Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Vượt chỉ tiêu năm 2025, sẵn sàng cho nhiệm vụ 2026

Mai Lâm
(TBTCO) - Chiều ngày 19/12, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.
aa

Hoàn thành vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao

Tại sự kiện, Giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam Lê Hùng Sơn cho biết, trong năm 2025, bám sát sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, với tinh thần đoàn kết, chủ động, trách nhiệm, tâm huyết, BHXH Việt Nam đã chủ động nhận diện những khó khăn, vướng mắc, đề ra các phương hướng, kế hoạch hành động kịp thời, với các giải pháp sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả để hoàn thành và hoàn thành vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao năm 2025.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Vượt chỉ tiêu năm 2025, sẵn sàng cho nhiệm vụ 2026
Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu BHXH Việt Nam

Cụ thể, về các chỉ tiêu cơ bản, tính đến hết năm 2025, độ bao phủ BHXH trên cả nước ước đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, số người tham gia BHXH bắt buộc đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 38,6% lực lượng lao động trong độ tuổi; số người tham gia BHXH tự nguyện đạt tỷ lệ bao phủ là 6,5% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp đạt 35,07% lực lượng lao động trong độ tuổi. Độ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 95,16% dân số. Tổng số thu BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) vượt 5,9% so với chỉ tiêu Chính phủ giao, tăng 11,61% so với năm 2024.

Công tác thực hiện giải quyết chế độ, chi trả các chế độ, chính sách BHXH, BHTN đầy đủ, kịp thời, xuyên suốt, đảm bảo quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng trong bối cảnh thực hiện nhiệm vụ theo mô hình tổ chức bộ máy mới và chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động.

Ước năm 2025, toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã giải quyết cho: 186.119 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 1.044.016 người hưởng các chế độ BHXH một lần (người hưởng BHXH một lần, giảm 26,15% so với năm trước); 9.098.537 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thực hiện tiếp nhận 759.198 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và 14.184 quyết định hưởng hỗ trợ học nghề được chi trả. Số lượt khám chữa bệnh BHYT là 195,5 triệu lượt, tăng hơn 6,5% so với năm 2024, với chi phí KCB BHYT đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2024;…

Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, BHXH Việt Nam đã chủ động nắm bắt chủ trương, chuẩn bị các điều kiện cần thiết “từ sớm, từ xa”; tăng cường chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố có các giải pháp linh hoạt trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính để đảm bảo hoạt động thông suốt, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, người tham gia và thụ hưởng chính sách.

Chủ động, sẵn sàng, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn 2026–2030

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, thay mặt lãnh đạo Bộ Tài chính, Thứ trưởng Lê Tấn Cận ghi nhận, biểu dương và chúc mừng những nỗ lực, cố gắng, thành tích toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã đạt được trong năm 2025.

Thứ trưởng nhấn mạnh: “Năm 2025 là năm đầu tiên BHXH Việt Nam hoạt động theo mô hình tổ chức mới. Từ ngày 1/3/2025, BHXH Việt Nam là đơn vị đặc thù thuộc Bộ Tài chính. Có thể nói trong hơn 10 tháng qua, BHXH Việt Nam đã rất nhanh chóng ổn định về tổ chức bộ máy ngay từ những ngày đầu, tháng đầu, bắt nhịp được với cách thức triển khai công việc của Bộ; thường xuyên chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ để báo cáo, tham mưu cho lãnh đạo Bộ Tài chính kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực hiện BHXH, BHYT, BHTN, nhất là những vấn đề phát sinh trong tình hình mới”.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Vượt chỉ tiêu năm 2025, sẵn sàng cho nhiệm vụ 2026
Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Thứ trưởng Lê Tấn Cận đánh giá, năm 2025, BHXH Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả nổi bật với khối lượng công việc lớn. Trong đó, có các kết quả ấn tượng về phát triển người tham gia, công tác thu; giải quyết đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách cho người thụ hưởng - công tác này được thực hiện xuyên suốt, không gián đoạn ngay cả trong giai đoạn sắp xếp, tinh gọn bộ máy, với thủ tục ngày càng cải cách, thuận tiện nhất. Các quỹ BHXH, BHYT, BHTN được quản lý đúng quy định, an toàn, hiệu quả;…

Nhận định năm 2026 là một năm quan trọng, tiền đề, tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao tại kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2026-2030), Thứ trưởng Lê Tấn Cận yêu cầu, BHXH Việt Nam cần tập trung triển khai một số giải pháp trong công tác chỉ đạo, điều hành năm 2026.

Theo đó, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, trọng tâm là các Nghị quyết: Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày năm 2023; Nghị quyết số 72-NQ/TW năm 2025; Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024;… và Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tài chính lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 để xây dựng kế hoạch và triển khai ngay những chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của BHXH Việt Nam từ những ngày đầu, tháng đầu năm 2026 và giai đoạn 2026-2030.

BHXH Việt Nam cần chủ động nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN; từ đó báo cáo, đề xuất Bộ Tài chính tham gia ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN phù hợp với thực tiễn; hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ, quy chế, đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và thực trạng tổ chức bộ máy.

Căn cứ chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH của các địa phương và nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ, Thứ trưởng Lê Tấn Cận yêu cầu BHXH Việt Nam chủ động tham mưu với Bộ Tài chính phối hợp với HĐND, UBND các tỉnh, thành phố để thống nhất lộ trình thực hiện phát triển độ bao phủ BHXH, BHYT, BHTN xác định việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch về BHXH, BHYT, BHTN là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị.

Đồng thời, tăng cường chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN; nhân rộng cách cách làm hay hiệu quả; hỗ trợ các địa phương còn khó khăn.

Bên cạnh đó, có các giải pháp chủ động và sáng tạo ở từng cấp quản lý để thực hiện công tác thu, mở rộng độ bao phủ người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; giảm số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN; tăng cường công tác giám định, kiểm soát rủi ro chi phí khám chữa bệnh BHYT. Tăng cường công tác truyền thông về chính sách, chú trọng các chính sách mới để tạo sự lan tỏa, nâng cao nhận thức của các cá nhân, đơn vị và sự đồng thuận trong thực hiện.

Thứ trưởng Lê Tấn Cận cũng yêu cầu BHXH Việt Nam tiếp tục cải cách hành chính, chuyển đổi số, rà soát, điều chỉnh các phần mềm nghiệp vụ đảm bảo phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của BHXH các tỉnh, thành phố và BHXH cơ sở. Đồng thời, triển khai kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Bộ, ngành và các đơn vị thuộc Bộ Tài chính để ngày càng tinh gọn các thủ tục, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch với cơ quan BHXH…

Tại hội nghị, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Chu Mạnh Sinh thay mặt lãnh đạo BHXH Việt Nam đã phát động Phong trào thi đua yêu nước trong toàn Hệ thống năm 2026 với chủ đề: “Đoàn kết - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển - Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026 vì nền an sinh xã hội bền vững”.
Mai Lâm

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Kim TT/AVPL 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 ▼50K 16,400 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 ▼50K 16,350 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 ▼50K 16,330 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 ▼500K 165,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 ▼50K 16,500 ▼50K
NL 99.90 15,050 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100 ▼50K
Trang sức 99.9 15,690 ▼50K 16,390 ▼50K
Trang sức 99.99 15,700 ▼50K 16,400 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 ▼1463K 16,502 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 ▼1463K 16,503 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 ▼5K 1,648 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 ▼5K 1,649 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▼5K 1,633 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼495K 161,683 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼375K 122,637 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼340K 111,205 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼305K 99,773 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼292K 95,363 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▼208K 68,253 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 ▼1463K 165 ▼1490K
Cập nhật: 13/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80