K 85,986 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▼933K 82,186 ▼933K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▼667K 58,828 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 ▼16K 1,427 ▼16K
Cập nhật: 19/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17992 18266 18840
CAD 18323 18599 19213
CHF 31605 31985 32633
CNY 0 3830 3940
EUR 29682 29904 30983
GBP 34626 35018 35953
HKD 0 3207 3409
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15055 15640
SGD 19943 20225 20802
THB 706 769 822
USD (1,2) 25909 0 0
USD (5,10,20) 25949 0 0
USD (50,100) 25978 25992 26358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,697 29,721 31,128
JPY 159.62 159.91 169.59
GBP 34,773 34,867 36,072
AUD 18,173 18,239 18,934
CAD 18,475 18,534 19,216
CHF 31,813 31,912 32,857
SGD 20,047 20,109 20,895
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,270 3,280 3,417
KRW 17.14 17.87 19.45
THB 752.98 762.28 816.11
NZD 15,010 15,149 15,597
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,733 2,830
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,794.22
TWD 739.72 - 895.55
SAR - 6,853.64 7,218.66
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18170 18270 19192
CAD 18500 18600 19611
CHF 31832 31862 33448
CNY 3821.1 3846.1 3981.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29854 29884 31612
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.69 161.19 171.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15159 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20101 20231 20955
THB 0 734.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,000 26,050 26,380
USD20 25,950 26,050 26,827
USD1 25,900 26,050 26,877
AUD 18,213 18,313 19,427
EUR 29,642 29,742 31,414
CAD 18,421 18,521 19,838
SGD 20,165 20,315 20,879
JPY 161.07 162.57 168.22
GBP 34,800 34,950 36,031
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80