VietABank sắp tăng vốn đợt 2, nâng vốn điều lệ vượt 11.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa công bố kế hoạch tăng vốn điều lệ đợt 2 năm 2025, nâng vốn thêm 3.131 tỷ đồng. Đợt tăng vốn lớn này được xem là đòn bẩy chiến lược để ngân hàng củng cố hệ số an toàn vốn, đầu tư công nghệ và mở rộng quy mô hoạt động, tiếp nối đà tăng trưởng tích cực nửa đầu năm.
aa
VietABank chốt quyền phát hành cổ phiếu thưởng, tăng vốn hơn 51% Ngân hàng trước “cuộc đua” nâng chuẩn an toàn vốn "Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng

Ngân hàng TMCP Việt Á (VietABank - mã Ck: VAB) vừa thông tin về việc sẽ tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ đợt 2 trong năm 2025 với tỷ lệ 38,36% tương đương 3.131,7 tỷ đồng, nâng vốn điều lệ lên tới 11.296 tỷ đồng.

Trước đó, ngày 15/8, VietABank đã chốt danh sách cổ đông để phát hành hơn 276,4 triệu cổ phiếu thưởng theo tỷ lệ 100:51,19, tức cổ đông nắm giữ 100 cổ phiếu sẽ nhận thêm 51,19 cổ phiếu mới, dự kiến ngày thực hiện là 15/11/2025. Sau đợt phát hành, vốn điều lệ của ngân hàng dự kiến tăng từ gần 5.400 tỷ đồng lên 8.164 tỷ đồng.

Theo kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua từ đầu năm, VietABank sẽ nâng vốn điều lệ tổng cộng 6.182 tỷ đồng, tương đương mức tăng 114,5% thông qua ba hình thức, đưa vốn điều lệ lên 11.582 tỷ đồng, đánh dấu đợt tăng vốn lớn nhất trong lịch sử ngân hàng.

VietABank sắp tăng vốn đợt 2, nâng vốn điều lệ vượt 11.000 tỷ đồng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Động thái này diễn ra ngay sau khi ngân hàng công bố kết quả kinh doanh khả quan nửa đầu năm 2025, đây được được xem là bệ phóng quan trọng để củng cố nền tảng vốn và mở rộng quy mô hoạt động.

Sau thành công của đợt tăng vốn đầu tiên, VietABank đang khẩn trương hoàn thiện thủ tục để thực hiện đợt tăng vốn điều lệ đợt 2. Việc tăng vốn nhằm nâng cao năng lực tài chính, cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR), đồng thời gia tăng nguồn lực để đầu tư phát triển ngân hàng số, mở rộng hoạt động kinh doanh và tăng cường khả năng cạnh tranh.

Nguồn vốn bổ sung sẽ được phân bổ cho các dự án trọng điểm như: đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ số, mở rộng mạng lưới chi nhánh tại các địa bàn chiến lược, đồng thời tăng cường cho vay ở các lĩnh vực ưu tiên theo định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Ông Nguyễn Văn Trọng - Tổng Giám đốc VietABank nhấn mạnh: “Việc tăng vốn thông qua chào bán cho cổ đông hiện hữu không chỉ là hoạt động tài chính, mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc củng cố nền tảng vốn, mở rộng quy mô hoạt động, đồng thời khẳng định cam kết đồng hành cùng cổ đông, khách hàng và người lao động".

Theo báo cáo tài chính hợp nhất soát xét bán niên đã công bố, trong 6 tháng đầu năm 2025, VietABank ghi nhận lợi nhuận trước thuế hơn 714 tỷ đồng, hoàn thành 55% kế hoạch năm và tăng 27% so với cùng kỳ 2024.

Tính đến ngày 30/6, tổng tài sản của ngân hàng đạt 133.952 tỷ đồng, tăng 14.120 tỷ đồng so với đầu năm.

Dư nợ cho vay đạt 87.422 tỷ đồng, tăng trưởng hơn 9.39%, tiền gửi của khách hàng đạt 95.784 tỷ đồng, tăng 5.495 tỷ đồng so với cuối năm 2024.

Đặc biệt, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng 29% so với cuối năm 2024, góp phần giảm chi phí vốn và cải thiện biên lợi nhuận. Ngoài ra, các chỉ số sinh lời và tỷ lệ nợ xấu cũng được kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ quy định quản trị rủi ro và đảm bảo chất lượng tài sản.

Cùng với đó, VietABank tiếp tục mở rộng tệp khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số với dự án ngân hàng số Omni-Channel hệ sinh thái tích hợp đa kênh dự kiến sẽ ra mắt trong quý IV/2025, nhằm nâng cao trải nghiệm và gia tăng kết nối với khách hàng.

Kết quả kinh doanh khả quan trong 6 tháng đầu năm tạo nền tảng vững chắc để VietABank triển khai kế hoạch tăng vốn đợt 2. Việc gia tăng vốn chủ sở hữu không chỉ giúp ngân hàng củng cố hệ số an toàn vốn, mà còn tạo thêm dư địa để mở rộng tín dụng, đầu tư công nghệ và cải thiện năng lực cạnh tranh.

Trong bối cảnh hệ thống ngân hàng ngày càng đặt ra yêu cầu cao về vốn tự có, quản trị rủi ro và số hóa, việc VietABank chủ động nâng vốn điều lệ cho thấy sự chủ động trong việc tăng cường nội lực, nắm bắt cơ hội tăng trưởng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30