* PV: Xung đột Iran với Mỹ - Israel đang làm gia tăng rủi ro địa chính trị tại Trung Đông - khu vực có vai trò quan trọng trong thương mại toàn cầu. Ông đánh giá mức độ ảnh hưởng của căng thẳng này tới hoạt động thương mại quốc tế hiện nay ra sao?

TS. Nguyễn Sơn: Để hiểu đúng tác động thương mại, cần nhìn nhận đây là cuộc chiến trực tiếp giữa Mỹ - Israel và Iran, với việc Iran hứng chịu tấn công phủ đầu từ Mỹ - Israel, và Iran phản công mạnh mẽ vào hệ thống quân sự của Mỹ và đồng minh, ảnh hưởng tới hạ tầng và vận tải năng lượng của các quốc gia vùng Vịnh.

Cuộc chiến này tác động lên các tuyến thương mại và năng lượng toàn cầu. Hai huyết mạch thương mại bị ảnh hưởng theo cơ chế khác nhau nhưng cùng gây hệ quả nghiêm trọng. Eo biển Hormuz, nơi khoảng 20% dầu thô và phần lớn khí LNG toàn cầu đi qua, đang trong tình trạng đóng cửa thực tế khi các hãng tàu, công ty bảo hiểm và nhà khai thác dầu khí đồng loạt rút lui. Hệ quả trực tiếp giá dầu tăng, vàng vượt 5.300 USD/ounce, giá LNG tăng mạnh. Với một nền kinh tế có độ mở như Việt Nam, tác động từ rủi ro này là không tránh khỏi.

Theo TS. Nguyễn Sơn, cuộc xung đột hiện nay giữa Iran với Mỹ - Israel cũng đẩy nhanh việc tái cấu trúc trật tự thương mại. Khi dầu vùng Vịnh gián đoạn, Trung Quốc, Ấn Độ và châu Á có thêm lý do để đa dạng hóa đầu vào, vừa chiết khấu, vừa đến từ tuyến không qua Hormuz hay Biển Đỏ. Mỗi cú sốc địa chính trị do Mỹ khởi phát lại thúc đẩy thêm một bước tiến trình phi đô la hóa và hình thành trật tự thương mại đa cực mà BRICS+, ASEAN+3 và SCO đang xây dựng, một nghịch lý mà chính sách của Washington có thể đang đánh giá thấp tầm quan trọng.

Kuwait, quốc gia phụ thuộc 90-95% vào xuất khẩu dầu, không có hạ tầng vận tải đường ống thay thế như Saudi Arabia, do đó khi tuyến xuất khẩu duy nhất qua Hormuz đã bị nghẽn, đồng nghĩa dầu Kuwait rất khó ra thị trường.

Trên tuyến Á-Âu, lực lượng Houthi tuyên bố nối lại các cuộc tấn công trên Biển Đỏ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kế hoạch quay lại tuyến Suez trong năm 2026. Toàn bộ container hàng hóa từ châu Á sang châu Âu sẽ có khả năng cao tiếp tục phải vòng qua mũi Hảo Vọng, kéo dài hành trình 10-14 ngày và đẩy phụ phí lên tới 2.000-4.000 USD/container.

* PV: Ngoài những rủi ro liên quan đến chi phí vận tải, logistics liên quan tới tuyến hàng hải quan trọng kết nối Á- Âu do cuộc chiến này gây ra, năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam chịu tác động thế nào, thưa ông?

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông
Việt Nam không bị mất lợi thế cạnh tranh ngành dệt may trên thị trường châu Âu so với các đối thủ cạnh tranh khác. Ảnh minh họa

TS. Nguyễn Sơn: Về tác động tới năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam, tôi không cho rằng, Việt Nam bị mất lợi thế. Ví dụ trong ngành dệt may, các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam như Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka trong ngành dệt may cũng chịu tác động tương tự, không có lợi thế địa lý đặc biệt hơn. Do đó, xét về tương quan chi phí vận tải, Việt Nam không bị mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường châu Âu.

Quan trọng hơn, trong môi trường bất ổn địa chính trị kéo dài, các nhà mua hàng quốc tế đang ngày càng ưu tiên sự ổn định và đáng tin cậy hơn giá thấp nhất tuyệt đối, đây là xu hướng có lợi cho Việt Nam. Với nền tảng chính trị ổn định, vị trí địa lý an toàn, mạng lưới 20 FTA có hiệu lực và quan hệ cân bằng với nhiều cực quyền lực, Việt Nam đang sở hữu lợi thế cạnh tranh phi giá ngày càng có giá trị.

Tuy nhiên, lợi thế này chỉ được hiện thực hóa nếu doanh nghiệp Việt Nam chủ động củng cố năng lực giao hàng đúng hạn, chất lượng ổn định, và thông tin chuỗi cung ứng minh bạch, những yếu tố mà người mua quốc tế đang coi trọng hơn bao giờ hết trong bối cảnh rủi ro toàn cầu gia tăng.

* PV: Theo ông, trong bối cảnh rủi ro địa chính trị ngày càng thường xuyên, doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi chiến lược thương mại và quản trị chuỗi cung ứng như thế nào để tăng khả năng chống chịu?

TS. Nguyễn Sơn: Chúng ta cần thừa nhận một sự thật chiến lược là thị trường thế giới đã thay đổi cấu trúc.

Chuỗi sự kiện từ Covid-19, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, thuế quan IEEPA, đến cuộc chiến Iran diễn ra chỉ trong vài năm gần đây cho thấy đây không phải chu kỳ bất ổn tạm thời mà là sự phá vỡ có tính cấu trúc của trật tự thương mại.

Mô hình chuỗi cung ứng “just-in-time” (sản xuất đúng thời điểm) tối ưu hóa chi phí đã bộc lộ nhược điểm chết người về tính bền vững và khả năng phục hồi. Chiến lược của doanh nghiệp Việt Nam phải được xây dựng trên giả định rằng rủi ro địa chính trị là điều kiện thường trực, không phải ngoại lệ cần đối phó nhất thời.

Ở cấp độ doanh nghiệp lớn cần xây dựng khả năng chống chịu hệ thống, với ba trụ cột cần triển khai đồng thời.

Thứ nhất, cân bằng lại phương trình hiệu quả với khả năng chống chịu: chấp nhận chi phí tồn kho cao hơn để đổi lấy bộ đệm nguyên vật liệu dài hơn cho các đầu vào chiến lược.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn cung về mặt địa lý cần phải được thực hiện mọi nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng cao trên tổng chi phí (duy trì ít nhất hai nhà cung cấp từ hai khu vực địa lý khác nhau).

Thứ ba, phòng hộ tài chính, ví dụ hợp đồng kỳ hạn tỷ giá USD/VND, phòng hộ giá nhiên liệu với nhà phân phối (fuel price hedging contract). Đây không còn là chi phí tùy chọn mà là chi phí quản lý rủi ro bắt buộc trong môi trường địa chính trị như hiện tại.

Tăng “sức đề kháng” chuỗi cung ứng trước biến động địa chính trị Trung Đông
TS. Nguyễn Sơn - Giảng viên ngành quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam

Ở cấp độ các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), giải pháp liên kết và số hóa cần được ưu tiên. SME là nhóm dễ tổn thương và gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai các biện pháp như các công ty lớn (ví dụ: không có bộ phận pháp lý mạnh, không đủ vốn tăng tồn kho đệm).

Giải pháp phải là tập thể hóa và có hỗ trợ hệ thống. Ví dụ các cụm SME cùng ngành có thể hình thành các tập thể hay liên minh mua hàng chung (purchasing consortium) và dựa vào các hiệp hội lớn hơn để đàm phán khối lượng với các bên cung cấp đầu vào (ví dụ như hãng tàu và nhà cung cấp nguyên liệu), mô hình đã thành công tại các quốc gia như Đài Loan và Hàn Quốc.

Tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các hiệp hội ngành cần chuyển từ vận động chính sách sang cung cấp dịch vụ thực tiễn cho thành viên: cảnh báo sớm về cước vận tải và rủi ro địa chính trị, thư viện mẫu hợp đồng chuẩn với thông tin hướng dẫn điều khoản force majeure và freight adjustment, kết nối nhà cung cấp thay thế khi chuỗi gián đoạn....

Song song đó, các SME cần đầu tư và tận dụng nền tảng thương mại điện tử xuyên biên giới và tận dụng cơ hội tại các thị trường ổn định trên thế giới là bước đi cần phải làm để đa dạng hóa thị trường.

* PV: Vậy ở cấp độ quốc gia thì sao, thưa ông? Cần có những điều chỉnh chính sách nào?

TS. Nguyễn Sơn: Ở cấp độ quốc gia, theo tôi, cần tận dụng chính sách “ngoại giao cây tre” và tiếp tục xây dựng khả năng tự lực. Có thể thấy, vị thế trung lập cân bằng của Việt Nam, duy trì quan hệ tốt với cả Mỹ, Nga, Trung Quốc, EU và ASEAN là tài sản chiến lược hiếm có mà rất ít quốc gia có được trong thời điểm này.

Điều cần làm là chuyển hóa lợi thế ngoại giao thành thỏa thuận kinh tế cụ thể, ví dụ tiếp cận năng lượng từ Nga, FTA mở rộng với EU đang tìm đối tác thay thế Mỹ, và tăng cường hiện diện tại các diễn đàn đa phương như BRICS+, nơi mà Việt Nam có quan hệ đối tác chặt với nhiều thành viên.

Singapore là mô hình đáng tham chiếu: một quốc gia nhỏ nhưng biết định vị mình như nút kết nối không thể thiếu trong mọi trật tự thương mại. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chuyển tư duy chiến lược từ tối ưu hóa chi phí trong chuỗi cung ứng toàn cầu sang xây dựng chuỗi cung ứng bền vững và có khả năng phục hồi, cộng với năng lực công nghệ cốt lõi trong các lĩnh vực chiến lược, hóa chất cơ bản, vật liệu bán dẫn, phân bón và năng lượng tái tạo, để tham gia toàn cầu hóa từ vị thế chủ động.

Về chiến lược an ninh năng lượng, cần tăng mức dự trữ dầu thô. Mức dự trữ dầu thô chiến lược hiện chỉ 20-25 ngày của Việt Nam là “vùng nguy hiểm” trong bối cảnh xung đột hiện tại. Mức dự trữ dầu thô chiến lược thực tế của Việt Nam chỉ khoảng 20-25 ngày. Nếu gián đoạn nguồn cung tại Kuwait (quốc gia cung cấp tới 85% lượng dầu thô nhập khẩu cho 2 nhà máy lọc dầu Nghi Sơn và Long Sơn của Việt Nam) kéo dài hơn mốc này, Nghi Sơn và Long Sơn (đang mở rộng) có thể đối mặt với khó khăn nguyên liệu tạm thời.

Do đó, kế hoạch mở rộng mức dự trữ dầu thô chiến lược lên 75-80 ngày đến 2030 của Việt Nam cần được đẩy nhanh thành ưu tiên cấp bách.

* PV: Xin cảm ơn ông!

Cơ hội đàm phán lại với EU

"Châu Âu đang đồng thời đối mặt với khủng hoảng năng lượng và quan hệ EU - Mỹ suy giảm. Trong bối cảnh đó, EU đang tích cực tìm kiếm các đối tác thương mại ổn định. Doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động đề xuất điều chỉnh hợp đồng: bổ sung điều khoản phụ phí vận tải linh hoạt, chia sẻ gánh nặng chi phí tăng thêm một cách minh bạch, và tận dụng khuôn khổ EVFTA để đàm phán ưu đãi dài hạn đổi lấy cam kết cung ứng ổn định" - TS. Nguyễn Sơn khuyến nghị.