Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Vượt chỉ tiêu năm 2025, sẵn sàng cho nhiệm vụ 2026

Mai Lâm
(TBTCO) - Chiều ngày 19/12, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026. Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị.
aa

Hoàn thành vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao

Tại sự kiện, Giám đốc Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam Lê Hùng Sơn cho biết, trong năm 2025, bám sát sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, với tinh thần đoàn kết, chủ động, trách nhiệm, tâm huyết, BHXH Việt Nam đã chủ động nhận diện những khó khăn, vướng mắc, đề ra các phương hướng, kế hoạch hành động kịp thời, với các giải pháp sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả để hoàn thành và hoàn thành vượt các chỉ tiêu, nhiệm vụ chính trị được giao năm 2025.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Vượt chỉ tiêu năm 2025, sẵn sàng cho nhiệm vụ 2026
Các đại biểu tham dự hội nghị tại điểm cầu BHXH Việt Nam

Cụ thể, về các chỉ tiêu cơ bản, tính đến hết năm 2025, độ bao phủ BHXH trên cả nước ước đạt 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó, số người tham gia BHXH bắt buộc đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 38,6% lực lượng lao động trong độ tuổi; số người tham gia BHXH tự nguyện đạt tỷ lệ bao phủ là 6,5% lực lượng lao động trong độ tuổi.

Độ bao phủ bảo hiểm thất nghiệp đạt 35,07% lực lượng lao động trong độ tuổi. Độ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 95,16% dân số. Tổng số thu BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) vượt 5,9% so với chỉ tiêu Chính phủ giao, tăng 11,61% so với năm 2024.

Công tác thực hiện giải quyết chế độ, chi trả các chế độ, chính sách BHXH, BHTN đầy đủ, kịp thời, xuyên suốt, đảm bảo quyền lợi của người tham gia và thụ hưởng trong bối cảnh thực hiện nhiệm vụ theo mô hình tổ chức bộ máy mới và chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động.

Ước năm 2025, toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã giải quyết cho: 186.119 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 1.044.016 người hưởng các chế độ BHXH một lần (người hưởng BHXH một lần, giảm 26,15% so với năm trước); 9.098.537 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Thực hiện tiếp nhận 759.198 quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp và 14.184 quyết định hưởng hỗ trợ học nghề được chi trả. Số lượt khám chữa bệnh BHYT là 195,5 triệu lượt, tăng hơn 6,5% so với năm 2024, với chi phí KCB BHYT đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2024;…

Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào hoạt động từ ngày 01/7/2025, BHXH Việt Nam đã chủ động nắm bắt chủ trương, chuẩn bị các điều kiện cần thiết “từ sớm, từ xa”; tăng cường chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố có các giải pháp linh hoạt trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính để đảm bảo hoạt động thông suốt, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, người tham gia và thụ hưởng chính sách.

Chủ động, sẵn sàng, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn 2026–2030

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, thay mặt lãnh đạo Bộ Tài chính, Thứ trưởng Lê Tấn Cận ghi nhận, biểu dương và chúc mừng những nỗ lực, cố gắng, thành tích toàn hệ thống BHXH Việt Nam đã đạt được trong năm 2025.

Thứ trưởng nhấn mạnh: “Năm 2025 là năm đầu tiên BHXH Việt Nam hoạt động theo mô hình tổ chức mới. Từ ngày 1/3/2025, BHXH Việt Nam là đơn vị đặc thù thuộc Bộ Tài chính. Có thể nói trong hơn 10 tháng qua, BHXH Việt Nam đã rất nhanh chóng ổn định về tổ chức bộ máy ngay từ những ngày đầu, tháng đầu, bắt nhịp được với cách thức triển khai công việc của Bộ; thường xuyên chủ động phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ để báo cáo, tham mưu cho lãnh đạo Bộ Tài chính kịp thời tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong thực hiện BHXH, BHYT, BHTN, nhất là những vấn đề phát sinh trong tình hình mới”.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam: Vượt chỉ tiêu năm 2025, sẵn sàng cho nhiệm vụ 2026
Thứ trưởng Bộ Tài chính Lê Tấn Cận phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Thứ trưởng Lê Tấn Cận đánh giá, năm 2025, BHXH Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả nổi bật với khối lượng công việc lớn. Trong đó, có các kết quả ấn tượng về phát triển người tham gia, công tác thu; giải quyết đầy đủ, kịp thời chế độ chính sách cho người thụ hưởng - công tác này được thực hiện xuyên suốt, không gián đoạn ngay cả trong giai đoạn sắp xếp, tinh gọn bộ máy, với thủ tục ngày càng cải cách, thuận tiện nhất. Các quỹ BHXH, BHYT, BHTN được quản lý đúng quy định, an toàn, hiệu quả;…

Nhận định năm 2026 là một năm quan trọng, tiền đề, tạo nền tảng để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao tại kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2026-2030), Thứ trưởng Lê Tấn Cận yêu cầu, BHXH Việt Nam cần tập trung triển khai một số giải pháp trong công tác chỉ đạo, điều hành năm 2026.

Theo đó, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng, trọng tâm là các Nghị quyết: Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày năm 2023; Nghị quyết số 72-NQ/TW năm 2025; Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024;… và Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Bộ Tài chính lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 để xây dựng kế hoạch và triển khai ngay những chỉ tiêu, nhiệm vụ trọng tâm của BHXH Việt Nam từ những ngày đầu, tháng đầu năm 2026 và giai đoạn 2026-2030.

BHXH Việt Nam cần chủ động nắm bắt những khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN; từ đó báo cáo, đề xuất Bộ Tài chính tham gia ý kiến với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN phù hợp với thực tiễn; hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ, quy chế, đảm bảo phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và thực trạng tổ chức bộ máy.

Căn cứ chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH của các địa phương và nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 403/NQ-CP ngày 10/12/2025 của Chính phủ, Thứ trưởng Lê Tấn Cận yêu cầu BHXH Việt Nam chủ động tham mưu với Bộ Tài chính phối hợp với HĐND, UBND các tỉnh, thành phố để thống nhất lộ trình thực hiện phát triển độ bao phủ BHXH, BHYT, BHTN xác định việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch về BHXH, BHYT, BHTN là nhiệm vụ chung của toàn hệ thống chính trị.

Đồng thời, tăng cường chỉ đạo BHXH các tỉnh, thành phố tranh thủ sự chỉ đạo của cấp ủy chính quyền địa phương trong triển khai thực hiện chính sách BHXH, BHYT, BHTN; nhân rộng cách cách làm hay hiệu quả; hỗ trợ các địa phương còn khó khăn.

Bên cạnh đó, có các giải pháp chủ động và sáng tạo ở từng cấp quản lý để thực hiện công tác thu, mở rộng độ bao phủ người tham gia BHXH, BHYT, BHTN; giảm số tiền chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN; tăng cường công tác giám định, kiểm soát rủi ro chi phí khám chữa bệnh BHYT. Tăng cường công tác truyền thông về chính sách, chú trọng các chính sách mới để tạo sự lan tỏa, nâng cao nhận thức của các cá nhân, đơn vị và sự đồng thuận trong thực hiện.

Thứ trưởng Lê Tấn Cận cũng yêu cầu BHXH Việt Nam tiếp tục cải cách hành chính, chuyển đổi số, rà soát, điều chỉnh các phần mềm nghiệp vụ đảm bảo phù hợp với cơ cấu tổ chức mới của BHXH các tỉnh, thành phố và BHXH cơ sở. Đồng thời, triển khai kết nối, chia sẻ dữ liệu với các Bộ, ngành và các đơn vị thuộc Bộ Tài chính để ngày càng tinh gọn các thủ tục, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp trong các giao dịch với cơ quan BHXH…

Tại hội nghị, Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Chu Mạnh Sinh thay mặt lãnh đạo BHXH Việt Nam đã phát động Phong trào thi đua yêu nước trong toàn Hệ thống năm 2026 với chủ đề: “Đoàn kết - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển - Phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026 vì nền an sinh xã hội bền vững”.
Mai Lâm

Đọc thêm

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18472
CAD 18481 18758 19371
CHF 32426 32809 33445
CNY 0 3470 3830
EUR 29731 30003 31034
GBP 34300 34691 35622
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14884 15472
SGD 19939 20221 20737
THB 715 778 832
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17813 17913 18838
CAD 18658 18758 19774
CHF 32700 32730 34317
CNY 3749.5 3774.5 3909.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29931 29961 31686
GBP 34622 34672 36432
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14994 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20105 20235 20959
THB 0 745.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16760000 16760000 17060000
SBJ 15000000 15000000 17060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,355
USD20 26,168 26,218 26,355
USD1 23,845 26,218 26,355
AUD 17,826 17,926 19,043
EUR 30,081 30,081 31,508
CAD 18,611 18,711 20,029
SGD 20,187 20,337 21,307
JPY 162.03 163.53 168.18
GBP 34,530 34,880 36,008
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,660 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80