Bao phủ bảo hiểm y tế là điểm sáng nổi bật trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

Hà My
(TBTCO) - Việc hoàn thành chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế theo Nghị quyết Đại hội XIII không đơn thuần là những con số về số người tham gia, mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.
aa

Mức bao phủ bảo hiểm y tế cao nhất từ trước đến nay

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cùng với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục được xác định là trụ cột quan trọng, xuyên suốt trong quá trình phát triển đất nước. Trong tổng thể đó, chính sách bảo hiểm y tế nổi bật như một điểm sáng tiêu biểu, phản ánh rõ hiệu quả hiện thực hoá chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bền vững, đa tầng, hiện đại, lấy người dân làm trung tâm.

Bao phủ bảo hiểm y tế là điểm sáng nổi bật trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng
Ảnh: minh họa

Đến hết năm 2025, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,2% dân số, vượt 0,16% theo chỉ tiêu được giao tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và hoàn thành sớm 5 năm so với mục tiêu của Nghị quyết số 42-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII (đến năm 2030, trên 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế).

Đây là mức bao phủ bảo hiểm y tế cao nhất từ trước đến nay, được phát triển, duy trì ổn định trên phạm vi cả nước, kể cả tại các địa bàn chịu nhiều tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, điều kiện khăn kinh tế - xã hội còn hạn chế.

Kết quả này không chỉ thể hiện sự phát triển bền vững của chính sách bảo hiểm y tế mà còn cho thấy năng lực tổ chức thực hiện chính sách ngày càng nâng cao, gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu an sinh xã hội với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Năm 2025, toàn quốc có khoảng 195,5 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi phí đề nghị thanh toán khoảng 161.628 tỷ đồng, tăng mạnh so với năm trước. Những con số này phản ánh rõ vai trò trụ cột của bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội, đồng thời cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn cả về phạm vi và chất lượng dịch vụ.

Việc hoàn thành chỉ tiêu bao phủ bảo hiểm y tế theo Nghị quyết Đại hội XIII không đơn thuần là những con số về số người tham gia, mà còn mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc.

Thông qua bảo hiểm y tế, mục tiêu bảo đảm công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân từng bước được hiện thực hóa, góp phần cụ thể hóa quan điểm nhất quán của Đảng về phát triển bao trùm, tiến bộ và không để ai bị bỏ lại phía sau. Thông qua chính sách bảo hiểm y tế, tất cả người dân được bảo đảm quyền tiếp cận dịch vụ y tế, nhất là các dịch vụ kỹ thuật cao, chuyên sâu.

Với cơ chế cộng đồng chia sẻ rủi ro, chính sách bảo hiểm y tế tiếp tục phát huy vai trò là “lá chắn” tài chính cho người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, người mắc bệnh nặng, bệnh hiểm nghèo, bệnh hiếm.

Thực tiễn cho thấy, Quỹ Bảo hiểm y tế đã chi trả cho nhiều trường hợp có chi phí điều trị lớn, sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao như: phẫu thuật tim mạch, ghép tạng, điều trị ung thư, chạy thận nhân tạo…, góp phần giảm gánh nặng tài chính, hạn chế nguy cơ tái nghèo do bệnh tật.

Riêng trong năm 2025, mức chi trả cao nhất cho một trường hợp người bệnh (ở xã Châu Thới, tỉnh Cà Mau) lên tới gần 6,7 tỷ đồng với chẩn đoán chính là thiếu yếu tố VIII di truyền. Nhiều trường hợp trẻ em mắc bệnh phức tạp, chi phí điều trị cao cũng được Quỹ Bảo hiểm y tế bảo đảm chi trả ở mức hàng tỷ đồng. Giá trị nhân văn sâu sắc của chính sách bảo hiểm y tế vì thế ngày càng được khặng định rõ nét trong đời sống xã hội.

Việc hơn 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế, tiệm cận mục tiêu bảo hiểm y tế toàn dân, tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng. Đồng thời phản ánh hiệu quả của quá trình hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trong điều kiện phát triển mới, gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội.

Vai trò nòng cốt của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát của Quốc hội, sự điều hành của Chính phủ và quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, cùng sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm y tế. Trọng tâm là mở rộng diện bao phủ gắn với nâng cao chất lượng phục vụ, hiện đại hóa quản lý và bảo đảm đầy đủ, kịp thời quyền lợi của người tham gia, đúng tinh thần “lấy người dân làm trung tâm”.

Năm 2025, hệ thống dịch vụ công trực tuyến trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được hoàn thiện với 70 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, 100% tích hợp trên Cổng Dịch vụ công Quốc gia; trên 91% tương ứng khoảng 113,57 triệu hồ sơ được tiếp nhận, giải quyết bằng phương thức điện tử.

Việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế điện tử trên các nền tảng VssID, VNeID giúp giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí xã hội, đồng thời tạo thuận lợi cho các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong tiếp nhận và phục vụ người dân.

Song song đó, công tác giám định, thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tiếp tục được tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm minh bạch, chặt chẽ, hài hoà giữa kiểm soát chi phí và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tham gia, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng Quỹ Bảo hiểm y tế.

Mức độ hài lòng của người dân đạt 89,5%, vượt 4,5% so với mục tiêu đến năm 2025 (85%) theo Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, tăng 2,03% so với mức động hài lòng năm 2024. Đây là minh chứng rõ nét cho hiệu quả thực chất của quá trình cải cách, đổi mới phương thức phục vụ.

Có thể khẳng định, kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm y tế theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng là thành tựu mang tính toàn diện, không chỉ thể hiện ở tỷ lệ bao phủ, mà còn ở hiệu quả thụ hưởng, mức độ hài lòng của nhân dân và sự an toàn, bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế.

Quán triệt tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, chính sách bảo hiểm y tế trong giai đoạn tới không chỉ hướng tới mục tiêu “bao phủ rộng”, mà chuyển mạnh sang giai đoạn “phát triển chất lượng cao, bền vững, hiệu quả”, gắn chặt với yêu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới.

Hà My

Đọc thêm

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

Nhiều địa phương chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/6

(TBTCO) - Lịch chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội tháng 6/2026 sẽ được thực hiện theo 2 nhóm thời gian chính, tùy thuộc kế hoạch tổ chức tại từng tỉnh, thành phố. Trong đó, có 21 tỉnh, thành phố sẽ bắt đầu chi trả từ ngày 1/6.
Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

Eximbank dự kiến họp cổ đông bất thường vào cuối tháng 7

(TBTCO) - Eximbank dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường vào ngày 24/7/2026 tại Hà Nội với nội dung bầu bổ sung Thành viên Hội đồng Quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ VIII (2025 - 2030).
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80